Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    217 món ăn bài thuốc phòng trị bệnh gân

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 09h:12' 18-03-2024
    Dung lượng: 11.7 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    V IỂ T CHI - LÂM T R IN H
    (BIÊN SOẠN)

    217
    MON ĂN BÀITHUOC
    PHÒNG TRỊ

    BỆNH GÀN J

    U3 NHẢxu At bản van hoâ thông tin ^

    217 MÓN ĂN BÀI THUỐC
    PHÒNG TRỊ BỆNH GAN

    VIẾT CHI - LÂM TRINH
    Biên soạn

    ẵ l7

    MÓ9ỈMBÀI muốc

    PHÒNG TRỊ BỆNH GAN

    NHÀ XUẤT BẢN VÃN HÓA - THÕNG TIN

    LỜI NÓI ĐẨU

    S

    ức kh o ẻ là vốn q u ý n h ấ t của con người.
    Vậy mà ít ai ngờ rằng, sức khoẻ cũng là thứ người

    ta dễ dàng phung phí nhất, ít coi trọng nhất
    Trong xã hội ngày nay, bệnh gan là m ột trong những
    căn bệnh đáng sợ, cùng với các bệnh nan y khác như
    bệnh tiểu đường, ung thư, tâm th ầ n ... Dù đã có rất nhiều
    các nhà khoa học nghiên cứu, nhưng đến nay y học hiện
    đại vẫn chưa tìm ra được cách nào nhằm khống chế hữu
    hiệu bệnh viêm gan, ung thư gah.
    Tuy nhiên, có một điều mà các bác sĩ đểu thống nhất
    là: bệnh gan có nguyên nhân cơ bản là ăn uống. Do vậy,
    chúng ta có thể phòng tránh căn bệnh nguy hiểm chết
    người này bằng cách giữ vệ sinh ăn uống, có lối sống
    lành m ạnh, sinh hoạt điều độ cùng với biện pháp tiêm
    phòng vacxin...
    Tập hợp và tuyển chọn từ các tư liệu mới nhất trong
    ngoài nước về bệnh gan, chúng tôi tuyển soạn cuốn “217

    món ăn bài thuốc phòng trị bệnh gan" nhằm cung cấp

    cho các bạn những kiến thức cơ bản cũng như các liệu
    pháp ăn uống và các món ăn bài thuốc trị bệnh gan.
    Hy vọng rằng cuốn sách sẽ là trợ thủ đắc lực giúp
    các bạn bảo vệ sức khoẻ m ột cách tốt nhất.

    Nhóm biên soạn

    Chương I

    ẢNH HƯỞNG CỦA GAN VỚI c ơ THE

    CÁC CHỨC NĂNG Cơ BẢN CỦA GAN
    an là cơ q u a n n ộ i tạ n g lớn n h ấ t tro n g
    cơ thể, nặng khoảng 1,2kg, nằm bên phải
    khoang bụng, ỏ vị trí từxương sườn thứ 5 đến xương sườn
    thứ 8. Là đầu mối thiết yếu của quá trình trao đổi chất và
    là cơ quan quan trọng duy trì sinh m ệnh của con người,

    G

    gan có tác dụng to lớn trong việc trao đổi các chất đường,
    mỡ, prôtít, hoócmôn, tích trữvitam in và hoạt hóa vitam in...
    Đ ồng thời, gan còn có chức năng tiế t dịch, bài tiế t vâ^
    chuyển hóa. Có những nhiệm vụ quan trọng trên, nên quá
    trình tiêu hóa và tuần hoàn máu đều không thể thiếu gah
    được.
    Trước hết, gan có khả năng tiế t mật, quá trình này
    không bao giờ gián đoạn, m ật tiết ra được đựng trong túi
    mật. Chất men gan có trong m ật có thể “sữa hóa” mỡ, rất
    có lợi cho việc phân giải và hấp thụ chất béo cũng như
    hấp thụ vitamin hòa tan trong chất béo. Ngoài ra, mật còn

    có tác dụng trong việc kích thích nhu động ruột và dạ
    dày, ức chế sinh trưởng của vi khuẩn.
    Chức năng quan trọng nhất của gan là tham gia vào
    quá trình chuyển hóa các chất có trong cơ thể. Ví dụ: tinh
    bột trong quá trình tiêu hóa sẽ phân giải thành đường gluco,
    sau khi được ruột hấp thụ sẽ qua gan, m ột phần được
    chuyển hóa thành đường glucoza d ự trữ tro n g gan, phần
    còn lại sẽ vào máu để duy trì sự ổn định của lượng đường
    trong máu. Khi lượng đường trong máu do tiêu hao giảm
    xuống, đường glucoza dự trữ trong gan ngay lập tức được
    chuyển hóa thành đường glucô để cơ thể sử dụng. Gan
    còn có khả năng tổng hợp các axit am inô do thành ruột
    hấp thụ thành các loại abum in cần thiết cho cơ thể.
    Ngoài ra gan còn có tác dụng giải độc. Là một người
    lính gác mẫn cán, gan bảo vệ và không để cho cơ thể hấp
    thụ các chất có hại. Gan có thể hóa giải m ột số chất độc
    rồi thải chúng ra ngoài theo đường tiêu hóa. Nhưng chức
    năng giải độc của gan có hạn, nên chúng ta phải hết sức
    cẩn thận khi ăn uống.

    BẢO VỆ GAN
    Trong cơ thể, gan là một bộ phận làm việc không biết
    m ệt mỏi, là “ nhà m áy” hóa học của cơ thể. Ngoài chức
    năng hoạt hóa vitam in, cân bằng hoócm ôn, gan còn có
    tác dụng xử lý hóa học đối với các chất như đường, mỡ và

    8

    prôtêin, giúp cho các cơ quan trong cơ thể dễ dàng hấp
    thụ. Vì vậy có thể nói, nhiệm vụ chủ yếu của gan là người
    “thay thế trung gian" của chất dinh dưỡng. Một khi cơ năng
    của người “thay th ế ” này bị suy thoái, thì các cơ quan
    khác trong cơ thể sẽ phải chịu ảnh hưởng xấu liên đới,
    gây ra các loại bệnh khác nhau.
    Do đó, để duy trì sức khoẻ, chúng ta cần đặc biệt
    chú ý tới cơ năng của gan. Thông thường, khi gan m ắc
    bệnh, nó không có những triệu chứng gì rõ ràng. N hư vậy
    có nghĩa là, các bệnh về gan nếu không quá nghiêm trọng
    thì thường không có dấu hiệu gì đặc biệt.
    Chúng ta cần biết rằng, bản thân gan không có thần
    kinh gây đau đớn, mà chỉ có ở lớp biểu bì. Vì vậy,khi bên
    trong bộ phận gan xuất hiện bệnh, nếu không tiếp xúc
    vào lớp biểu bì thì chúng ta sẽ không cảm thấy đau đớn.
    Hơn nữa, gan là m ột cơ quan có tính chịu đựng cao, chỉ
    cần còn 30% khả năng làm việ c là cơ thể chúng ta khó
    cảm nhận được sự đ a u đớn. Cho nên, m ặc dù gan mắc
    bệnh thì cũng rất ít xuất hiện những triệu chứng rõ rệt. Chỉ
    khi gan bị m ắc bệnh nặng khi cơ năng của nó có những
    biểu hiện suy thoái thì chúng ta mới nhận thấy được triệu
    chứng đó.
    Gan còn là m ột cơ quan nội tạng cứng và giữa gan
    với các cơ quan khác trong cơ th ể có m ột m ối quan hệ
    chặt chẽ, cho nên gan thường phải chịu những ảnh hưởng
    liên đới của các bộ phận khác. Ví dụ như khi cơ th ể bị
    bệnh truyền nhiễm , bệnh đái đường, hoặc khi m ang thai

    thì đều có thể ảnh hưởng gián tiếp đến cơ năng của gan.
    Hiểu được tầm quan trọng của gan, chúng ta làm sao
    có thể xem thường chức năng gan? Bạn phải đặc biệt chú
    ý chăm sóc và bảo vệ gan thật tốt.

    CHỨC NĂNG GIẢI ĐỘC CỦA GAN
    Chức năng giải độc của gan chiếm m ột vai trò cực
    kỳ quan trọng. Thông thường, sau khi nuốt thức ăn, dạ
    dày và ruột sẽ hấp thụ những chất dinh dưỡng, thực hiện
    quá trình phân giải, hòa tan chất dinh dưỡng vào máu.
    Cuối cùng, qua sự tuần hoàn của m áu, các chất dinh
    dưỡng sẽ được chuyển đến gan và tiến hành phân hóa tổ
    hợp.
    Tuy nhiên, ngày nay thực phẩm đã không còn sạch
    như trước nữa, rất nhiều loại thực phẩm được bảo quản
    bằng các chất hóa học. Đó là những loại thực phẩm cực
    kỳ độc hại đối với cơ thể. Ngay cả nước uống cũng chứa
    vô số những sinh vật có hại. Ngoài ra, sự ô nhiễm không
    khí cũng đã gây ra mối hiểm họa chung cho toàn xã hội.
    Mọi người đều biết rằng, để tồn tại không ai là không
    cần đến nước, không khí và thực phẩm. Nhưng những
    nhân tố quan trọng này cũng đang ngày càng gây hại
    nghiêm trọng đến cơ thể con người. Những chất độc hại
    trên cùng với các chất dinh dưỡng đều sẽ thẩm thấu vào
    máu, từ đó chuyển sang gan, để nó thực hiện chức năng

    10

    giải độc.
    Các chất độc hại có lúc lại xuất hiện từ bên trong cơ
    thể, quá trình trao đổi chất sẽ sản sinh ra những vật chất
    có hại dạng nh ư A m o n ia c, và những chất này đều phải
    lọc qua gan để thực hiện quá trình giải độc. Ngoài ra nếu
    trong cơ thể, hoócm ôn tiết ra quá nhiều hoặc quá ít cũng
    có thể gây ra các loại bệnh khác nhau. Khi hoócm ôn tiết
    ra quá ít, gan có thể th ú c đẩy quá trình điều tiế t ở
    hoócmôn. Ngược lại, khi hoócm ôn tiế t ra quá nhiều thì
    gan lại phải thực hiện quá trình phân giải giúp hoócm ôn
    đạt được sự cân bằng.
    Khi thực hiện xong quá trình giải độc, gan sẽ biến
    những chất có hại thành những chất vô hại, làm cho nó dễ
    dàng hoà tan vào nước, bài tiế t ra ngoài qua đường tiểu
    tiện hoặc đại tiện.
    Chúng ta có thể lấy m ột ví dụ, người phụ nữ sau khi
    mang thai, khoảng 1 tháng thì có hiện tượng buồn nôn, cơ
    thể cảm thấy m ệt m ỏi, nhu cầu ăn uống cũng bị ảnh
    hưởng, đây là do tác động của thai nhi trong bụng mẹ.
    Vào giai đoạn này, chức năng trao đổi chất bắt đầu tăng
    mạnh, kết quả là sẽ sinh ra các chất độc hại.
    Gan vốn có chức năng lọc và loại bỏ những độc tố
    trong cơ thể. Tuy nhiên do chức năng trao đổi chất quá
    mạnh nên gan không thể lọc hết được, nên các chất có
    hại sẽ lưu lại trong cơ thể, làm nảy sinh các loại bệnh.

    11

    GAN MÀC BỆNH SẼ GÂY RA
    HIỆN TƯỢNG THIẾU VITAMIN
    Gan gà hoặc gan lợn ăn với rau hẹ, sẽ cung cấp cho
    cơ thể m ột lượng lớn vitam in và prôtêin. Trước kia, người
    ta vẫn cho rằng, người nào cơ năng gan yếu thì nên thường
    xuyên ăn thêm các loại gan để bồi bổ. Có học giả đã
    được giải thưởng Nobel Y học về thuyết “ Lấy gan trị gan”.
    Vấn đề đặt ra là vì sao ăn gan lại bổ gan?
    Đ ể trả lời câu hỏi này, chúng ta cẩn xem : “Tại sao
    những động vật ăn thịt như hổ, sư tử không ăn rau mà
    chúng không bị thiếu vitam in, không bị quáng gà?”. Thực
    ra, những loài động vật ăn th ịt này không có hiện tượng
    thiếu vitam in, bởi khi chúng bắt được m ột con mồi, bao ■
    giờ chúng cũng phải vồ xé phần bụng trước để ăn gan
    con vật “xấu số ” đó. Vì sao chúng lại thích ăn gan như
    vậy? Bởi trong gan chứa nhiều vitam in, chúng chỉ cần ăn
    gan là có thể bổ sung lượng vitam in còn thiếu. Chính vì lẽ
    đó mà những động vật ăn thịt này không hề bị mắc chứng
    mắt quáng gà.
    V itam in là chất dinh dưỡng thiết yếu của cơ thể, nó
    có thể giúp cho quá trình trao đổi chất chủ yếu trong cơ
    thể và thúc đẩy các hoạt động của cơ năng trở lại bình
    thường. Nếu cơ thể bị thiếu hụt những chất dinh dưỡng
    này sẽ rất dễ m ắc bệnh.
    Chúng ta cẩn biết rằng, nguồn cung cấp vitam in là ở
    thực phẩm. Con người không th ể có khả năng tự tạo

    12

    vitam in trong cơ thể, cho nên chúng ta cần phải xem
    vitam in như m ột thực phẩm vô cùng thiết yếu. Sau khi cơ
    thể hấp thụ vitam in, gan sẽ lưu chứa nó và khi cần mới
    chuyển tới các cơ quan khác.
    Lượng vitam in mà cơ thể chúng ta cần đều có thể có
    được từthự c phẩm. Cho nên, việc bổ sung quá liều thuốc
    vitam in hàng ngày có thể không đạt được hiệu quả cần
    thiết, thậm chí còn gây ra hiện tượng mất cân bằng, ví dụ
    n h ư vita m in A, vitam in B ... Vì vậy, khi uống vitam in cần
    có sự chỉ dẫn của bác sĩ, nếu không có thể gây phản tác
    dụng.
    Cũng giống như dầu bôi trơn máy móc, vitamin đương
    nhiên có thể thúc đẩy hoạt động bình thường của cơ năng
    cơ thể. Song tác dụng tăng cường thể lực hay loại bỏ mệt
    mỏi cho cơ thể thì chưa hẳn là hoàn toàn đúng. Trong
    cuộc sống hàng ngày, nếu bạn không có thói quen ăn
    uống bất hợp lý thì chắc chắn rằng bạn sẽ không bị thiếu
    vitamin.
    Do gan là cơ quan lưu trữ và điều tiết vitam in nên khi
    cơ thể thiếu vitam in, chúng ta có thể biết chắc rằng: gan
    người đó đang bị bệnh. Vì sao có thể nói triệu chứng thiếu
    vitam in có quan hệ rất lớn với quá trình suy thoái của cơ
    năng gan? Là cơ quan lưu chứa tiềm tàng vitam in, nếu
    “kho chứa” - gan bị ảnh hưởng, thì tất nhiên quá trình
    trung chuyển của vitam in cũng gặp khó khăn. Nếu gan
    không chuyển được vitam in thì các cơ quan khác trong
    cơ thể khó mà hấp thụ được vitamin, lâu dần sẽ gây bệnh.

    13

    Khi gan của bạn có “vấn đ ề ” , thì cho dù có dùng bao
    nhiêu vitamin cũng không thể đạt được hiệu quả cần thiết,
    bởi lúc đó vitam in không thể phát huy được công hiệu.
    Vì vậy, hãy nhớ kỹ: thiếu vitam in là triệu chứng do
    gan m ắc bệnh gây ra.

    GAN MẮC BỆNH,

    cơ THE

    SẼ BỊ LẠNH

    Người ta chia động vật thành hai loại cơ bản, đó là
    “động vật máu lạnh” và “động vật thân nhiệt ổn định”. Động
    vật máu lạnh là những loài vật mà thân nhiệt của chúng
    thay đổi theo mùa, ví dụ như: trăn, rắn...
    Còn con người được xem là “động vật thân nhiệt ổn
    đ ịn h ” , bởi nhiệt độ cơ thể con người luôn luôn ổn định,
    không đổi trong bất kỳ điểu kiện môi trường như th ế nào.
    Vì sao cơ thể lại có thể giữ được nhiệt độ ổn định như
    vậy? Nói một cách đơn giản, cơ thể người có một “thiết bị”
    giữ nhiệt, đồng thời do nhiệt lượng sản sinh trong cơ thể
    tương đối lớn, cho nên mới có thể duy trì được mức binh
    thường của thân nhiệt.
    Thông thường, những chất dinh dưỡng trong thực
    phẩm mà chúng ta sử dụng hàng ngày thì có khoảng 40%
    chuyển thành năng lượng cho cơ bắp hoạt động, còn lại
    khoảng 60% sẽ chuyển hóa thành nhiệt lượng giữ nhiệt
    cho cơ thể. Bình thường, một ngày một người cần hấp thụ
    từ 2000 - SOOOCalo, trong đó lượng Calo trở thành nhiệt

    14

    lượng vào khoảng từ 1200 - 1800.
    Nhiệt lượng duy trì thân nhiệt này chủ yếu là do hoạt
    động cơ bắp tạo ra. Tuy nhiên, trong tất cả nhiệt lượng thì
    lượng nhiệt do gan cung cấp chiếm khoảng 15%. Vậy thì
    15% nhiệt lượng mà gan sản sinh ra từ đâu mà có? Theo
    nghiên cứu của các nhà khoa học thì nó phát sinh ngay
    trong quá trình trao đổi chất và tiến trình thực hiện chức
    năng giải độc. Ban ngày, do cơ thể con người hoạt động
    liên tục nên có thể tạo ra nhiệt lượng, đủ để giữ nhiệt độ
    ổn định. Còn vào ban đêm, khi mà hoạt động cơ bắp gần
    như ngừng hẳn, thì nhiệt lượng chủ yếu là do gan cung
    cấp. Cho nên, vào mùa đông giá rét, cơ thể chúng ta luôn
    cảm thấy ấm áp là nhờ sự hỗ trợ của gan. Nếu cơ thể luôn
    cảm thấy lạnh, m ặc dù được trang bị đủ quần áo ấm thì
    bạn nên nghĩ ngay đến việc gan bị tổn thương.

    TINH THẦN MỆT MỎI KHI GAN BỊ BỆNH
    Mọi người đều biết rằng, đường glucô là nguồn cung
    cấp năng lượng cho cơ thể. Song nó không phải có khả
    năng chuyển thành nhiệt lượng. Thông thường, nó được
    chuyển vào gan, qua quá trình hóa hợp, m ột phần năng
    lượng sẽ được dự trữ trong gan. Lượng đường lưu lại trong
    gan được gọi là glucoza, còn phần còn lại được chuyển
    tới các cơ quan khác, gọi là đường glucô
    Trọng lượng trung bình của gan khoảng 1,2kg, trong

    15

    đó lượng đường glucoza chiếm khoảng 10%. Như vậy trong
    gan của m ỗi người, lượng glucoza chiếm 120g. Khi vận
    động mạnh, lượng glucô tiêu hao trong máu đột ngột tăng
    cao, lúc này, lượng glucoza ở gan sẽ nhanh chóng chuyển
    thành glucô để bổ sung thêm đường cho cơ thể. Tuy nhiên,
    khi gan bị bệnh thì lượng glucoza sẽ không còn tồn tại
    hoặc còn rất ít trong gan, vì th ế sẽ xuất hiện hiện tượng
    thiếu glucô trong máu, làm cơ thể cảm thấy mệt mỏi.
    Do tồn tại m ột lượng lớn glucoza, cho nên thậm chí
    khi chúng ta không ăn gì thì cơ thể vẫn có thể duy trì hoạt
    động được. Một phần glucoza sẽ được chuyển từ gan vào
    cơ bắp. Do đó, khi vận động m ạnh, lượng glucoza trong
    cơ bắp sẽ biến thành năng lượng để giữ cho cơ thể đủ
    chất dinh dưỡng. Khi chúng ta vận động, lượng glucoza
    chuyển thành năng lượng, giúp cơ thể bài tiết axit cabonic
    và mồ hôi ra ngoài.
    M ột điều mà bạn cũng cần phải biết, khi glucoza
    chuyển thành năng lượng, bắt buộc nó phải cần sự hỗ trợ
    của vitam in B 1 . Nên khi cơ thể bị thiếu vitam in B 1 , quá
    trình chuyển hóa năng lượng cũng sẽ gặp khó khăn. Cơ
    thể tất m ệt mỏi khi nó không tự tạo ra năng lượng. Nhưng
    cũng giống như những chất tồn tại trong gan, vitam in B1
    sẽ không thể chuyển tới được các cơ quan khác cũng
    như không còn khả năng tạo ra năng lượng nếu gan bị
    bệnh. Lúc đó, đương nhiên cơ thể sẽ m ệt mỏi, tinh thần
    uể oải.

    16

    COLESTROL CAO CŨNG
    LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH GAN
    Khi đề cập đến colestrol, lập tức chúng ta nghĩ ngay
    tới hiện tượng xơ cứng động mạch.
    Vì sao người ta có thể cho rằng lượng colestrol trong
    cơ thể quá cao là nguyên nhân gây ra xơ cứng động mạch?
    Bởi vì, khi quan sát huyết quản của bệnh nhân bị xơ cứng
    động m ạch, người ta phát hiện ra rằng trong thành động
    mạch tồn trữ rất nhiều colestrol. Còn nếu colestrol tồn trữ
    trong ống mật hoặc túi mật quá lâu có thể sẽ kết sỏi, đây
    chính là nguyên nhân gây nên sỏi m ật. Nói như thế, có
    nghĩa là colestrol không phải là một nhân tố tốt. Tuy nhiên,
    nếu gan của m ột người khỏe m ạnh thì colestrol không
    những không thể ảnh hưởng đến sức khoẻ, mà thậm chí
    nó còn là m ột thành phần quan trọng của cơ thể.
    Chúng ta cần biết rằng, colestrol là do sự hóa hợp
    axit axetic của gan tạo thành. Nó xuất hiện hầu như ở mọi
    bộ phận cơ thể, trong đó não, hệ thống thần kinh, thận,
    da... chiếm một tỷ lệ tương đối lớn. Colestrol là thành phần
    chủ yếu tạo nên dịch thể mật. Nếu dịch thể m ật không
    được bài tiết ra ngoài hoàn toàn, thì phần colestrol dưthừa
    sẽ do gan xử lý, sau đó thải ra khỏi cơ thể. Colestrol không
    những là thành phần chủ yếu tạo nên dịch thể mật, mà
    còn là yếu tố sản xuất ra hoócm ôn tuyến thượng thận và
    hoócmôn giới tính.
    Cho nên lượng colestrol quá cao hoặc quá thấp đều

    17

    là tín hiệu biểu thị gan bị bệnh. Nếu có lượng colestrol
    trong máu quá cao, hoặc bị xơ cứng động m ạch thì tốt
    nhất nên mời bác sĩ kiểm tra gan cho mình.

    PHẢI ĐẶC BIỆT CHÚ Ý KHI THE Lực SUY YẾU
    Prôtêin là nguồn gốc của sự sống, lượng prôtêin tiêu
    hao của cơ thể cũng rất đáng kinh ngạc, bình quân mỗi
    kg thể trọng cần 1 gam prôtêin. Vì vậy, nếu người nào có
    trọng lượng 50kg thì mỗi ngày họ cần có 50g prôtêin. Tuy
    nhiên, lượng prôtêin có được trực tiếp từ thực phẩm không
    thể hòa tan vào m áu. Vì lý do nồng độ khác nhau, cho
    nên lượng prôtêin mà cơ thể cần hấp thụ phải tăng thêm
    từ 30% - 50% so với tính toán. Có nghĩa là, m ột người
    nặng 50kg cần lượng prôtêin từ 70 đến 80g. Song m ột
    người cần lượng prôtêin đủ hay không, là ở chỗ phải giữ
    được trạng thái cân bằng giữa prôtêin và 8 loại axit amin
    lớn.
    Sữa, trứng gà và th ịt là những thực phẩm chứa rất
    nhiều prôtêin. Trong đậu phụ cũng có nhiều prôtêin dạng
    thực vật, vì vậy những người không thích ăn thịt, cá thì có
    thể ăn nhiều đậu phụ để giữ được sự cân bằng về axit
    amin. Thông thường, sau khi prôtêin được hấp thụ vào cơ
    thể, nó sẽ phân giải thành axit amin, gan sẽ đảm nhận vai
    trò hóa hợp tạo thành prôtêin tái sinh, d ự trữ tro n g gan.
    Các bộ phận trong cơ thể đều do các tế bào cấu

    18

    thành, song bạn có thể không biết rằng, thành phần chủ
    yếu của tế bào là prôtêin. Người ta nói rằng, cơ thể người
    là một thể tổ hợp prôtêin cũng không quá khoa trương.
    Về lượng prôtêin, cũng giống như dấu vân tay, không
    bao giờ có sựtương đổng giữa hai người. Bởi prôtêin là do
    rất nhiều axit am in tạo thành, mà sự sắp xếp của axit
    amin và phân lượng axit amin nhiều hay ít, có thể nói giữa
    hai cơ thể khác nhau là hoàn toàn khác nhau. Trong những
    ca phẫu th u ậ t cấy ghép cơ gan, có m ột số ca cấy ghép
    không dễ gì đạt được thành công, nhưng cuối cùng bệnh
    nhân cũng không thể sống được, lý do là vì giữa cơ thể và
    cơ quan nội tạng được ghép bài xích nhau, nên mới gây
    ra những bi kịch như vậy.

    Liệu prôtêin có hại cho gan hay không?
    Men là do prôtêin tạo nên, nó có tác dụng trao đổi
    chất cho cơ thể và giúp tiêu hóa thức ăn. Trước đây, người
    ta vẫn cho rằng prôtêin có hại đối với người gan yếu. Có
    nghĩa là những thực phẩm có hàm lượng prôtêin thấp sẽ
    rất có lợi cho việc chữa trị bệnh gan.
    Đó là m ột quan niệm hoàn toàn sai lẩm.
    Có m ột nhà khoa học Mỹ đã thực hiện thí nghiệm
    sau: ông ta cho những bệnh nhân gan ăn m ỗi ngày m ột
    lượng 110g prôtêin. Đương nhiên đây là m ột thí nghiệm
    nguy hiểm, nó vi phạm cách làm truyền thống. Song tình
    trạng sức khoẻ của những bệnh nhân này được cải thiện
    rất nhiều, thậm chí báng nước và phù thũng trong cơ thể

    19

    cũng hoàn toàn biến mất. Và những thực phẩm giầu prôtêin
    đạt được hiệu quả rõ rệt hơn nhiều so với những thực phẩm
    thông thường khác. Báo cáo thực nghiệm trên đã gây được
    sự chú ý của toàn th ế giới. Con số bác sĩ thực hiện thí
    nghiệm này cũng ngày càng tăng lên và đạt được những
    thành tích đáng ghi nhận
    Kết quả thí nghiệm cho thấy, prôtêin và axit amin trong
    máu m ột lẩn nữa lại hợp thành m ột thành phần mới, nếu
    gan không xử lý sạch thì chứng tỏ gan đã bị bệnh nặng và
    người bệnh không nên sử dụng phương pháp chữa tri này.
    Thông thường, nếu chỉ 85% tế bào gan ngừng hoạt
    động thì cũng không dẫn đến hiện tượng này. Nếu truyền
    prôtêin vào cơ thể, mà lượng axit amin trong máu sẽ tăng
    lên rõ rệt, cơ thể suy yếu hơn. Điểu này thể hiện gan của
    người này đã bị tổn thương trên 85%.
    Theo cách chữa trị cũ, việ c truyền dẫn prôtêin vào
    cơ thể để tăng axit am in, không có lợi cho người bệnh.
    Song sự thực thì phương pháp này lại rất tốt cho người
    bệnh.

    Cơ NĂNG GAN SUY YẾU THỈ ẢNH HƯỞNG
    NGHIÊM TRỌNG ĐẾN VIỆC ĐIỀU TIẾT HOÓCMÔN
    Có sự khác biệt giữa vitam in và hoócm ôn? V itam in
    là do thực phẩm tạo nên, còn hoócmôn là do tuyến nội tiết
    trong cơ thể tiết ra. Tuyến nội tiết bao gồm thùy não, tuyến

    20

    giáp trạng, tuyến thượng thận, tuyến tụy và buồng trứ ng...
    cùng nhiều bộ phận khác. Giữa những hoócmôn cũng có
    mối liên quan với nhau, m ột hoócm ôn có thể thúc đẩy
    hoặc kìm hãm hoạt động tiết ra của một hoócm ôn khác.
    Lượng hoócm ôn tiết ra quá ít hoặc quá nhiều đều có
    thể ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của các cơ quan và
    cơ năng, đến sự trao đổi chất trong cơ thể. Nếu giữa các
    hoócmôn mất đi sự cân bằng thì cuộc sống tình cảm hàng
    ngày sẽ có những thay đổi lớn. Cũng giống như người chỉ
    huy dàn nhạc giao hưởng, sự tiế t ra của hoócm ôn cũng
    cần m ột cơ quan điều hòa. Gan chính là cơ quan đảm
    nhận vai trò này. Khi các cơ quan tiết ra hoócm ôn như
    thùy não, tuyến giáp trạng, tuyến tụy, tuyến thượng thận,
    buồng trứ ng... bị bệnh, thì cơ thể sẽ m ất đi m ột số khả
    năng nhất định làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ.
    Ngược lại, nếu tuyến nội tuyến hoạt động tốt nhưng cơ
    năng gan yếu thì cơ quan điều tiết cân bằng giữa các
    hoócmôn cũng mất đi, kéo theo sự biến dạng của cơ năng
    nội tiết.
    Đ ặc trưng của hoócm ôn là chỉ cần m ột lượng nhỏ
    cũng có thể phát huy được hiệu quả rất cao. Có m ột điều
    lý thú là cấu tạo hóa học của hoócmòn động vật đều giống
    nhau. Vì vậy nếu chúng ta lấy hoócmôn giới tính của trâu,
    ngựa truyền vào cơ thể người, cũng có thể làm cho con
    người có những hưng phấn tình dục.
    Ngày nay, những nghiên cứu về hoócm ôn đã có
    những tiến bộ vượt bậc. Người ta có thể dùng phương pháp

    21

    xử lý hóa học để đạt được hoócm ỏn tinh thể.

    * Những triệu chứng khác thường mà hoócmôn
    gây ra.
    Hoócmôn thùy não
    Thùy não tiết ra hoócmôn trưởng thành, hoócmòn kích
    thích, hoócmôn màng thượng thận...
    Hoócmôn trưởng thành tiềm tàng trong xương cốt và
    các cơ quan khác, từ đó làm cho xương và các cơ quan
    phát triển. Các chất phôtpho, canxi có mối quan hệ mật
    thiết với hoócmôn trưởng thành. Khi hoócmôn trưỏng thành
    tiết ra quá nhiều có thể làm cho cơ thể phát triển quá mức
    bình thường. Còn nếu thùy não suy yếu, thì cơ thể sẽ
    thấp bé hoặc phát dục không được tốt.
    T hùy não cũng có thể tiế t ra hoócm ôn tuyến kích
    thích và hoócmôn màng thượng thượng. Hoócmôn tuyến kích
    thích còn có thể làm cho đặc trưng giới tính giữa nam và nữ
    được biểu hiện rõ ràng. Hoócmôn màng thượng thận có một
    mối quan hệ đặc biệt với sự trưởng thành của cơ thể.
    Khi chúng ta vận động mạnh hoặc sống ở nhữhg vùng
    núi cao, vùng giá rét, nếu cơ thể thiếu axit có thể dẫn đến
    những triệu chứng bất bình thường. Lúc này, hoócm ôn
    m àng thượng thận được tiế t ra, giúp chống lại những sự
    khác thường của cơ thể, duy trì sự sống.

    Hoócmôn tuyến giáp trạng
    Khi hoócm ôn tuyến giáp trạng tiết ra quá nhiều, cơ

    22

    thể sẽ rất dễ chảy mồ hôi và thường xuyên m ất ngủ hoặc
    làm mắt yếu đi. Ngược lại, nếu tiết ra quá ít sẽ làm cho da
    bị khô, tinh thần ủ rũ, buồn bã. Còn nếu tiết ra không đủ
    thì tất cả quá trình trao đổi chất có thể bị ngưng trệ, khả
    năng phát dục kém, trí tuệ chậm phát triển.

    Hoócmôn tuyến tụy
    Isulin tiêu hao liên tục lượng đường glucô trong máu
    để thúc đẩy hoạt động bình thường của các cơ quan trong
    cơ thể. Nhờ chức năng của insulin mà đường glucoza ở
    gan trở thành glucô. Cho nên, giữa gan và insulin có một
    mối quan hệ mật thiết.
    Nếu insulin không đủ thì cho dù lượng đường glucô ở
    trong máu có cao bao nhiêu thì cũng không thể cung cấp
    cho các cơ quan khác sử dụng. Đồng thời, do lượng đường
    glucô trong máu không sử dụng hết, tích tồn lại trong cơ
    thể sẽ gây ra bệnh đái đường đáng sợ, và nhiều căn bệnh
    nguy hiểm khác.
    H oócm ôn giới tính thì cả nam lẫn nữ đều có. Loại
    hoócmôn này sinh ra là để duy trì nòi giống cho con người.
    Vào thời kỳ trung niên, cơ năng gan ngày càng suy yếu,
    hoócmôn giới tính tiết ra cũng ít đi, hứng thú tình dục giảm
    xuống, đây là hiện tượng thường gặp.
    Nếu quá trình điều tiế t của hoócm ôn khác thường,
    chúng ta không thể cho rằng thùy não hay buồng trứng
    có “vấn đ ề ” . Do gan đảm nhận việc cân bằng hoócm ôn
    cho nên khi hoócm ôn có biểu hiện không bình thường,
    nên nghĩ ngay đến các triệu chứng bệnh của gan.

    23

    KHI GAN BỊ BỆNH, cơ THE
    SẼ MẤT CHỨC NĂNG MlỄN DỊCH
    Chức năng m iễn dịch là khả năng chống lại sự xâm
    nhập của vi khuẩn vào cơ thể. Khi vi khuẩn xâm nhập
    vào người, bạch cầu và tuyến limpha sẽ xuất hiện để tiêu
    diệt. Những vi khuẩn này được gọi là “kháng ngu yê n ” .
    Ngược lại, nhân tố dùng để chống lại “kháng nguyên” người
    ta gọi là “ kháng th ể ” , ví dụ như bạch huyết cầu.
    Kháng thể có thể tiêu diệt được độc tính của kháng
    nguyên. Kháng thể là do tuyến limpha, tỳ, tủy và ruột non
    sản sinh ra, cho nên giữa kháng thể và gan không có mối
    quan hệ trực tiếp.
    Đặt một ít máu ra ngoài cơ thể quan sát, sau một thời
    gian chúng ta phát hiện ra phía dưới cùng có huyết cầu
    và bên trên chất lỏng này m ang màu vàng, người ta gọi
    nó là huyết thanh. Thành phần chủ yếu của huyết thanh
    chính là prôtêin. Trong lượng prôtêin này lại bao gồm hai
    thành phần khác nhau, đó là G anm a Globulin và prôtêin
    trắng. Và chất G anm a Globulin còn được gọi là một loại
    kháng thể. Chất kháng thể này do tuyến limpha, tủy, tỳ và
    ruột non sản sinh ra. Có nghĩa là, mỗi khi kháng nguyên
    xâm nhập vào cơ thể, chất Ganma G lubolin sẽ chịu trách
    nhiệm bảo vệ cơ thể.
    Cũng giống như người tập hợp quân đội chống lại giặc
    ngoại xâm , chất abum in sẽ đảm nhiệm vai trò tập hợp
    này. Nhưng khi gan suy thoái, lượng abum in sẽ bị giảm,

    24

    nếu để cho huyết cầu tố làm nhiệm vụ tập hợp thì khó mà
    hoàn thành được nhiệm vụ, bỏi bản thân kháng thể vốn
    rất hỗn loạn.
    Tóm lại, m ột khi gan đã m ắc bệnh thì abum in giảm
    xuống, như vậy nó cũng không thể đảm nhận được vai trò
    của mình. Ngoài ra, gan còn giữ một chức năng quan trọng
    khác vì trong gan tồn tại m ột loại tế bào có thể chống lại
    sự xâm nhập của kháng nguyên. Vì vậy nếu gan bị bệnh,
    cơ thể sẽ giảm hoặc m ất chức năng m iễn dịch.

    GAN BỊ BỆNH, SẼ KHÔNG CẦM Được MÁU
    Trong cuộc sống, chúng ta vẫn thường nghe thấy một
    loại bệnh đáng sợ, đó là bệnh máu không đông. Đ ể giúp
    cho máu không bị chảy liên tục ra ngoài cơ thể khi gặp tai
    nạn, bản thân m áu sẽ sản sinh ra m ột chất làm đông tụ
    máu. Vậy thì bản chất của hiện tượng này là gì? Điều này
    cũng rất khó lý giải.
    Máu có thể đông lại là do thành phần tiểu cầu trong
    máu phát huy tác dụng, m ỗi khi máu tiếp xúc với không
    khí bên ngoài, nó sẽ kết hợp với íibrin, hình thành nên vẩy
    máu, bị kín vết thương, làm cho máu không thể chảy ra
    ngoài.
    Trong cơ thể có rất nhiều tiểu cầu. Nếu íibrin quá
    nhiều thì máu có thể đông tụ, cho nên tibrin thường tồn tại
    trong cơ thể dưới dạng íibrinogen. Mỗi khi cần tạo thành

    25

    vẩy máu, tibrinogen sẽ biến thành íibrin để kết hợp tiểu
    cầu lại với nhau thành vảy máu giúp cơ thể cầm máu.
    Pibrinogen và chất làm đông máu đều do gan sản sinh ra.
    Vì vậy, khi gan bị bệnh, chất làm đông máu và tibrinogen
    trong máu sẽ giảm xuống. Đ ồng thời, tất cả chất có thể
    làm đông máu đều do gan sản sinh ra. Ngoài ra, khi gan
    hình thành nên những chất này cần phải có sự hỗ trợ của
    vitam in K mới có thể hoàn thành chức năng hóa hợp. Vitamin K lại do vi khuẩn trong ruột tạo thành, sau đó truyền
    vào máu rồi chảy vào gan, lưu lại ở đó và giúp gan sản
    xuất chất làm đông máu. Vì vậy có thể nói, vi khuẩn trong
    ruột giữ những vai trò cực kỳ quan trọng.
    Tuy nhiên, khi gan bị bệnh thì dù cho vi khuẩn trong
    ruột tạo nên bao nhiêu vitam in K cũng không thể tích trữ
    lại ở gan, nói gì đến việc được sử dụng vào chức năng
    làm đông máu. Còn nếu vitam in K trong thời gian bị thiếu,
    thì íibrinogen và chất làm đông máu cũng không thể sản
    sinh ra được, ảnh hưởng xấu đến vai trò cầm máu.
    Rất nhiều người bị chết vì bệnh vàng mắt do gan gây
    ra. Những người bị bệnh gan nặng khi tử vong bao giờ
    trong dạ dày và ruột cũng chảy rất nhiều máu và được
    tiết ra ngoài cơ thể bằng đường m iệng và hậu môn.

    BỆNH GAN CÓ THỂ GÂY RA THIẾU MÁU
    Máu chiếm từ 1/12 - 1/13 trọng lượng cơ thể. Ví dụ,
    cơ thể nặng 50kg thì sẽ có 4000 - 4500ml máu. Tuy nhiên,

    26

    lượng máu này không thể cung cấp đầy đủ cho các cơ
    quan, nên cơ thể phải cần tới hoócm ôn và hệ thống thần
    kinh để giúp điều hòa lượng máu. Lấy ví dụ, sau khi ăn
    ruột và dạ dày của bạn sẽ phải làm việc nhiều hơn, nên
    máu sẽ tập trung ở ruột, dạ dày. Đ ồng thời lượng máu ở
    gan cũng có thể tăng lên nhiều. Thông thường, sau khi ăn
    khoảng 30 phút, lượng máu trong gan tăng lên 3-4 lần.
    Lúc này hoạt động của gan cũng tăng lên bởi nó vừa
    phải hấp thụ những chất dinh dưỡng từthứ c ăn, vừa phải
    biến chúng thành các dưỡng chất khác nhau để phân phối
    tới các cơ quan trong cơ thể.
    Một người khi đang suy nghĩ thì máu sẽ tập trung lên
    phần não bộ. Khi vận động, máu lại tập trung ở trong cơ
    bắp. Máu lưu thông liên tục giúp các cơ quan hoạt động
    có hiệu quả. Khi cẩn tập trun g để tới các cơ quan khác
    trong cơ thể, nơi máu tập trung tạm thời là gan.
    Một người khi bị chảy máu nhiều hoặc huyết áp giảm,
    nếu tiến hành kiểm tra gan có thể phát hiện thấy lượng
    máu giảm khoảng 20%. Khi cơ thể m ất máu nhiều, máu
    dự trữ ở gan sẽ nhanh chóng bổ sung những phần khuyết
    thiếu đó. Tuy nhiên, gan của trẻ sơ sinh lại có chức năng
    tạo máu, có nghĩa là thời kỳ thai nhi, gan sẽ đảm nhiệm
    vai trò tạo máu. Sau khi sinh ra, cơ quan tạo máu chủ yếu
    là tủy, nếu tủy bị bệnh thì gan vẫn giúp tạo máu. Còn tủy
    khi tạo máu lại cần những chất tác nhân khác như vitamin
    B12, vitam in B11, hồng cầ u ... và những chất này đều do
    gan cung cấp. Do đó, khi gan bị bệnh bao giờ cũng dẫn

    27

    đến hiện tượng thiếu máu.
    Trong cơ thể, gan là cơ quan duy nhất có khả năng
    tái sinh. Nếu gan bị cắt m ất 75% trọng lượng, nó còn có
    thể tái sinh tương đương với trọng lượng ban đầu. Không
    chỉ như vậy, nếu cắt 75% gan trưởng thành, thậm chí cắt
    nhiều lần, gan vẫn có thể tự tái sinh như ban đầu. Ví dụ,
    m ột người uống nhầm thuốc, gan chắc chắn sẽ bị tổn
    thương, song nếu như cơ năng của gan không bị hỏng
    hoàn toàn thì gan có khả năng tự tái sinh.
    Chức năng tái sinh của gan chỉ bị ảnh hưởng khi gan
    xơ cứng hoặc cơ thể thiếu máu ác tính.

    GAN BỊ BỆNH SẼ LÀM CHO TÍNH TÌNH THAY Đổl
    Khi bước vào giai đoạn trung niên thể lực sẽ suy yếu
    đi nhiều, với người bị bệnh gan thì tính tình cũng thay đổi.
    Nói như vậy thì người bị bệnh gan mãn tính liệu có
    thể thay đổi tính tình ra sao?
    Đầu tiên phải chú ý đến cách ăn nói của người bệnh
    rất giống như trẻ con, hiện tượng này nếu có biểu hiện
    tăng cao thì cần nghĩ ngay tới việc gan bị tổn thương.
    Ngoài ra, người bệnh còn thích nói nhại lại những lời nói
    thô tục, cộc cằn của người khác hoặc khi xem sách báo,
    tranh ảnh kích.thích rất dễ bị hưng phấn. Người bệnh cũng
    dễ nảy sinh mâu thuẫn với tập thể, họ không còn quan
    tâm tới những người xung quanh, v ề nhà, họ không muốn

    28

    tâm s ự trò chuyện với người thân, ở họ luôn có cảm giác
    cò đơn, chán nản. Tất cả những biểu hiện trên đều có liên
    quan tới bệnh gan. Hoặc có những người bình thường rất
    ít nói, trầm tính, nhưng khi bị bệnh gan dường như họ cười
    nói nhiều hơn.
    Cần chú ý rằng, khi những triệu chứng này ngày càng
    xấu đi, thì sẽ làm trí tuệ cũng kém theo và lâu dần sẽ trỏ
    nên ngu muội.

    29

    Chương

    II

    TRIỆU CHỨNG BỆNH GAN

    ...
     
    Gửi ý kiến