Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Bác sĩ tốt nhất là chính mình. T5

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 09h:15' 18-03-2024
    Dung lượng: 8.0 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    unC4-sOC KVAỏt

    Tá\bảo

    \ẳntVì'^ '

    Bác sĩ
    tốt nhăt

    là chính mình
    Tập 5: Bệnh Aliheimer

    BỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THựC HIÊN
    General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
    Bác sỉ lốt nhất là chinh mình. T.5 : Bệnh Alzheimer / Lê Quang s.t. / Tái bản lần thứ 7.
    ■T.P. Hồ Chí Minh: Trẻ, 2016
    124tr.: hình v ẽ ; 20cra
    1. Alzheimer (chứng mất trí nhớ). 2. Sức khỏe và an toàn cá nhân. 1. Lê Quang s.t.
    II. Ts: Bệnh Alzheiraer.
    613-dc22

    BII6

    Bác sĩ tát nhẵt chinh mình 5

    Jlii I

    -II 934 97 4 II 1 1 6 6 1 5 II

    Y HỌC4SỨC KHỎE
    Nhiều tác giả

    Bác sĩ
    tốt nhốt
    là chính mình
    Tập 5: Bệnh Alzheimer

    NHÀ XUẤT BẢN T R Ẻ

    LỜI KHUYÊN
    DÀNH CHO MỌI NGƯỜI

    Trân trọng sức khỏe!
    Tận hưởng sức khỏe!
    Sáng tạo sức khỏe!
    Nếu bạn còn trẻ, và mong muốn được sống vui vẻ và khỏe
    mạnh, hãy đọc quyển sách này!
    Nếu bạn đã già, và mong muốn sống khỏe sống lâu, hãy
    đọc quyển sách này!
    Nếu bạn nghèo khó, không đủ sức mua thuốc men giá đắt,
    hãy đọc quyển sách này!
    Nếu bạn giàu có, nhưng lại kém sức khỏe và kém vui, hãy
    đọc quyển sách này!

    Chỉ cần trích 4 giờ ít ỏi đọc kĩ quyển sách này, nó sẽ mang
    lại 36.000 ngày thu hoạch quí giá cho cả cuộc đời bạn!

    Bộ NÂO LƯU TRỮ THÔNG TIN
    NHƯ THẾ NÀO?
    Thông tin dược lưu 'giữ trong những phần khác nhau ữong
    bộ nhớ của bạn. Thông tin đưỢc lưu trong bộ nhớ ngắn hạn có
    thể bao gồm tên của người mà bạn đã gặp cách đây vài tháng.
    Thông tin đưỢc lưu trữ trong bộ nhớ thường xuyên có thể bao
    gồm những thứ mà bạn đã ăn trong buổi điểm tâm sáng nay.
    Thông tin được lưu trong bộ nhớ xa bao gồm những sự việc
    đã xảy ra hàng năm trước, ví dụ như ký ức thời thơ ấu.
    Tuổi tác thay đổi bộ não như thế nào?
    ở tuổi đôi mươi, có những lúc bạn bị mâT tế bào não. Cơ
    thể bạn cũng bắt đầu giảm sản xuất các chất cần thiết cho tế
    bào não hoạt động. Càng lớn tuổi, những thay đổi này càng
    ảnh hưởng lên bộ nhớ của bạn.
    Tuổi tác có thể ảnh hưởng đến bộ nhớ bằng cách làm thay
    đổi cách mà não bộ lưu trữ thông tin và bằng cách khắc sâu
    những thông tin thường hay sử dụng.
    Những bộ nhớ ngắn hạn và bộ nhớ xa dường như không bị
    ảnh hưởng bởi tuổi tác. Tuy nhiên, bộ nhớ thường xuyên có

    thể bị ảnh hưởng. Bạn có thể quên tên của người mới gặp tức
    thì. Đó là những thay đổi bình thường của tuổi tác.
    Những mẹo giúp gợi nhớ:
    - Ghi lại những thông tin quan trọng, cần nhớ.
    - Làm việc theo thói quen.
    - Tạo lập những môl liên hệ, nhắc/ gỢi nhớ.
    - Có lịch trình chi tiết, ghi tết cả những gì suy nghĩ trong
    đầu ra giấy.
    - Đặt những thứ quan trọng, những vật thường dùng ở những
    vị trí quen thuộc.
    - Lặp lại tên của những người bạn mới gặp.
    - Làm những việc giữ cho trí tuệ minh mẫn.
    - Nên gán ghép những sự kiện với các mẫu tự ABC để giúp
    gỢi nhớ khi cần. Không nên chủ quan vào khả năng nhớ của
    mình nữa.
    Làm gì khi bạn không thể nhớ một việc gì dó?
    Đây chỉ là một sự cô" nhỏ ở bộ nhớ. Bạn không thể nào nhớ
    tất cả mọi thứ trên trái đất này cùng một lúc. Càng lớn tuổi
    càng dễ xảy ra tình trạng không nhớ một cái gì đó. Bạn có thể
    thất vọng chút ít về chuyện này, tuy nhiên đừng nên xem đó
    là một vấn đề nghiêm trọng.

    Có nguyên nhân nào khác gây ra vân đề cho trí nhớ?
    Nhiều nguyên nhân ngoài tuổi tác có thể gây ra trục trặc
    ở bộ nhớ. Các nguyên nhân đó bao gồm trầm cảm, bệnh
    Alzheimer và các bệnh mất trí nhớ khác, tác dụng phụ của
    thuôc, nhồi máu não, chấn thương đầu và nghiện rưỢu,...
    Ảnh hưởng của giảm trí nhớ lên cuộc sông:
    Vấn đề ở bộ nhớ được xem là nghiêm trọng khi nó ảnh
    hưởng đến sinh hoạt thường nhật của bạn. Chẳng có gì là
    nghiêm trọng nếu đôi khi bạn quên tên một ai đó. Tuy nhiên,
    sẽ là vấn đề lớn nếu bạn cô" gắng nhớ lại cách thực hiện các
    động tác nào đó mà bạn đã từng làm nhiều lần trước đây,
    không thể đi đến một địa điểm nào đó mà bạn đã thường đến,
    hoặc thực hiện một việc gì đó không theo trình tự chỉ dẫn.
    Sự khác biệt nữa giữa trục trặc trí nhớ bình thường và mất
    trí nhớ là trục trặc trí nhớ bình thường không nặng thêm qua
    thời gian, trong khi mất trí nhớ diễn tiến rất nhanh sau vài
    năm, thậm chí chỉ vài tháng.
    Khó để bạn tự xác định là mình thuộc loại nào, mâ"t trí
    nhớ hay chỉ là trục trặc trí nhớ bình thường. Bạn nên đi thăm
    khám chuyên khoa nội thần kinh để có chẩn đoán xác định
    và nếu có bệnh lý thì được chữa trị kịp thời. Ngoài ra, bác sĩ
    còn hướng dẫn thêm cho bạn về cách theo dõi các dấu hiệu
    trở nặng hoặc bất thường.

    Bệnh Alzhelmer thay đổi trí nhớ như thế nào?
    Bệnh Alzheimer bắt đầu từ việc làm thay đổi trí nhớ thường
    xuyên (trí nhớ hiện tại). Ban đầu, người bệnh sẽ nhớ rất rõ
    ngay cả những chi tiết rất nhỏ của những chuỗi sự kiện trong
    quá khứ (có thể râ't lâu) tuy nhiên lại không nhớ gì những sự
    kiện hay những lời nói gần đây. Sau đó, bệnh ảnh hưởng đến
    toàn bộ trí nhớ và người bệnh trở nên mất trí hoàn toàn.
    Bệnh Alzheimer là một bệnh lý, không phải là sự thay
    đổi bình thường của trí nhớ theo tuổi tác. Tuy nhiên tần suất
    râ't thấp, vào khoảng 10% những người trên 65 tuổi có thể bị
    bệnh này, tỉ lệ này tăng lên khoảng 50% ở những bậc tiền bối
    trên 85 tuổi.
    Những vấn đề trục trặc về trí nhớ đưỢc cho là không bình
    thường:
    - Quên những sự vật, sự việc thường xuyên dùng, tiếp xúc.
    - Quên cách thực hiện những việc đã thường xuyên làm
    trước đây.
    - Khó khăn tiếp thu những vấn đề mới.
    - Lặp đi lặp lại một cụm từ, câu, mẩu truyện nhiều lần trong
    một lần tiếp xúc.
    - Khó khăn khi đưa ra chọn lựa hay rất dễ nhầm lẫn trong
    tiền bạc.
    - Không thể theo dõi được các vấn đề xảy ra ữong một ngày.

    10

    NHỮNG HIẾU BIẾT MỚI
    VỀ BỆNH ALZHEIMER
    Alzheimer là bệnh thoái hóa c ả não bộ không hồi phục, gây
    nên chứng sa sút trí tuệ ở người ca o tuổi. Tổn thương tế bào
    thân kinh ở vỏ não và những cố u trúc xung quanh làm sa
    sút trí nhớ, giám phôi hợp vận động, giảm cám giác, nhận
    cảm sai..., cuối cùng là mốt trí nhớ và chức năng tâm thần.

    Những ai dễ bị Alzheimer?
    Đây là bệnh gây tử vong ở người cao tuổi đứng hàng thứ
    4 hiện nay, có khoảng 4 triệu người Mỹ và hơn 8 triệu người
    trên thế giới mắc bệnh. Những yếu tố sau đầy góp phần tăng
    khả năng mắc bệnh Alzheimer:
    Tuổi: Là yếu tố nguy cơ lớn nhất, bát đầu từ tuổi 65 thì mỗi
    5 năm có gấp đôi sô" ca bị Alzheimer. Vào tuổi 85 thì có phân
    nửa số người bị bệnh Alzheimer.
    Giới tính: Phụ nữ dễ bị bệnh hơn nam giới.
    Dân tộc: Mỗi dân tộc có tần suất mắc bệnh Alzheimer khác
    nhau. Người da trắng ít mắc bệnh hơn người Mỹ gốc Phi hoặc

    11

    Tây Ban Nha. Người châu Á cũng ít mắc bệnh hơn người ở nơi
    khác. Người ta còn cho rằng bệnh chịu ảnh hưởng của yếu tô'
    môi trường, thí dụ người Nhật sông tại Mỹ có tỉ lệ mắc bệnh
    cao hơn hẳn so với người Nhật sông tại Nhật.
    Cao huyết áp và tăng cholesterol máu: Nhiều nghiên cứu
    cho thấy người có huyết áp tâm thu cao hoặc tăng cholesterol
    máu sẽ có nguy cơ cao bị Alzheimer.
    Hội chứng Down: Người bị chứng này sẽ bị Alzheimer khi
    sông đến 40 tuổi và những bà mẹ sinh con bị Down sẽ có nguy
    cơ cao bị Alzheimer.
    Nguyên nhân dẫn đến Alzheimer
    yêu tô' sinh học của não
    Nhờ tiến bộ trong lĩnh vực hình ảnh học, người ta đã phát
    hiện người bị Alzheimer có sự mâ't tế bào thần kinh và giảm
    thể tích những vùng não chi phô'i trí nhớ, vùng đảm nhận tâm
    thần kinh. Dưới kính hiển vi điện tử, khi xem xét mô não của
    người mắc bệnh Alzheimer, về phương diện tế bào học người
    ta thấy có tổn thương về mặt sinh học, đó là sự thoái hóa của
    các sỢi dây thần kinh, hoặc bị tổn thương chỉ còn là những ống
    nhỏ ngăn cản vận chuyển chất dinh dưỡng nuôi tế bào thần
    kinh. Vấn đề này liên quan đến một loại protein tên là Tau.
    Kế đến là sự xuất hiện của protein có tên là Beta Amyloid,
    chúng không hòa tan nên tích tụ thành những mảng keo. ở
    bệnh nhân Alzheimer, những chất này nằm ximg quanh các tế
    12

    bào thần kinh chết, một loại protein có tên Amyloid precursor
    (APP) cũng tồn tại ở đây giúp cho hoạt động hủy hoại tế bào
    thần kinh của Beta Amyloid. Sự có mặt quá nhiều của Beta
    Amyloid sẽ làm giảm chất trung gian dẫn truyền thần kinh
    acetylcholine cần thiết cho ữí nhớ. Beta Amyloid cũng ngăn
    chặn sự vận chuyển ion kali, naữi, calcium qua màng tế bào
    (giúp cho quá trình truyền tín hiệu thần kinh). Ngoài ra còn có
    vai trò của một số chất protein khác như ERAB (endoplasmicreticulmn associated binding protein), mảng AMY (giông beta
    Amyloid), Par-4 (prostate apoptosis response-4).
    Sự oxy hóa và đáp ửng viêm

    Nhiều nghiên cứu đâ cố gắng đi sâu tìm hiểu tại sao Beta
    Amyloid lại gây tổn thưong não trong bệnh Alzheimer và đã
    phát hiện ra sự xuất hiện của các gô"c oxy tự do. Sự xuất hiện
    nhiều chất này sẽ làm tổn thương tế bào thần kinh. Thật ra sự
    xuất hiện các chất oxy hóa là sản phẩm của hầu hết những
    phản ứng hóa học trong cơ thể con người nhưng với một lượng
    dư thừa sẽ gây hại (chết oxy hóa cũng đóng vai trò quan trọng
    trong bệnh mạch vành và ung thư). Ngoài ra chất oxy hóa
    cũng liên quan với đáp ứng miễn dịch, đó là phản ứng viêm
    (men cyclooxygenase và prostaglandin làm tổn thương tế bào
    thần kinh).
    Yếu tốgene

    Các gene đóng vai trò gây khởi phát muộn Alzheimer là
    ApoE2, ApoE3, ApoE4. Còn những đột biến gene PSl, PS2

    13

    hoặc gene kiểm soát APP sẽ làm cho bệnh Alzheimer khởi
    phát sớm hơn.
    Giảm hormone sinh dục nữ: Sự giảm estrogen sau mãn kinh
    có liên quan rõ rệt đến giảm trí nhớ và sa sút tâm thần.
    Yếu tố môi trường: Nhiễm trùng, nhiễm kim loại (người ta
    phát hiện kẽm, đồng tích tụ trong mô não người bị Alzheimer),
    môi trường điện từ trường, nhiễm độc...
    Một số yếu tố khác đã được xác định có liên quan Alzheimer
    là homocysteine, sự thiếu hụt vitamin nhóm B, trầm cảm, chấn
    thương đầu, nhóm người có điều kiện kinh tế kém và học vấn
    thấp...
    Biểu hiện của bệnh Alzheimer
    Đó là sự mất trí nhớ, đây là triệu chứng sớm nhất của
    Alzheimer ở người cao tuổi với một sô" triệu chứng cần quan
    tâm:
    - Mâ"t trí nhớ hoàn toàn.
    - Mất tập trung tư tưởng.
    - Sụt cân không giải thích được.
    - Khó khăn trong việc đi đứng.
    Những triệu chứng này cũng có thể gặp ở người khỏe mạnh
    bị lão hóa, tuy nhiên bác sĩ chuyên khoa có thể phân biệt đưỢc
    triệu chứng này trên người bình thường và bệnh Alzheimer.
    Chẳng hạn người cao tuổi bình thường không bị giảm kĩ năng
    ngôn ngữ, người bị Alzheimer lại bị khó khăn trong việc hoàn
    14

    thành câu hoặc tìm một từ đúng, không có khả năng hiểu
    nghĩa của từ, giao tiếp không hoạt bát, người cao tuổi bình
    thường không bị giảm khứu giác nhưng người Alzheimer bị
    giảm nên thường bị sụt cân nhiều, đặc biệt là ở phụ nữ...
    Ngoài khám bệnh, bác sĩ sẽ chẩn đoán bệnh Alzheimer dựa
    trên điện não đồ, hình ảnh học (CT Scan, MRI, SPECT, PET...),
    xét nghiệm máu, dịch não tủy, test thử khứu giác...
    Bệnh Alzheimer có phòng ngừa được không?
    Dù nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã cố tìm
    những biện pháp nhằm giảm nguy cơ của bệnh, nhưng đến
    nay vẫn chưa có kết quả vì nguyên nhân chính yếu gây bệnh
    chưa được biết đến. Do đó việc phòng ngừa cũng chỉ là hạn
    chế các yếu tô”nguy cơ:
    - Liệu pháp hormone thay thế cả ở nam và nữ: Nhiều
    nghiên cứu trên thế giới cùng ghi nhận kết quả ở phụ nữ dùng
    liệu pháp thay thế hormone đều giảm được triệu chứng sa sút
    trí tuệ. DHEA (dehydroepiandrosterone) dùng chông lão hóa
    ở nữ cũng làm giảm nguy cơ Alzheimer. ở nam giới thì liệu
    pháp thay thế bằng testosteron có hiệu quả giống nữ giới.
    - Thuốc kháng viêm không steroid: Nhiều nghiên cứu cho
    thấy dùng các thuôc kháng viêm loại này sẽ chông lại sự tích
    tụ Beta Amyloid trong não.
    - Statin: Đây là thuôc làm giảm cholesterol máu. Một vài
    nghiên cứu cho thấy những người dùng statin giảm được 70%
    nguy cơ bị sa sút trí tuệ.
    15

    - Chế độ ăn uống:
    Dồu mỡ: Một nghiên cứu ở Hà Lan cho thấy có mối liên
    hệ giữa sa sút ữí tuệ và chế độ ăn nhiều chất béo toàn phần,
    chất béo bão hòa và cholesterol. Tuy nhiên chết béo dạng
    omega-3 có tác dụng chống lão hóa cho tế bào não. Người ta
    khuyên cáo năng lượng từ chất béo chỉ nên ở mức dưới 30%
    tổng nhu cầu hàng ngày.
    Rau quả sậm màu: Có tác dụng bảo vệ não, chông lại sự
    lão hóa.
    Đậu nành: Có chứa một thành phần giô"ng estrogen. Trên
    động vật thí nghiệm cho thấy có tác dụng bảo vệ chông lại
    bệnh Akheimer. Đậu nành đặc biệt tốt cho phụ nữ sau mãn
    kinh.
    Rượu: Nếu dùng lượng vừa phải (một đến hai ly mỗi ngày)
    thì có tác dụng tôt bảo vệ não do kích thích phóng thích
    acetylcholine (chất dẫn truyền thần kinh bị khiếm khuyết
    trong bệnh Alzheimer]. Tuy nhiên nếu dùng quá nhiều sẽ gây
    hại, đặc biệt phụ nữ uống rượu sẽ tăng nguy cơ bị ung thư vú
    và không được dùng khi có thai.
    Polate và vitamin B12: Sẽ làm giảm homocysteine (chất
    làm tăng nguy cơ Alzheimer và bệnh tim mạch].
    Vitamin chống oxy hóa: Chủ yếu là vitamin E và c, chô'ng
    sự giải phóng gô"c tự do làm tổn thương tế bào.
    Tập thể dục: Cho thấy giúp giảm nguy cơ bị bệnh Alzheimer

    16

    khi nghiên cứu trên sô" lượng lớn người cao tuổi và trong thời
    gian dài.
    Vaccine: Người ta dùng vaccine kích thích cơ thể tạo ra
    kháng thể đặc hiệu tiêu hủy các phân tử Beta Amyloid. Đây
    là một cách phòng ngừa tốt nhất nếu nghiên cứu thành công.

    17

    SUY GIẢM TRÍ NHỚ:
    CÃN BỆNH THỜI ĐẠI
    Hiện nay, có rốt nhiều người, không chỉ là những
    người già mà ngay c á nhiều người trẻ tuổi cũng thường
    than phiền về trí nhớ của mình. Khi đối một với những triệu
    chứng suy giám trí nhớ, hàu hết mọi người đều lo láng khi
    sỢ ràng tình trọng này sê tiến triển nỢng và dân đến mốt trí
    nhó. Theo c á c BS chuyên khoa thân kinh, điều này củng có
    thể xây ra nhưng hoàn toàn có thể ngỡn ngừa nếu chúng
    ta hiểu biết về vốn đề này.

    Nguyên nhân nào gây ra giảm trí nhớ?
    Theo các tài liệu y khoa, trí nhớ là một quá toình hoạt động
    của não bộ để ghi nhận, lưu giữ và nhớ lại thông tin khi cần
    thiết. Quá trình này đòi hỏi sự tham gia của nhiều vùng trong
    não như; thùy trán, thùy thái dương, đồi thị,...
    Một thông tin sẽ đưỢc ghi nhận bằng các giác quan, sau đó
    sẽ được mã hóa và lưu trữ ở các kho trong não. Khi cần nhớ
    lại, thông tin sẽ được truy xuất tại các kho và chuyển đến các

    18

    trung tâm phát ngôn hoặc vận động ở các vùng vỏ não tương
    ứng để thực hiện.
    Tùy thuộc vào nội dung thông tin cần nhớ và thời gian ghi
    nhớ mà chúng ta có các cách phân loại trí nhớ khác nhau. Việc
    phân loại này sẽ giúp các thầy thuôh tìm ra nguyên nhân và
    vị trí tổn thương có thể có của bệnh suy giảm trí nhớ.
    Theo phân tích khoa học, thường thì có 3 loại trí nhớ bao
    gồm; ữí nhớ cực ngắn, trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn.
    • Trí nhớ cực ngắn là loại trí nhớ về hình ảnh, âm thanh.
    • Trí nhớ ngắn hạn là trí nhớ công việc. Đó là khả năng nhớ
    lại trong một khoáng thời gian ngắn một thông tin liên quan
    đến tiến trình chú ý. Các thông tin sẽ được ghi nhớ cho đến
    khi hoàn thành công việc và thường quên đi sau đó.
    Tuy nhiên, với những thông tin quan trọng, lặp đi lặp lại có
    thể sẽ đưỢc lưu giữ thành trí nhớ dài hạn. Đây là loại trí nhớ
    rất quan trọng có thể lưu trữ thành những thông tin lâu dài
    như: làm thế nào để làm đưỢc việc, thi cử cùng những thông
    tin quen thuộc như: tên người trong nhà hay bạn bè, địa chỉ...
    Suy giảm trí nhớ có thể là lành tính hoặc bệnh lý. Trong đó,
    suy giảm trí nhớ lành tính là giảm trí nhớ đi kèm với lớn tuổi
    do các thay đổi của thùy trán trước, chủ yếu là suy giảm trí
    nhớ công việc, bao gồm đãng trí và giảm khả năng tập trung,
    khả năng lưu giữ các ý nghĩ lâu dài.

    19

    Những biểu hiện thường gặp là quên ngay một việc mình
    định làm, không tìm thấy đồ vật mình vừa đặt xuống... Riêng
    giảm trí nhớ bệnh lý là giảm hay mất trí nhớ bất thường không
    phải do tuổi tác.

    20

    PHÂN BIỆT GIỮA ALZHEIMER VÀ
    BỆNH MẤT TRÍ NHỚ LÀNH TÍNH
    Giám trí nhớ là một biểu hiện củ a bệnh Abheimer, tuy nhiên
    không phái tốt c á c á c trường hỢp giám trí nhớ đều là bệnh
    này. Người cao tuổi thường hay quên, còn được gọi là tình
    trạng quên lành tính, có nhiều điểm khác với giám trí nhớ
    trong bệnh Aliheimer.

    Quên lành tính
    - Quên những chi tiết không quan trọng, ví dụ như tên của
    những người không quan hệ,
    - Không kèm theo với những rối loạn nhận thức khác.
    - Thường sau đó có thể nhớ lại đưỢc đầy đủ chi tiết. Quên
    từng lúc, thường hay quên hơn khi bị stress hoặc bị thúc giục.
    - Có thể nhớ bất cứ thứ gì nếu họ chú ý và học.
    - Dễ dàng giải quyết sự giảm trí nhớ này bằng các biện pháp
    nhắc nhở đơn giản (như viết một danh sách, gỢi ý...).
    - Giảm trí nhớ làm cho bệnh nhân bực bội và cáu gắt, nhưng
    21

    không bao giờ ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động nghề
    nghiệp và xã hội.
    Giảm trí nhớ trong bệnh Alzheimer
    - Quên những chi tiết quan trọng, ví dụ như tên của con
    cháu.
    - Đồng thời giảm khả năng suy luận và tính toán.
    - Không thể nhớ lại, cố thúc giục, cô' gắng cũng vô ích. Giảm
    trí nhớ tất cả các sự kiện, đặc biệt là những thông tin mới học.
    - Khả năng học các thông tin mới bị suy giảm trầm trọng,
    cho dù họ có tập trung đến mây. Trí nhớ tức thì vẫn bình
    thường nhưng bệnh nhân không thể nhớ lại sau vài giờ, vài
    ngày.
    - Bệnh nhân Alzheimer không những không nhớ cả danh
    sách, mà họ còn không nhớ là họ đã làm danh sách đó.
    - Ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động nghề nghiệp và
    xã hội.
    Bệnh Alzheimer được phát hiện như thế nào?
    Vào một buổi chiều năm 1901, người ta mang một bệnh
    nhân nữ tên là Auguste D. đến phòng khám của bác sĩ Alois
    Alzheimer - một nhà thần kinh học người Đức. Khi đó ông
    mới 37 tuổi nhưng đã là một nhà thần kinh học tên tuổi ở
    Munich. Bệnh nhân này có các rô'i loạn về trí nhớ và hành vi
    như thường thấy ở những người rất già, cũng mất trí nhớ, rối

    22

    loạn về ngôn ngữ, mất khả năng suy luận tính toán... nhưng
    vấn đề là ở chỗ bệnh nhân không già, mới có 50 tuổi.
    Alzheimer dã theo dõi và điều trị cho bệnh nhân suô^t 4
    năm đến khi bệnh nhân qua đời. Khi mổ tử thi, ông rất ngạc
    nhiên thấy bộ não của bệnh nhân hình như co nhỏ lại, các
    rãnh não rộng ra. Khi soi kính hiển vi ông hết sức kinh ngạc
    thấy tổ chức não bình thường dày đặc các tế bào thần kinh
    thì bây giờ các tế bào biến đâu mất, rất thưa thớt, chỉ còn để
    lại những dấu vết mà ông gọi là mảng già. Những tế bào thần
    kinh còn lại cũng không hoàn toàn bình thường, bên ừong có
    những sỢi nhỏ xoắn với nhau thành từng bó, dường như làm
    nghẹt cả tế bào, mà ông gọi là bó tơ thần kinh. Các tổn thương
    này chủ yếu là ở vỏ não, thùy thái dương, đặc biệt là đồi thị.
    Hơn một thế kỷ đã trôi qua, nhưng những phát hiện của
    Alzheimer vẫn giữ nguyên giá trị và căn bệnh mà ông phát
    hiện ra sau này mang tên ông - bệnh Alzheimer.
    Có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh Alzheimer mà chúng ta
    chưa hiểu biết một cách đầy đủ, trong đó di truyền là một yếu
    tô' quan trọng. Các gene gây bệnh đưỢc phát hiện trong một
    số ít các trường hỢp Alzheimer có tính chất gia đình, thường
    khởi phát ở độ tuổi 40, 50.

    23

    X Á e ĐỊNH THỦ PHẠM G Â Y
    MẤT TRÍ NHỚ ở BỆNH NHÂN
    ALZHEIMER
    C á c nhà nghiên cứu thuộc ĐH Northwestern (Mỹ)
    vừa "lật tẩy" một protein trong não là thủ phợm chính
    cướp đi trí nhớ củ a những người bị Aìiheimer. Nhờ phát hiện
    này, họ sê có thêm thõng tin về tiến trình phát triển
    củ a bệnh cũng như bào c h ế c á c loợi thuốc có thể phục
    hồi trí nhớ củ a bệnh nhân.

    Các chuyên gia đã phát hiện mô não của bệnh nhân
    Alzheimer có số lượng protein tích tụ dễ hòa tan - hay còn
    gọi là ligand gốc B khuếch tán dạng tinh bột (ADDLs) - nhiều
    hơn khoảng 70 lần so với não của người bình thường. Nghiên
    cứu này củng cố cho một giả thuyết mới đây rằng ADDLs tích
    tụ vào giai đoạn đầu của căn bệnh và vô hiệu hóa chức năng
    ghi nhớ.
    ADDLs tấn công hoạt động xây dựng ưí nhớ của các khớp
    thần kinh - những điểm truyền thông tin trong não - nơi các
    24

    neuron trao đổi thông tin. Khi tác động đến khớp thần kinh,
    ADDLs cũng tác động đến neuron nhưng không tiêu diệt chúng.
    “Hơn chục năm nay, giới nghiên cứu đều nghĩ những phân
    tử lớn - các bó sỢi thần kinh - gây ra hàng loạt vấn đề về trí
    nhớ. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng “thủ phạm ” chính là
    ADDLs...”, trưởng nhóm nghiên cứu - GS. VVilliam L. Klein
    - cho biết trong một thông cáo báo chí. “Nếu chúng tôi có
    thể phát triển một loại thuôc nhắm tới và trung lập hóa các
    neurotoxin (độc tô" thần kinh), quá trình mầ"t trí nhớ không
    những có thể chậm lại mà còn đưỢc đảo ngưỢc và chức năng
    ghi nhớ sẽ trở lại hoạt động bình thường”,
    Alzheimer là bệnh gây sa sút trí tuệ (dementia) do tổn
    thương chất xám của vỏ não. Bệnh nhân bị giảm trí nhớ, rôl
    loạn ngôn ngữ, mất khả năng sử dụng động tác, không nhận
    biết đưỢc, rô"i loạn chức nàng tổ chức thực hiện như khả năng
    vạch kế hoạch, tổ chức, sắp xếp trình tự, và tóm tắt công việc.
    Bệnh phát triển từ từ cho tới khi trí tuệ bệnh nhân sa sút trầm
    trọng, phải nằm liệt giường, không nhận biết đưỢc người thân,
    không thể tự ăn uống và tự chủ đại, tiểu tiện. Thể trạng dần
    dần suy kiệt và tử vong do các bệnh nhiễm trùng.
    Người bị Alzheimer cần đưỢc theo dõi và chăm sóc đặc biệt
    vì họ không thể tự phục vụ. chế độ ăn phải đủ chất và bổ sung
    các vitamin, uông đủ nước, vệ sinh thân thể, xoa bóp, tập vận
    động và xoay trở người thường xuyên. Khoảng 80% người già
    bị sa sút trí tuệ là do bệnh này. Bệnh xảy ra ở cả nam lẫn nữ,
    bất kỳ lứa tuổi nào sau 30 tuổi, nhiùig đại đa số phát bệnh vào
    tuổi già (trên 65-70 tuổi).
    25

    NGƯỜI CAO TUỔI:
    HUYẾT Á_p CÀ N G THẤP
    CÀ N G DỄ MẤT TRÍ NHỚ
    Những người cao tuổi, huyết áp cà n g thốp thì
    nguy cơ bị mất trí nhớ càng cao, một nghiên cứu mới củ a
    ĐH y Albert Einstein, ỏ New York cho biết. Nguy cơ này
    củng gán liền với bệnh mốt trí kiểu Alzheimer và
    rốt ca o ở những người bị huyết á p thốp.

    Những người ngoài 75 tuổi, huyết áp càng thấp thì nguy cơ
    bị mất trí nhớ càng cao. Nguy cơ này cũng gắn liền với bệnh
    mất ưí do Alzheimer gây ra và rất cao ở những người bị huyết
    áp thấp.
    ĐH Y Albert Einstein, New York, Mỹ, tiến hành một nghiên
    cứu cộng đồng với 122 chủ thể, chủ yếu là những người cao
    tuổi bị mất trí. Các tác giả nhận thây rằng huyết áp tâm trương
    dưới 70mm thì rất có khả năng bị chứng mất ữí nhớ. Đặc biệt,
    huyết áp giảm lOmm thì nguy cơ bị mất trí tăng 20%.

    26

    Huyết áp thấp cũng có liên quan
    đến bệnh mất trí nhớ kiểu Akheimer,
    không cùng loại với các nhóm bệnh
    mất trí nhớ do mạch m áu não bị
    nghẽn. Và những người có mức huyết
    áp thấp kéo dài liên tục trong hai
    năm có khả năng bị mất trí nhớ cao
    gấp hai lần.
    Những phân tích xa hơn về vấn
    đề này cho thấy chứng mất trí kiểu Alzheimer ở những người
    có huyết áp tâm thu cao giảm với một mức độ vừa phải. Tuy
    nhiên, những điều này vẫn chưa có cơ sở chắc chắn.
    “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy huyết áp thấp
    có thể là nguyên nhân và kết quả của chứng mất ưí nhớ”, các
    nhà nghiên cứu cho biết.

    27

    BỆNH ALZHEIMER - NGUY HIỂM
    Từ QUÁ TRÌNH LÃO HÓA
    Bệnh Alzheimer là một bệnh gây sa sút trí tuệ hay mất trí
    nhớ do tổn thương chất xám của vỏ não. Khoảng 80% người
    già bị sa sút trí tuệ là do bệnh này. Bệnh thường xảy ra ở
    những người có tuổi từ 50-80. Bệnh biểu hiện bằng suy giảm
    các khả năng trí tuệ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho lao
    động nghề nghiệp và giao tiếp xã hội của bệnh nhân, bao gồm:
    giảm trí nhớ, rô'i loạn về ngôn ngữ, mất khả năng sử dụng các
    động tác, cũng như mất khả năng nhận biết. Nguyên nhân của
    bệnh Alzheimer được cho là do sự hiện diện của các mảng
    protein dạng tinh bột beta (A6 - protein amyloid beta) bám ở
    não làm cho não bị tổn thương. Nghiên cứu mới đây cho thấy
    sô lượng bệnh nhân Alzheimer là 16 triệu ở Mỹ và 1,5 triệu ở
    Nhật Bản. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương có khoảng 4,3
    triệu ca mất trí mới/nãm, trong đó 50" lượng mắc bệnh mất trí
    nhớ tuổi già Alzheimer chiếm tỉ lệ lớn.
    Cơ chế ở mức độ phân tử của bệnh mất trí nhớ tuổi già
    Alzheimer vừa đưỢc công bô' đã giải thích tại sao bệnh

    28

    Alzheimer thường xảy ra ở những người có tuổi từ 50-80. Cơ
    chế này giải thích bệnh Alzheimer có liên quan đến quá trình
    lão hóa cũng như môi liên hệ giữa quá trình lão hóa và các
    protein có độc tính trong các mảng bám protein. Kết quả cho
    thấy các yếu tố có liên quan chủ yếu đến sự điều hòa quá ữình
    lão hóa là HSF-1 (heat shock íactor 1) và DAP-16 có vai trò
    trong hoạt động kích thích và ức chế sự hình thành các mảng
    bám A6 và cả hai đều có chức năng phối hỢp với nhau trong
    việc ngăn chặn bệnh Alzheimer.
    Giống như là các bệnh thoái hóa thần kinh khởi phát muộn
    khác, bệnh Alzheiraer có mối liên hệ với sự kết tập các protein
    có độc tính khác thường, đặc biệt là các peptide AB có thể
    kết tập lại với nhau đưỢc phân hủy từ các tiền protein dạng
    amyloid {amyloid precursor protein). Nhưng tại sao quá trình
    kết tập AB có độc tính này lại liên quan đến quá trình lão hóa
    vẫn chưa được giải thích rõ ràng.
    Dillin và cộng sự ở Viện Nghiên cứu Sinh học Salk, Hoa
    Kỳ, đã khảo sát tác động của kéo dài tuổi thọ hoặc làm giảm
    quá trình lão hóa trên giun c. elegans có làm chậm hình thành
    các kết tập AB gầy bệnh Alzheimer hay không. Nếu như có
    sự tác động như vậy, quá trình tấn công muộn của Alzheimer
    sẽ trở thành hoạt động khử độc và hoạt động này kiểm soát
    quá ừình lão hóa. Còn nếu như không có mối liên hệ thì quá
    trình hình thành các kết tập có độc tính phụ thuộc vào thời

    29

    gian này sẽ đạt tới một ngưỡng và gây ra quá trình tấn công
    muộn của bệnh Alzheimer.
    Nhằm phân biệt giữa 2 khả năng đó, các nhà nghiên cứu
    đã phá hủy quá trình chuyển hóa tín hiệu insulin. Đây là quá
    trình liên quan chính đến quá trình lão hóa ở giun, ruồi, và
    động vật có vú. ở giun

    c. elegans thì chỉ có 1 thụ thể insulin

    duy nhất là DAF-2. Bình thường, sự chuyển đổi tín hiệu này
    làm giảm sự biểu hiện ở gene tham gia vào quá trình giải mã
    ra yếu tố DAF-16 và HSF-1 và kết quả là làm giảm tuổi thọ.
    Bằng kĩ thuật đột biến làm mất gene DAF-2 ở c. elegans, các
    nhà nghiên cứu thấy ở giun có sự kéo dài tuổi thọ thì có sự
    giảm độc tính của sự kết tập A6. Do đó, quá trình khởi phát
    trễ trở thành cơ chế giải độc chứ không phải là sự tích lũy
    có độc. Đột biến ở cả 2 gene là DAF-2 và một trong hai gene
    DAF-16 hay HSF-1 đều cho kết quả ngưỢc lại.
    Kết quả này đã đưa ra một cơ chế trong đó có môd liên hệ
    giữa quá trình lão hóa và bệnh Alzheimer khởi phát muộn.
    Khi có sự hình thành mảng bám A6, hoạt động HSF-1 là điều
    chỉnh quá trình chống sự hình thành mảng bám. Hoạt động
    của DAF-16 lại liên quan đến quá trình thay thế (có thể có
    chức năng như là quá trình dự phòng) kiểm soát quá trình
    hình thành các mảng bám A6 có khôd lượng phân tử lớn ít độc
    tính. Bởi vì cả hai quá trình giải độc này đưỢc điều khiển bởi
    chuyển hóa tín hiệu insulin có liên quan đến quá trình lão

    30

    Luyện tập thể dục
    vá uống trà xanh
    có thể phòng ngừa
    bệnh AIzheimer!

    hóa, do đó cả hai có thể tác động đến quá trình lão hóa và
    dẫn đến sự hình thành các mảng bám A6.
    Thêm một điều cần nhấn mạnh là quá trình chuyển hóa
    tín hiệu insulin cũng liên quan đến quá trình hình thành các
    mảng bám có độc tính khác như là trong trường hỢp của bệnh
    Huntington. Do đó các nghiên cứu tiếp theo trên quá trình
    chuyển hóa tín hiệu này có thể giúp ích cho quá trình điều trị
    các bệnh suy thoái chức năng thần kinh khởi phát muộn liên
    quan đến quá trình hình thành mảng bám như Alzheimer,
    Huntington... mà cho đến nay vẫn chưa có thuôh điều trị hiệu
    quả.

    31

    NGƯỜI TÌM RA THỦ PHẠM
    G Â Y MẤT TRÍ NHỚ
    Prion là một vi sinh vật ngoợi lệ, nhỏ hơn virus 100 lân.
    Nó cđu tợo là proteln và không có bất kỳ a cid nucleìc
    (vật Chat di truyền) nào được tìm thây. Nhiều nhà khoa học
    cho ràng prion là nguyên nhởn g â y ra bệnh thổn kinh ở cừu
    và c á c bệnh thoái hóa hệ thần kinh trung ương ở người.
    Prion được phát hiện vào cuối thế kỷ XX nhờ côn g lao to lớn
    củ a Stanley B.Prusiner, một nhà khoa học người Mỹ đã kiên
    định, dũng cám vượt quơ vô vàn khó khán cũng như sự
    nghi ngờ củ a giới khoa họ c đ ể chứng minh và b ào vệ
    phát minh củ a mình.

    Từ bệnh nhân đầu tiên
    Vào khoảng giữa năm 1972, khi Prusiner đang học tại Khoa
    thần kinh của Đại học Caliíornia, San Prancisco, ông đã tiếp
    nhận một bệnh nhân nam có những biểu hiện mất trí nhớ tàng
    dần khiến người bệnh khó thực hiện những công việc thường
    nhật của mình. Prusiner đã rất ngạc nhiên khi phát hiện ra
    rằng người bệnh này đang chết dần bởi nhiễm “loài virus

    32

    chậm” có tên gọi là Creutzfeldt-Jakob disease (CJD), một loại
    bệnh không gây nên phản ứng từ sức đề kháng của cơ thể và
    còn nhiều giả thuyết khác nhau về tác nhân gây bệnh. Bên
    cạnh đó, những hiểu biết của ông về đặc tính kinh ngạc của
    “virus chậm” cũng như những triệu chứng đã từng xuất hiện
    ở người như bệnh kuru của tộc người Fore ở New Guinea và
    bệnh scrapie ở cừu đã cuốn hút tâm trí ông. Mặc dù gặp nhiều
    khó khăn trong quá trình nghiên cứu, nhiều lúc tưởng chừng
    như đổ vỡ nhưng với tính kiên định và sự nhẫn nại của mình,
    Prusiner đã tìm ra đưỢc nguyên nhân gây ra “virus chậm”. Khi
    thuật ngữ “prion” - vi sinh vật ngoại lệ - xuất hiện trên một
    tạp chí khoa học đã thổi bùng ngọn lửa tranh luận. Các nhà
    vi khuẩn học hoài nghi và các nhà điều tra đang nghiên cứu
    về scrapie và CJD nổi giận. Tuy nhiên, khoa học bao giờ cũng
    có tiếng nói riêng và sự thật luôn luôn là chân lý.
    Đến khám phá trong phòng thí nghiệm
    Stanley Prusiner bắt đầu nghiên cứu về vi sinh vật ngoại lệ
    từ bệnh nhân đầu tiên của ông cũng như các bệnh kuru, bệnh
    điên ở cừu... khi những bệnh này được phát hiện là có thể
    truyền nhiễm thông qua các phần não bị nhiễm bệnh. Nhiều
    nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh này đã được thực hiện
    trong suô't thập niên 1950 và 1960, những bệnh này cho thấy
    bệnh lý học chung thông qua sự phá hủy não của các cá thể
    nhiễm bệnh. Thời gian ủ bệnh có thể kéo dài một vài năm.
    Trong suô"t thời gian ủ bệnh, các vùng não bị nhiễm bệnh

    33

    ^

    lừng bước xuất hiện các
    vết xô"p. Những bệnh
    ■'
    này có thể lây lan sang
    người. Các nghiên cứu
    khoa học cũng đã chứng
    minh rằng đây là những
    căn bệnh truyền nhiễm.
    Tuv nhiên, bản chất của
    lác nhân gây bệnh vẫn
    hoàn toàn chưa đưỢc
    hiết đến. Vào thời điểm
    Mô hình cấu trúc protein prion.
    đổ, những bệnh nàv
    đưỢc giả định là do một loại virus mới chưa xác định, đưỢc gọi
    là một loại virus chậm hoặc bất thường. Trong thập niên tiếp
    theo vẫn không có phát hiện nào đáng kể cho đến khi Stanley
    Prusiner tiến hành nghiên cứu. ông bắt đầu phân lập các tác
    nhân gây nhiễm và sau 10 năm làm việc miệt mài và tận tụy,
    ông đã phát hiện ra rằng tác nhân gây bệnh đó chỉ chứa một
    loại protein, loại mà ông đã đặt tên là prion, một thuật ngữ
    bắt nguồn từ các mẫu gây nhiễm có chứa protein. Thật ngạc
    nhiên, ông đã phát hiện ra rằng loại protein này hiện diện
    với một lượng tương ứng trong óc của cả cá thể nhiễm bệnh và
    khỏe mạnh. Khám phá này gây ra hàng loạt những thắc mắc.
    Làm thế nào để một protein có thể gây bệnh nếu như nó hiện
    diện trong óc cả người bệnh và người khỏe mạnh? Prusiner
    đã chỉ ra rằng protein prion từ óc người bệnh c...
     
    Gửi ý kiến