Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Bệnh cao huyết áp và cách điều trị

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 09h:17' 18-03-2024
    Dung lượng: 13.2 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    HOÀNG THÚY

    (Biên soạn)

    '

    B ệnh



    ĐIỂỦTRỊ

    %

    SệhA t Ầ 9

    ịk f A < ị ti

    Ắf t/ầ tẮtU Min tĩỊ

    B.ÊNH CAO HUYẾT ÁP
    VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ
    H O À N G THUÝ
    (Biẽn soạn)

    NHÀ XUẤT BẢN DÀN TRÍ

    LỜI NÓI ĐẦU

    Cao huyết áp là một loại bệnh tổng hợp và ngày càng trở
    nên phổ biến. Mặc dù, có khá nhiều người cho rằng đây chỉ
    là một dạng bệnh nhẹ, nhiỉng nếu như không có sự chữa trị
    kịp thời thì nó có thê dẫn đến nhiều vấn đề ngỉmm trọng đối
    với sức khỏe.
    Trên tỉiỊtc tế, càng có được nhiều thông tin và càng hiểu
    biết rõ về căn nguyên củng như hậu quả của bệnh cao huyết
    áp thì bệnh nhân càng có thái độ hợp tác và có thêm nhiều cơ
    hội đê chữa trị bệnh tật bằng chính nỗ lực của họ.
    Cao huyết áp khi ỏ giai đoạn nặng có thể gãy xuất huyết
    ỏ nhiều bộ phận như xuất huyết võng mạc, gây mờ mắt hoặc
    mù loà. Đặc biệt là xuất huyết mạch máu não, gây liệt nửa
    người, nó đê lại những di chứng không thể hồi phục được,
    ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống; trong trường hợp nặng
    có thể nguy hiểm đến tính mạng.
    Trong những năm gần đây, ước tính tỷ lệ mắc bệnh cao
    huyết áp ở Việt Nam vào khoảng 16% và ngày càng có
    hướng gia tăng nhanh chóng. Tỷ lệ mắc bệnh cao huyết áp ỏ
    các nước phương Tây là 20-25%. Cao huyết áp khi huyết áp
    vượt quá giới hạn bình thường (> 140/90 mmHg). Nếu không
    điều trị đầy đủ sẽ gây biến chứng trầm trọng như suy tim, liệt
    nửa người, suy thận... Chính vì vậy, ngành y tế trên toàn thế
    giới rất quan tâm đến bệnh lý này. Và, nó là lý do có “Ngày
    quốc tế về cao huyết áp - 17/5” nhằm mục đích phòng chống
    bệnh cao huyết áp.
    Cuốn sách nhỏ này được biên soạn nhằm mục đích giới
    "Eệnh cao hnyci áp và cách điỈ4i ir ị

    5

    thiệu tất cả các kiến thức liên quan cần thiết dành cho người
    bị cao huyết áp: nguyên nhân, hậu quả và cách chữa trị bệnh
    bằng sự trình bày mạch lạc, cô đọng và dễ hiểu.
    Trong đó, bạn sẽ được hỗ trợ những thông tin cần thiết
    khi tìm hiểu về bênh cao luiyết áp. Ngoài ra, cuốn sách còn
    cung cấp những lời khuyên chân thành, kinh nghiệm quý báu
    và các bài thuốc phòng, chữa bệnh hiệu quả để người bệnh
    củng như người thân trong gia đình biết cách chữa bệnh và
    dự phòng những tai biến.
    Chúng tôi hy vọng cuốn sách sẽ giúp ích được cho bạn
    đọc và củng mong muốn có dược sự đóng góp ý kiến của độc
    giả bốn phương.
    NGƯỜI BIÊN SOẠN

    6 HOÀNG THUÝ - biên sọan

    P hần I
    TỐNG QUAN
    VỀ BÊNH CAO HUYẾT ÁP
    I. TÌM HIỂU VỀ CAO HUYẾT ÁP
    1. Huyết áp là gì?

    Chứng cao máu có tên y khoa là Cao huyết áp
    (Hypertension). Cao huyết áp là từ để chỉ trạng thái
    tăng áp lực của máu trong động mạch.
    Huyết áp mà người ta thường gọi là áp lực máu
    trong động mạch, thường hay được đo ở động mạch
    cánh tay. Khi cần thiết, thầy thuốc có thể đo huyết áp
    cả ở động mạch đùi, động mạch khoeo...
    Áp lực của máu lên thành động mạch do hai yếu tố
    quyết định: Sức đẩy của cơ tim và sự co bóp đàn hồi của
    thành mạch.
    Bình thường khi tim co bóp tống máu từ tâm thất
    trái vào động mạch chủ, nhờ sự co bóp đàn hồi của lớp
    cơ trong thành động mạch, máu lưu thông chạy theo hệ
    động mạch tới các tế bào để cung cấp oxy và các chất
    dinh dưỡng cho nhu cầu của toàn cơ thể. Khi tim co
    bóp, áp lực máu trong động mạch lớn nhất, gọi là huyết
    áp tâm thu hay huyết áp tối đa. Khi tim nghỉ, các cơ tim
    giãn ra tao nên áp lực âm tính trong vách buồng tim đê
    hút máu về. Lúc này áp lực trong động mạch máu
    xuống thấp nhất, ta đo được huyết áp tăm trương hay
    ..................................................

    'Sệ.nh cao koyèi áfi và cách đièị! ivỊ

    1

    huyết áp tối thiểu.
    2. N hư thế nào gọi là bệnh Cao huyết áp?

    ớ người khoẻ mạnh, có huyết áp tối đa (huyết áp
    tâm thu) là 120mmHg và huyết áp tối thiểu (huyết áp
    tâm trương) là SOmmHg và thường biểu thị bằng chỉ số
    120/80mmHg. Nếu huyết áp tối đa là MOmmHg và
    huyết áp tối thiểu là 90mmHg được coi là cao huyết áp.
    Nếu huyết áp tối đa nằm trong khoảng 140 - lóOmmHg,
    và huyết áp tối thiểu nằm trong khoảng 90- 95mmHg,
    được coi là tăng huyết áp giới hạn. Tuy nhiên, huyết áp
    còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nữa.
    Ví dụ vào giới tính, ở nam huyết áp thường cao hơn
    nữ. Vào lứa tuổi người già thường có huyết áo cao hơn
    người trẻ thường từ 10-20mmHg. Vào vị trí trong cơ
    thể; huyết áp tối đa ở chân thường cao hơn ở tay
    20mmHg còn huyết áp tối thiểu thì không chênh lệch.
    Người ta thường chia bệnh cao huyết áp ra làm 2 loại:
    Loại cao huyết áp thường xuyên có thể lành tính và có
    thể ác tính; loại tăng huyết áp cơn trên cơ sở huyết áp
    bình thường, có những cơn cao vọt, những lúc này
    thường gây tai biến.
    ở người lớn bình thường khoẻ mạnh, huyết áp đo
    được thường khoảng 120/80mmHg. Mức huyết áp lý
    tưởng nên thấp hơn 140/85mmHg và nếu huyết áp cứ
    thường xuyên cao hơn mức này và thậm chí có lúc lên cao
    hơn 160/90mmHg, thì cần phải được điều trị thích hợp.
    Mặc dù vậy ở mỗi quốc gia, dựa vào điều kiện cụ
    thể, có các quy định riêng về chỉ số huyết áp. ớ Trung
    Quốc có lúc dựa vào độ tuổi để xác định tình trạng cao
    8 HOÀNG THUÝ-biên sọan

    huyết áp:

    Độ tuổi
    <39
    <40-49
    <50-59
    >60

    Huyết áp tối đa

    Kết luận

    >140
    >150
    >160
    >170

    Cao huyết áp
    Cao huyết áp
    Cao huyết áp
    Cao huyết áp

    ở Hoa Kỳ theo quy định của Viện Sức khoẻ JNC thì
    tình trạng huyết áp được quy định thành 4 giai đoạn:
    Huyết áp Huyết áp
    Tình trạng huyết áp
    tối đa
    tối thiểu
    (mmHg) (mmHg)
    <130
    <85
    Bình thường
    130-139
    85-89
    Bình thường cao
    140-159
    90-99
    Cao huyết áp nhẹ - giai đoạn 1
    160-179
    100-109
    Cao huyết áp vừa - giai đoạn 2
    180-209
    110-119
    Cao huyết áp nặng - giai đoạn 3
    >220
    >120
    Cao huyết áp rất nặng - giai đoạn 4
    Viện Dinh dưỡng Việt Nam dựa trên cơ sở mức
    phân loại của Uỷ ban Liên kết Quốc gia về tăng Huyết
    áp của Hoa Kỳ (1993) phân độ nặng của huyết áp cao
    thành 4 giai đoạn:
    Giai
    đoạn
    1
    2
    3
    4

    Huyết áp tối đa
    (mmHg)
    140-159
    160-179
    180-209
    >210

    Huyết áp tối thiểu
    (mmHg)
    90-99
    100-109
    110-119
    >120

    Theo con số điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam
    'Eệnh cao htvà cách điền ir ị

    9

    thì huyết áp bình thường của người Việt Nam là
    120/75mmHg. ở nam giới thường là 122/76mmHg và ở
    nữ giới 119/75mmHg.
    Tuy nhiên đối với người bị cao huyết áp, cũng có
    thể chỉ tăng huyết áp tối đa còn huyết áp tối thiểu vẫn
    bình thường; cũng có thể chỉ tăng huyết áp tối thiểu
    còn huyết áp tối đa vẫn bình thường; hoặc có thể tăng
    cả huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu khi hiệu số của
    huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu nhỏ, khoảng 1520mmHg. Huyết áp tối thiểu >100, lúc này cơ thể rất
    mệt mỏi và khó chịu.
    3. Huyết áp được điều hoà như thế nào?

    Huyết áp được điều hoà bởi cả não bộ và thận. Vùng
    não kiểm soát vòng tuần hoàn của máu nhận được tín
    hiệu về mực huyết áp từ các dây thần kinh cảm thụ
    huyết áp trong động mạch. Nó đáp ứng các tín hiệu này
    bằng cách ra lệnh cho các mạch máu nhỏ hơn, gọi là các
    tiểu động mạch, giãn ra hay co lại khi cần. Điều này gây
    nên sức ép lên các động mạch.
    Huyết áp còn được điều hoà cục bộ bởi một số
    hormone có tên là rennin, do thận tiết ra. Sự sản xuất
    rennin lại gây ra việc phóng thích một chất khác có
    trong máu là angiotensin, chất này làm co hẹp các tiểu
    động mạch và làm huyết áp tăng cao. Angiotensin cũng
    có thể khiến tuyến thượng thận phóng thích ra một loại
    hormone làm cho thận tích trữ muối nhiều hơn. Muối
    làm tăng lượng máu đổ đến trong vòng tuần hoàn,
    khiến cho huyết áp tăng cao.
    Cao huyết áp kéo dài sẽ gây nên sức ép nặng nề cho
    các động mạch. Nếu để lâu không chữa trị khiến cho động
    10 HOÀNG THUỶ-biên sọan

    mạch bị chai cứng và co hẹp lại. Huyết áp có thể bị tăng
    cao mà ta không hề hay biết. Người thường xuyên có
    huyết áp tăng cao cần phải được điều trị thích hợp.
    II. PHÂN LOẠI CAO HUYẾT ÁP
    1. Phân loại theo Y học hiện đại

    Theo y học hiện đại bệnh cao huyết áp được chia
    làm 2 loại:
    - Nguyên phát: Loại cao huyết áp không rõ nguyên
    nhân; có thể do bẩm sinh, thể loại này chiếm tỷ lệ cao
    tới 85-90% trong tổng số người bị cao huyết áp.
    Thứ phát: Loại cao huyết áp có sau một chứng bệnh
    nào đó. Ví dụ: Viêm cầu thận, viêm bể thận, u thận, lao
    thận, bệnh nội tiết, phì đại thượng thận bẩm sinh, hẹp
    động mạch chủ, nhiễm độc thai nghén, hoặc tinh thần
    căng thẳng...
    2. Phân loại theo Y học cổ truyền

    Y học cổ truyền coi bệnh cao huyết áp là bệnh
    thuộc chứng huyễn vựng, đầu thống, can dưcfng thượng
    cường. Căn cứ vào chứng trạng bệnh, người ta chia làm
    một số loại hình như sau;
    a. Can nhiệt (can dương thượng cang):
    Các triệu chứng thường gặp: Đau đầu, căng đầu,
    hoa mắt, mắt đỏ, ù tai, môi miệng khô, đắng, chân tay
    hay bị co rút, tê bì, đầu lười đỏ, rêu trắng hoặc hơi vàng,
    mất ngủ, lòng bàn tay chân nóng, mạch huyền.
    h. Đàm hoả nội thịnh (đàm thấp):
    Thể hiện mắt mờ, đầu căng, đau đầu, ngực sườn đầy
    'Bệnh cao hnyếi áp uà cách điền i f ị

    11

    tức, mắt đỏ, miệng khô đắng, đờm dính quánh, rêu lưỡi
    vàng dầy, đầu lưỡi đỏ hay lợm giọng buồn thường gặp ở
    những người có thể trạng béo, có hàm lượng cholesterol
    cao (mỡ trong máu cao).
    c. Âm hư dương thịnh:
    Nguyên nhân do phần âm trong cơ thể bị suy yếu,
    phần âm không đủ để ức chế hoả; hoả vượng lên mà gây
    ra bệnh.
    Biểu hiện: Hoa mắt, chóng mặt, đầu nặng chân
    bước không thật, tai ù, phiền não dễ cáu gắt, chân tay tê
    bì, chất lưỡi đỏ, rêu trắng, mỏng, mạch huyền.
    d. Can thận âm hư:
    Các triệu chứng thường gặp là nhức đầu hoa mắt, ù
    tai, hay hoảng hốt, dễ sỢ hãi, mắt hay bị đỏ, miệng khô,
    chất lưỡi đỏ, ít rêu. Lưng đau, gối mỏi, di tinh; khi ngủ
    hay bị mê; mạch huyền, tế, sác. Thể này thường gặp ở
    những người già mà động mạch bị xơ cứng.
    đ. Thể tàm tỳ hư:
    Thường xảy ra ở người cao tuổi, có kèm theo các
    chứng viêm loét dạ dày tá tràng biểu hiện hoa mắt, đau
    đầu, da khô, kém ăn, kém ngủ, phân nát. Rêu lưỡi
    mỏng. Mạch huyền, tế.
    e. Thề ảm dương lưỡng hư:
    Biểu hiện chóng mặt, đau đầu; sắc mặt trắng bệch.
    Chân tay lạnh, mềm yếu cơ thể, cơ teo nhẽo, tiểu đêm
    nhiều lần, liệt dương hoạt tinh. Người luôn có cảm giác sợ
    lạnh, gió lạnh, nước lạnh. Người luôn có tâm trạng phiền
    muộn, miệng khô, lưỡi bóng hơi hồng. Màch trầm, tế.
    3. Phân loại cao huyết áp theo giai đoạn bệnh
    12 HOÀNG THUÝ-biên sọan

    Việc phân loại cao huyết áp theo con số huyết áp đo
    được có nhiều hạn chế. số đo huyết áp luôn luôn dao
    động, có khi huyết áp đã hạ xuống ở mức bình thường
    nhưng bệnh cao huyết áp lại đang ở giai đoạn nặng vì
    những biến chứng của nó.
    Việc phân loại bệnh cao huyết áp cũng không đơn
    giản, nó được tranh luận từ nhiều năm ở các nước Âu,
    Mỹ nhưng đến nay vẫn còn chưa thống nhất.
    Trước đây, cách phân loại của Miasnhicop trong
    những năm 1940 ở Viện Tim học lâm sàng Moscơva
    làm quá chi tiết nên việc áp dụng trên lâm sàng nhiều
    khi rất khó khăn.
    Năm 1978, trong Báo cáo kỹ thuật số 682 Tổ chức Y
    tế Thế giới đã công bố một cách phân loại cao huyết áp
    theo mứa độ nặng nhẹ của các tổn thương hay biến
    chứng do cao huyết áp gây ra. Có 3 giai đoạn:
    Cao huyết ấp giai đoạn I: Không có một dấu hiệu
    tổn thương thực thể nào, chỉ khi đo có huyết áp cao
    mà thôi.
    Cao huyết áp giai đoạn 2: Bệnh nhân có ít nhất
    một trong các dấu hiệu tổn thương thực thể sau đây:
    Dày tâm thất trái thấy được trên X-quang, điện tim,
    siêu âm.
    Hẹp lan rộng hay khu trú các động mạch võng mạc mắt.
    Protein niệu và Creatinin huyết tương tăng nhẹ.
    Cao huyết áp giai đoạn 3: Bệnh nhân đã có tổn
    thương ở các cơ quan:
    Tim: Có suy thất trái.
    Não: Có xuất huyết não, tiểu não hay thân não, bệnh
    não do tăng huyết áp (Encéphalopathie Hypertensive).
    Mắt: Có xuất huyết hay xuất tiết võng mạc, có thể
    có phù gai thị, các dấu hiệu này đặc trưng cho giai đoạn
    caơ hnụèt áfi oà cách điền ir ị

    13

    ác tính.
    Ngoài ra còn có thể có: Cc?n đau thắt ngực, nhồi
    máu cơ tim.
    Huyết khối động mạch trong sọ gây nhũn não.
    Phình tắc động mạch.
    Suy thận.
    Cách phân loại giai đoạn tăng huyết áp dựa vào tổn
    thương do nó gây ra có nhiều ưu điểm:
    Hợp lý về mặt tổn thương.
    Phân loại rành mạch, rõ ràng.
    Dễ áp dụng: Không nhầm lẫn khi phân loại.
    Vì vậy được áp dụng rộng rãi trên thế giới và ở
    nước ta.
    Những nhược điểm của cách phân loại này là: Không
    hề tính đến con số huyết áp, mà con số huyết áp là một chỉ
    dẫn quan trọng cho việc sử dụng thuốc, điều chỉnh liều
    lưcmg thuốc cho phù hợp với từng bệnh nhân.
    Hơn nữa, đánh giá được chính xác các tổn thương
    đã nói ở trên đòi hỏi phải có phương tiện máy móc xét
    nghiệm X-quang, siêu âm, điện tim v.v... mà ở nhiều
    cơ sở y tế nước ta hiện nay chưa có, nên ở các cơ sở
    điều trị đó thì khó có thể phân loại tăng huyết áp theo
    giai đoạn bệnh một cách chính xác được.
    III. MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA CAO HUYẾT áp

    Một số bác sĩ gọi cao huyết áp là “sát thủ giấu mặt”
    bởi vì nó dần gây tổn thương lên tim, mạch, thận và các
    cơ quan khác mà không có, hoặc có rất ít triệu chứng
    báo hiệu. Thực tế là chỉ có phân nửa số người bị cao
    huyết áo nhận biết về nó rõ ràng và đầy đử. Chỉ thỉnh
    14 HOÀNG THƯÝ- biên sọan

    thoảng những đợt cao huyết áp bất thường mới làm cho
    người bệnh bị nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt.
    Đối với người bị cao huyết áp, bác sĩ tìm kiếm
    những dấu hiệu của các cơ quan bị tổn thương - như
    thăm dò xem trong đáy mắt có các mạch máu bị co xẹp
    hay bị dày lên không, trong mắt có hiện tượng xuất
    huyết nhẹ hay không; nghe nhịp tim để dò tìm những
    biểu hiện bất thường; kiểm tra sự lưu chuyển dòng máu
    trong các động mạch và khám bụng để tìm các dấu hiệu
    cho thấy thận bị lớn.
    Những khu vực nguy hiểm ở người mắc bệnh
    cao huyết áp:

    Mắt: Cao huyết áp không gây tổn hại nghiêm trọng
    cho tầm nhìn, cho đến khi nó quá cao. Tuy nhiên,
    những bất thường nơi các mạch máu nhỏ trong võng
    mạc có thể thấy được rất rõ, ngay cả khi huyết áp mới
    chỉ lên chút đỉnh. Đó là chỉ báo cho thấy huyết áp đã có
    lúc tăng cao.
    Tim: Cao huyết áp gây ra sức ép rất lớn lên tim.
    Điều này chỉ là cục bộ vì lượng máu về tim bị giảm và
    cũng bởi vì nó khiến tim phải làm việc nặng nề hơn để
    bơm máu đi khắp cơ thể. Thời gian trôi qua, tim sẽ dần
    bị lớn và yếu đi, các chức năng bị suy giảm.
    Tỉiận: Cao huyết áp làm tổn thương các mô và các tiểu
    động mạch trong thận, khiến nó hoạt động kém hiệu quả.
    Mạch máu: Cao huyết áp không được điều trị sẽ làm
    cho các mạch máu bị hẹp và chai cứng dần, dẫn đến
    chứng xơ vữa động mạch - là tình trạng dày lên của các
    mạch máu, vốn có liên quan đến các bệnh tim mạch.
    Cao huyết áp kéo dài không được điều trị sẽ gây ra
    'Sệ.Hh cao fuiỊfèf âp và cách điền fr ị

    15

    nhiều tổn thương cho các cơ quan khác nhau. Việc điều
    trị kịp thời làm giảm được các nguy cơ phát triển các
    chứng bệnh nguy hiểm.
    IV. NGUYÊN NHÂN GÂY RA BỆNH CAO HUYẾT áp
    1. N guyên nhân bên trong

    Viêm thận:
    Viêm thận cấp tính hoặc mạn tính đều có nguy cơ
    dẫn đến cao huyết áp. Thường có những biểu hiện ban
    đầu là phù; thường bắt đầu từ mặt, mắt (mí mắt trên).
    Thời kỳ đầu huyết áp tăng cao và dao động lớn, thời
    kỳ sau dẫn đến huyết áp tối thiểu tăng; có những biểu
    hiện đau lưng, sỢ lạnh, chân tay mỏi, cơ thể mềm
    nhược. Tiểu ít, nước tiểu thường vàng thẫm; đôi khi
    đục như nước gạo hoặc có máu. Kém ăn, kém ngủ và
    mệt mỏi.
    Viêm đài thận mạn tính:
    Biểu hiện thời kỳ đầu, thân nhiệt thường hạ với
    thời gian kéo dài, đau lưng đi tiểu nhiều lần, không nín
    tiểu được, khi đi thường đau buốt, đầu thường đau
    căng, tim đập nhanh.
    Huyết áp tăng cao, thể trạng suy nhược thiếu máu, phù
    thũng. Trong nước tiểu có thể có máu mủ và vi khuẩn.
    Lao thận:
    Biểu hiện thân nhiệt thấp, tự ra nhiều mồ hôi. Đi
    tiểu nhiều lần, lượng nhiều, thường nước tiểu có máu.
    Có thể biểu hiện các chức năng thận bị giảm kèm theo
    cao huyết áp.
    Nang thận:
    16 HOÀNG THUÝ- biên sọan

    Biểu hiện đau lưng đôi khi đau bụng có thể đi tiểu
    ra máu. Khi các nang phát triển huyết áp thường tăng,
    đồng thời với sự xơ cứng các động mạch.
    Có u ở tuyến thượng thản:
    Biểu hiện tim đập nhanh, hồi hộp, đau đầu, buồn
    nôn, thị lực giảm; ra mồ hôi nhiều, chân tay lạnh và tê
    bì. Đau vùng ngực và bụng. Kém ngủ, tinh thần căng
    thẳng, kèm theo huyết áp tăng.
    Động mạch bị xơ cứng:
    Do thành mạch bị biến đổi, dày lên và xơ cứng, tính
    đàn hồi bị giảm đi, lòng mạch bị nhỏ lại. Trường hỢp
    này thường dẫn đến sự tặng huyết áp tối đa; còn huyết
    áp tối thiểu bình thường hoặc hơi hạ. Thường gặp ở lứa
    tuổi trung niên. Triệu chứng lâm sàng thường biểu hiện
    tim đập nhanh, hồi hộp, động mạch vành bị biến dạng
    dẫn đến đau thắt ngực, cơ tim bị cứng hoá.
    Do hẹp miệng của động mạch chủ thường do bẩm
    sinh (tim tiên thiên). Đa phần thấy ở nam giới. Tính
    chất nặng hay nhẹ là do mức độ hẹp của miệng động
    mạch chủ. Có người khi tuổi trưởng thành mới phát
    hiện thấy. Cơ thể thường biểu hiện mệt mỏi, đau vùng
    tim, tim đập nhanh. Huyết áp ở tay cao, huyết áp ở chân
    lại thấp hơn. Thời giàn đầu huyết áp thường biển hiện
    cao ở mức độ vừa kèm theo đau đầu, chóng mặt, tiểu
    nhiều, tiểu đêm phiền toái, chân tay vô lực tê bì, co
    quắp. Với các xét nghiệm máu thấy hàm lượng kali
    giảm và natri tăng. Ngoài ra hẹp động mạch chủ cũng là
    nguyên nhân gây cao huyết áp.
    Cường năng tuyến giáp:
    Do hormone tuyến giáp phân tiết quá nhiều dẫn
    'Ẽệnh cao hnyềi ắỊ>và cách điều i f ị

    17

    đến tim đập nhanh, tinh thần căng thẳng, nhiều mồ
    hôi; sợ nóng, mắt bị lồi; phù tuyến giáp, thường ăn
    nhiều mà trọng lượng cơ thể lại giảm, do chuyển hoá cơ
    bản tăng kèm theo là tăng huyết áp tối đa; huyết áp tối
    đa; huyết áp tối thiểu thấp.
    - Do nhiễm độc khi thai nghén:
    Phụ nữ mang thai, nhất là ba tháng cuối có thể có
    cơn cao huyết áp, biểu hiện bằng những cơn co giật, mà
    người ta gọi là sản giật. Một số thuốc như Corticoid,
    thuốc phòng ngừa thai, thuốc cam thảo dùng lâu
    ngày... đều có thể gây cao huyết áp tạm thời.
    Do tăng hàm lượng Cholesterol trong máu:
    Vượt quá giới hạn cho phép (5,68mmol/l) sẽ ảnh
    hưởng đến thành mạch.
    2. Nguyên nhân bên ngoài

    - Do ăn uống: ăn nhiều các chất cay nóng, kích thích
    trong thời gian kéo dài như rượu, cà phê, thuốc lá hoặc
    chế độ ăn uống quá nhiều mỡ động vật, ăn mặn.
    - Do căng thẳng thần kinh (do làm việc nghỉ ngơi
    không điều độ dẫn đến lo nghĩ, sợ hãi).
    - Do các yếu tố môi trường như quá nhiều tiếng động
    mạnh, tiếng ồn ào...
    - Uống thuốc tránh thai, thuốc corticoid cũng là
    nguyên nhân tăng huyết áp.
    Theo Sở Nghiên cứu Nội khoa Viện Nghiên cứu
    Trung y Thượng Hải:
    Nguyên nhân chủ yếu gây nên cao huyết áp là “thất
    tình” (7 loại tình chí như: vui, buồn, giận...).
    Từ nguyên nhân “thất tình” dẫn đến một số yếu tố
    gây bệnh khác mà Y học cổ truyền thường hay đề cập
    đến là Phong, Hoả, Đờm, Hư.
    18 HOÀNG THUÝ-biên sọan

    Cụ thể là:
    - Lo buồn suy nghĩ, tinh thần căng thẳng đều có thể
    làm cho khí bị mất. Khí mất lâu sẽ hóa hoả. Giận dữ
    (nộ) làm hại Can (Nội kinh: “Nộ thương Can”), Can hoả
    vượng lên gây ra nội phong.
    - Lo buồn, suy nghĩ làm hại Tỳ (Nội Kinh: “Tư
    thương Tỳ”), Tỳ hư khí suy không chế ngự được Thận
    sẽ sinh ra đờm thấp. Đờm thấp có thể sinh ra nhiệt và
    nhiệt có thê sinh ra nội phong.
    - Tỳ hư ảnh hưởng đến việc dinh dưỡng kém sút,
    làm cho tinh hậu thiên của các tạng suy kém gây ra Hư,
    nhất là đối với Thận âm.
    - Thận âm hư làm cho Can huyết hư không nuôi
    dưỡng được Can, nhẹ thì gây ra chứng Âm hư Can
    vượng, nặng thì sinh ra Can mộc nội phong.
    Các yếu tố này tuy bao gồm Phong, Hoả, Đờm, Hư
    nhưng chủ yếu là do Nội Phong và Hoả vượng.
    Như vậy, có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến
    bệnh cao huyết áp. Tuy nhiên người ta vẫn thấy rằng
    chủ yếu là do nguyên nhân bên trong dẫn đến bệnh
    này. Mặc dù vậy, các nguyên nhân bên ngoài cũng
    không kém phần quan trọng dẫn đến bệnh cao huyết
    áp. Do đó để phòng trị bệnh cao huyết áp có hiệu quả
    cần phải kết hợp, vừa điều trị các nguyên nhân bên
    trong đồng thời khắc phục những yếu tố ngoại lai ảnh
    hưởng đến bệnh cao huyết áp.
    V. Cơ CHẾ SINH BỆNH CAO HUYẾT áp
    1. T heo Y học hiện đại

    Theo các tác giả của Liên Xô, có 3 cơ quan góp
    'Ẽệnh cao hnyếý áp oà cách điều iưị

    19

    phần vào cơ chế sinh ra bệnh cao huyết áp:
    - Rối loạn thần kinh thể dịch: được nêu ra từ năm
    1942. Theo đó, trong vỏ bán cầu đại não thường xuyên
    có kích thích, ở đó phát xung động xuống trung tâm
    điều hòa vận mạch làm mạch máu co lại và khi mạch
    máu bị co thắt sẽ làm huyết áp tăng lên. Khi huyết áp
    tăng lên lại gây rối loạn huyết, gây ra thiếu máu ở một
    số cơ quan, nhất là não, rồi lại trở lại vòng lẩn quẩn giữa
    não và mạch máu.
    - Tuyến Yên: Tuyển yên kích thích thượng thận sản
    xuất ra corticoid, muối và nước bị ứ lại, mạch máu bị co
    lại làm cho huyết áp tăng lên.
    - Thận: Chủ yếu là men prostaglandine ờ nhu mô
    thận có tác dụng kìm hãm renin do ống lượn điều tiết
    ra. Nếu bị thiếu máu thì men prostaglandin bị ức chế
    không làm được nhiệm vụ kìm hãm renin, renin tăng
    trong máu làm cho huyết áp tăng lên.
    2. T heo Y học cổ truyền

    Theo Y học cổ truyền, cơ chế sinh bệnh cao huyết
    áp chủ yếu dựa vào thuyết “Thượng thực hạ hư”.
    - Thượng thực nghĩa là Can hoả bốc lên trên, Can
    dương cũng bùng lên hợp với phong đờm làm rối loạn ở
    phần trên (thượng). Can dương bốc lên làm cho khí
    huyết bị kéo lên theo gây ra đầu váng, mắt hoa, đầu
    nặng, chân nhẹ, đầu đau, mắt đỏ, mặt đỏ, ngực bứt rứt...
    - Hạ Hư nghĩa là Thận Thủy không đủ, không nuôi
    được Can Mộc. Can âm kém không chế ngự được Can
    dương làm cho Can dương bốc lên. Mộc sinh Hoả, Can
    dương vượng tức là hoả vượng, hoả vượng quá sinh
    phong gây ra rối loạn ở phần trên (thượng).
    2 0 HOÀNG THưý-biên so.an

    - Âm hư sinh nội nhiệt, hư hoả cũng bốc lên hợp
    với nội phong gây ra các chứng chân nhẹ đầu nặng,
    lưng đau mỏi, đầu đau, tim đập nhanh, ngực bứt rứt...
    - Bệnh chủ yếu ở tạng Can nhất là Can hoả, Can
    dưcfng nhưng tạng Thận và Tâm cũng giữ vai trò quan
    trọng, vì vậy, trong các triệu chứng của bệnh cao huyết
    áp có triệu chứng của:
    + Can; đầu đau, mắt hoa...
    + Tâm: tim đập nhanh, bồn chồn không yên...
    + Thận: lưng đau, tai ù...
    So sánh với cơ chế sinh bệnh, có thể thấy rõ là Y
    học hiện đại và Y học cổ truyền đều có 1 quan điểm
    thống nhất là quan hệ giữa trên và dưới;
    - Quan hệ trên dưới của Y học hiện đại là quan hệ
    giữa vỏ não và nội tạng. Công năng của vỏ não bị rối loạn
    gây ra trương lực mạch máu tăng, động mạch xơ cứng,
    thận bị thiếu máu (nội tạng - bên dưới). Nội tạng bên dưới
    lại tác động ngược lại làm cho công năng của vỏ não bị rối
    loạn... Và cứ trong vòng lẩn quẩn đó bệnh tiếp tục phát
    triển làm tổn thương đến các cơ quan: tim, thận, não...
    - Quan hệ trên dưới của Y học cổ truyền dựa vào
    Thượng thực hạ hư. Thượng thực ở đây là Can dương,
    Can hoả bốc lên trên. Hạ hư ở đây là Thận thủy ở dưới
    bị suy kém. Can hoả pàng thịnh càng làm hao tổn Thận
    thủy ở dưới. Thận thủy càng suy kém càng không nuôi
    dưỡng được Can mộc làm cho Can mộc vượng lên và cứ
    như vậy bệnh tiếp tục phát triển làm tổn thương đến
    các tạng Can, Thận, Tâm.
    Giữa 2 quan điểm trên có thể nhận thấy:
    - Can dương hoả bốc lên. vỏ não bị rối loạn;
    - Hoả vượng bốc lên trên. Rối loạn do căng thẳng
    cao hnyềi áp và cách điền ir ị

    21

    gây nên;
    - Thận thủy suy. Trương lực mạch máu tăng cao,
    động mạch nhỏ bị xơ cứng, thận thiếu máu.
    (Vì Thận thủy thuộc âm, âm là vật thể (hữu hình)
    tương đương với mạch máu, thận... Còn suy kém ở đây
    tương đương với việc trương lực cao, xơ cứng của động
    mạch và thiếu máu của thận.
    Cơ chế dẫn tới cao huyết áp còn bao gồm; Cung
    lượng tim và vai trò hệ thần kinh giao cảm.
    Cung lượng tim là khối lượng máu được tim đẩy
    vào động mạch đi nuôi cơ thể trong một phút.
    Như vậy, cung lượng tim là tích số của khối lượng
    máu đẩy vào động mạch của một nhát bóp tim nhân với
    số lần bóp trong một phút (tần số tim).
    Mặc dù chưa tìm ra được nguyên nhân của bệnh cao
    huyết áp, người ta đã nghiên cứu rất sâu về các cơ chế
    gây tăng huyết áp và thấy rõ cung lượng tim ảnh hưởng
    rất lớn đến huyết áp.
    Huyết áp phụ thuộc vào hai yếu tố: Cung lượng tim
    và sức cản ngoại vi.
    Theo định luật Poisenille:
    p = Q xR
    Trong đó:
    P: Huyết áp.
    Q: Cung lượng tim.
    R: Sức cản ngoại vi.
    Nghĩa là: Huyết áp tỷ lệ thuận với cung lượng tim
    và sức cản ngoại vi. Cung lượng tim càng tăng, huyết áp
    sẽ càng tăng. Sức cản ngoại vi tăng, huyết áp sẽ tăng.
    Sức cản đó do nhiều yếu tố như lòng mạch, độ nhớt của

    2 2 HOÀNG THUÝ-biên sọan

    máu và độ dài của mạch (độ dài của mạch nói chung
    không thay đổi tuy vậy nếu có các chấn thương sẽ sinh
    ra tuần hoàn bàng hệ, thì độ dài đó có thể thay đổi và
    đó cũng là nguyên nhân làm tăng sức cản ngoại vi).
    Sức cản đó còn phụ thuộc trực tiếp vào khí hậu
    nóng lạnh, vào độ sừng hoá của da, bền vững của thành
    mạch (tính đàn hồi) (khí hậu nóng các mạch ngoại vi
    giãn nở, lòng mạch rộng ra khí hậu lạnh các mạch ngoại
    vi co lại, lòng mạch hẹp lại).
    Cung lượng tim lại có liên quan với nhu cầu chuyển
    hoá oxy. Có nghĩa là: Khi mức tiêu thụ oxy ở tổ chức
    càng lớn thì cung lượng tim càng tăng. Vì có như vậy
    mới đưa máy tới tổ chức để cung cấp oxy và chất dinh
    dưỡng theo yêu cầu cơ thể.
    Khi nồng độ oxy trong động mạch càng tăng, hiệu
    số (Ca0 2 - CVO2) càng lớn thì cung lượng tim càng lớn.
    Khi nồng độ oxy trong tĩnh mạch càng tăng, hiệu
    số (CaƠ2 - CVO2) càng nhỏ thì cung lượng tim càng lớn.
    Khối lượng máu đẩy vào động mạch của một lần co
    bóp phụ thuộc vào sức co bóp của tim và số máu có sẵn
    trong thất trái.
    Số máu có sẵn trong thất trái sau một lần thất giãn
    người ta gọi là thể tích máu cuối thì tâm trương thất trái.
    Sức co bóp của tim chịu ảnh hưởng của một bộ
    phận chuyên biệt mà người ta gọi là cảm thụ Beta
    Adrenergic hay còn gọi là Beta giao cảm.
    Khi cảm thụ này bị kích thích sẽ làm tăng sức co
    bóp của tim. Ngược lại, khi cảm thụ này bị ức chế sẽ
    làm giảm sức co bóp đó. Chất lượng của sự co bóp tống
    máu của thất trái được thể hiện ở phân số tống máu.
    Phân số tống máu là tỷ lệ giữa thể tích tống máu
    'Sộ.hIì cao fu(Ị/èi áfi và cách điều ivị 23

    'tâm thu và thể tích máu cuối tâm trương.
    Thể tích máu cuối tâm trương thất trái phụ thuộc
    vào lượng máu trở về tim mà lượng máu trở về tim lại
    phụ thuộc thể tích máu toàn bộ hoạt động của hệ tim
    mạch và cả sức hút của tim.
    Thể tích máu toàn bộ cơ thể lại phụ thuộc vào thể
    tích huyết tương và thể tích các huyết cầu.
    Thể tích huyết tương lại do lượng protein trong
    máu và lượng ion Natri quyết định.
    Hoạt động của hệ tĩnh mạch ngoại biên phụ thuộc
    vào các cảm thụ Anpha Adrenergic hay còn gọi là
    Anpha giao cảm.
    Khi các cảm thụ này bị kích thích gây ra co mạch,
    khi các cảm thụ này bị ức chế gây ra giãn mạch.
    Tần số tim chịu ảnh hưởng của các cảm thụ Beta
    Adrenergic. Khi cảm thụ này bị kích thích tần số tim
    tăng lên, khi bị ức chế, tần số tim giảm. Hệ thần kinh
    phế bị kích thích cũng làm tần số tim giảm.
    Như vậy, ta thấy cung lượng tim bị ảnh hưởng từ sâu
    xa bởi các cảm thụ Beta Adrenergic và Anpha Adrenergic,
    nồng độ protein máu, nồng độ ion Natri máu.
    Trên cơ sở những yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp kể
    trên, ta có thể khai thác những yếu tố có lợi, đồng thời
    hạn chế tối đa các yếu tố bất lợi giúp cho việc phòng, trị
    huyết áp tốt hơn.
    VI. TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH CAO HUYẾT áp
    1. T h eo Y học hiện đại

    Tổ chức Y tế Thế giới phân bệnh cao huyết áp làm
    2 4 HOÀNG THUÝ-biên sọan

    3 giai đoạn:
    Giai đoạn I: Người bệnh ở trạng thái dễ bị kích
    thích, thường hay kêu đầu đau, đau về buổi sáng và sau
    khi làm việc căng thẳng, đau từng cơn, cơn ngắn vài giờ
    hoặc cả ngày, có thể có cơn đau vùng tim (30%), có triệu
    chứng này chứng tỏ có dấu hiệu co thắt của động mạch
    vành. Người bệnh mệt mỏi, hồi hộp, mặt đỏ hoặc tái do
    co thắt mạch máu (huyết áp tăng lên có người mặt đỏ có
    người mặt tái không nhất định). Sờ mạch tay quay thấy
    đập căng, mỏm tim đập mạnh, có tiếng thổi tâm thu cơ
    năng, huyết áp dao động, trường hợp này nên làm các
    nghiệm pháp xem huyết áp có cao không:
    1- Nghiệm pháp ngừng thở; gây hiện tượng thiếu
    oxy, gây co mạch, huyết áp sẽ cao (ngưng chừng một
    phút sẽ đỡ).
    2- Ngâm chân vào nước lạnh 4°c chừng 2 - 3 phút,
    gặp lạnh mạch máu sẽ co lại, huyết áp sẽ tăng lên (nếu
    đúng thì huyết áp sẽ cao lên).
    Giai đoạn 2: Cao huyết áp thường xuyên có cơn cao
    kịch phát, đầu đau dữ dội, thở khó, phù phổi cấp do
    thất trái suy cấp. Huyết áp tối đa có khi lên đến
    220/100mmHg, có thể bị xuất huyết não, hôn mê.
    - Dấu hiệu rối loạn tuần hoàn não: chóng mặt, tai ù,
    muốn ói, đầu nhức dữ dội, có khi phát âm không rõ, có
    khi có hơi thoáng liệt, có khi ngất lịm...
    - Đối với võng mạc: thị lực giảm, có dấu hiệu ruồi
    bay hoặc sương mù, soi đáy mắt thấy mao mạch ngoằn
    ngoèo, phù nề hoặc xuất huyết.
    - Đối với tim: có tiếng thổi tâm thu, nghe được tiếng
    thứ 2 do động mạch xơ cứng. Có cơn đau thắt ngực,
    'Ẽệnh cao hnyềi áfi và cách điỀtt ir ị 2 5

    loạn dưỡng cơ tim, nhồi máu cơ tim.
    - Đối với thận: bị thiếu máu nhẹ ở thận gây rối loạn
    chức năng thận, nước tiểu có hồng cầu hình trụ.
    Giai đoạn 3: Triêu chứng lâm sàng giống giai đoạn II
    nhưng nặng hơn. Huyết áp cao cố định, nếụ tụt xuống là
    nguy vì đã suy tuần hoàn nặng rồi. Người bệnh thấy đầu
    đau, mất ngủ, trí nhớ giảm, mất khả năng lao động.
    Cơn đau thắt tim tăng lên nhiều, suy tim độ 3, 4, đe
    dọa nhồi máu cơ tim, xuất hiện phù nề, gan to, cổ
    trướng, tổn thương tuần hoàn não, muốn nôn, co giật,
    bán hôn mê, xuất huyết não, không có đe dọa phù phổi
    cấp vì tuần hoàn đã giảm nhiều rồi.
    - Mắt: Tổn thương mắt nặng, có thể bị mù.
    - Thận: Tổn thương và thận viêm rõ, urê huyết cao. ờ
    giai đoạn này (III) xuất huyết não và lượng đàm trong
    máu cao, người bệnh thường bị chết do nhồi máu cơ tim.
    2. T heo Y học cổ truyền

    Sách 'Nội khoa học' của Trung y Thượng Hải và
    Thành Đô đều nêu ra 4 thể loại cao huyết áp như sau:
    1- Cao huyết áp thể Can Dương Thượng Can
    a. Chứng: Chóng mặt, đầu đau mỗi khi căng thẳng,
    khi tức giận thì đau tăng, ngủ ít, hay mơ, dễ tức giận,
    miệng đắng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền.
    b. Triệu chứng:
    - Chóng mặt, tai ù, đầu đau do Can dương bốc lên.
    - Mặt đỏ, dễ tức giận, ngủ ít, hay mơ, miệng đắng,
    lưỡi đỏ là biểu hiện của dương vượng.
    - Mạch huyền là biểu tượng của Can.
    c. Nguyên nhân: Giận dữ làm hại Can, Can uất hóa
    2 6 HOÀNG THUÝ-biên sọan

    Hoả, Can âm bị tổn thương, hao tổn, làm cho Can
    dương bùng lên gây ra bệnh.

    2- Cao huyết áo thể Đờm Trọc Trung Trở
    a. Chứng: Đầu choáng váng và nặng nề, hông bụng
    buồn đầy, muốn ói, ăn ít, ngủ li bì, lưỡi trắng, mạch
    Nhu hoạt (Thượng Hải), Huyền hoạt (Thành Đô).
    b. Triệu chứng:
    - Đầu choáng, nặng nề: do đờm trọc ngăn trở thanh
    khí không đưa được lên đầu.
    - Bụng đầy, muốn ói, ăn ít, ngủ li bì: do đờm trọc
    ngăn trở trung tiêu gây ra.
    - Mạch nhu biểu hiện của thấp, mạch hoạt biểu
    hiện của đờm.
    c. Nguyên nhân: Do ăn nhiều các thức béo, bổ làm
    cho Tỳ Vị bị tổn thương khiến cho thanh dương không
    hóa thành tân dịch mà biến thành đờm thấp, khiến cho
    thanh dương không thăng lên được và trọc âm không
    giáng xuống được gây ra bệnh.
    3- Cao huyết áp thể Thận tinh hất túc
    a. Chứng: Chóng mặt, mệt mỏi, hay quên, lưng gối
    đau yếu, tai ù, mất ngủ, di tinh,...
     
    Gửi ý kiến