Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Bệnh đường ruột ở trẻ em phòng ngừa chuẩn đoán và điều trị

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 09h:18' 18-03-2024
    Dung lượng: 10.2 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Ths. NGU Y Ễ N XUÂN QUÝ
    Ths Bs. LAM GI ANG

    BỆNH ĐƯÒNG RUỘT ở

    TRỄ E M
    PHÒNG NGỪA -

    NHÀ

    XUẢT

    BẨN P HỤ NỮ

    BỆN HĐ Ư Ò N G RU Ộ TỞ

    TRẾ EM

    Ths. NGU Y Ễ N XUÂN QUÝ
    T h s Bs. LAM G I ANG

    BỆNH ĐƯÒNG RUỘT ở

    TRẼEM
    PHÒNG NGỪA - CHẨN ĐOÁN - ĐI ỂU TRỊ

    NHÀ XƯÂ T BẢN P HỤ NỮ

    j£ ở i n jẩ i đ ầ u

    Đ ặc đ iểm nổi bật n h ấ t của cơ th ể trẻ em là
    chưa p h á t triển hoàn thiện, dang trong quá trình
    không ngừng lớn lên, nên nêu không được chăm sóc
    đ ầ y đủ, kh o a học, hoặc gặp m ôi trường bất lợi rất
    d ễ bị bệnh.
    B ệnh dường ruột là bệnh thường gặp ở trẻ, chiếm
    tỉ lệ cao trong bệnh nhi, ch ỉ dứng th ứ hai sau bệnh
    đường hô hấp. N guyên nhân gá y ra bệnh dường ruột
    ở trề em rất phứ c tạp, việc p h â n biệt và chẩn đoán
    kh á c hẳn với người lớn. H ơn nữa, trẻ chưa có kh ả
    năng hoặc còn hạn c h ế về diễn đ ạ t và m iêu tả triệu
    chứng bệnh của m ình. N hiều khi triệu chứng đường
    ruột m à trẻ m ắc p h ả i là sự th ể hiện không đặc thù
    m ột loại nhiễm trùng nghiêm trọng như viêm m ăng
    .5

    năo, viêm phổi, chứng bại h uyết v.v..., càng làm cho
    việc chẩn đoán thêm khó khăn. Một sự th a y dổi nhỏ
    về chức năng đường ruột có th ể ảnh hưởng lớn đến sự
    p h á t triển của trẻ. D o đó đòi hỏi các bậc cha mẹ p h ả i
    n ắ m được cơ c h ế gây bệnh, triệu chứng bệnh đ ể p h á t
    hiện kịp thời, nhằm p h ố i hợp chặt chẽ với th ầ y thuốc
    trong việc chẩn đoán và điều trị.
    Với tiêu chí đó, chúng tôi biên soạn cuốn B ện h
    đường ruột ỏ trẻ em p h ò n g ngừa, chẩn đoán, điều
    trị n h ằ m cung cấp m ột s ố kiến thức cơ bản n h ấ t về
    lĩnh vực này. Trong quá trình biên soạn khó tránh
    khỏi sa i sót, rất m ong nhận được ý kién dóng góp
    của quý độc giả.

    N hóm biên soạn

    6.

    PhẩnJ
    KIẾN THỨC C ơ BẢN
    VỀ HÊ TIÊU HÓA

    ^ C â 'u tạo của hệ tiêu hóa
    Chất dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể con người để
    bảo đảm năng lượng cần thiết cho hoạt động sinh lý
    bình thường đều đưỢc chắt lọc từ thực phẩm mà chúng
    ta ăn vào. Quá ưình biến thực phẩm từ các phân tử lớn
    thành các phân tử nhỏ đơn giản dễ tiêu hóa gọi là quá
    ưình hấp thu. Quá trình này đưỢc thực hiện và hoàn
    thành nhờ tổ chức gọi là hệ tiêu hóa.
    Hệ tiêu hoá là hệ thông các cơ quan của cơ thể có
    nhiệm vụ ăn, tiêu hoá thức ăn để tách lấy năng lượng
    và chất dinh dưỡng, đồng thời đẩy châ"t thải ra ngoài.
    .7

    cấ u tạo của hệ tiêu hóa gồm ô"ng tiêu hóa và tuyến

    tiêu hóa. Ông tiêu hóa là đường ông để thức ăn đi qua
    gồm khoang miệng, cổ họng, thực quản, dạ dày, ruột
    non, đại tràng và hậu môn. Tuyến tiêu hóa gồm hai loại
    lớn và nhỏ. Tuyến tiêu hóa lớn gồm tuyến nước bọt,
    gan và tụy; tuyến tiêu hóa nhỏ nằm bên trong thành
    ông tiêu hóa lớn như tuyến dạ dày, tuyến ruột và tuyến
    ruột non.
    Tác dụng tiêu hóa của hệ tiêu hóa gồm hai dạng:
    tiêu hóa mang tính cơ năng và tiêu hóa mang tính hóa
    học. Thức ăn đưa vào miệng, qua nhai cắt của răng và
    ừộn của lưỡi, cùng với nước miếng nhào đều, nuô"t đưa
    thức ăn qua họng và thực quản xuông dạ dày. Sự nhu
    động của thành dạ dày khiến thức ăn đưỢc tiêu hóa bước
    đầu thành dạng cháo. Cháo này sau khi vào ruột non,
    nhờ các men tiêu hóa và sự nhu động ruột, hoàn thành
    công đoạn cuôì cùng là tiêu hóa. Bã còn lại đưa xuông
    đại tràng, phần nước đưỢc hấp thu, phần bã còn lại sẽ từ
    từ thôi rữa thành phân, bài xuất ra ngoài qua hậu môn.
    Có thể thấy việc tiêu hóa ở phần trên của ông tiêu hóa
    mang tính cơ năng là chính, còn tiêu hóa ở phần dưới
    của đường tiêu hóa thì bằng hóa học là chính. Quá trình
    tiêu hóa là một hoạt động sinh lý phức tạp đưỢc hoàn
    thành bởi tác dụng liên hoàn cơ năng và hóa học, dưới
    sự điều tiết của thần kinh.
    8.

    ^ H ệ tiêu hóa của ỉrẻ em có đặc điểm gì?
    Trẻ đang trong quá trình không ngừng phát triển
    nên sự tiêu hóa thức ăn và hấp thu chất dinh dưỡng
    nhiều hơn người lớn, đòi hỏi hệ tiêu hóa làm việc với
    hiệu suất cao. Nhưng cơ quan tiêu hóa của trẻ lại chưa
    phát triển hoàn thiện. Điều này gây ra mâu thuẫn giữa
    chức năng sinh lý với nhu cầu của cơ thể. Người làm
    cha làm mẹ nắm vững đặc điểm sinh lý hệ tiêu hóa của
    trẻ có ý nghĩa quan trọng đô"i với phòng ngừa và xử lý
    bệnh tật của con mình. Hệ tiêu hóa của trẻ em có các
    đặc điểm sau:
    1. Khoang miệng: Niêm mạc khoang miệng của trẻ
    rất mềm, mạch máu nhiều, tế bào tuyến nước bọt
    chưa phát triển, nước bọt tiết ra rất ít khiến niêm
    mạc tương đôi khô, dễ tổn thương và nhiễm trùng,
    dẫn đến viêm. Vì thế cần đặc biệt chú ý vệ sinh
    khoang miệng cho trẻ.
    2. Thực quản; So với chiều dài của cơ thể, thì thực
    quản của trẻ em dài hơn người lớn, nhưng lớp cơ
    trơn thành ống lại mỏng.
    3. Dạ dày: Cơ thắt van thực quản của trẻ chưa phát
    triển, còn ở trạng thái nhão. Cơ thắt môn vị phát
    triển tương đôì tô"t, phần lớn dạ dày ở vị trí bằng,
    vì thế trẻ dễ bị nôn hoặc trớ sữa. Thành phần dịch
    vị của trẻ cơ bản giống như người lớn, nhưng niêm
    .9

    mạc dạ dày tiết axit chlohydrit và enzym ít hơn,
    sẽ tăng dần theo tuổi; sức sông và lượng tiết dịch
    vị tăng dần. Dung lượng dạ dày trẻ sơ sinh vào
    khoảng 30-60 ml, trẻ 3 tháng tuổi là 100 ml. Thời
    gian xả hết phụ thuộc vào loại thức ăn, thường cần
    3-4 giờ. Cho nên các bậc cha mẹ cần chú ý khoảng
    cách thời gian cho ăn, không nên quá gần nhau.
    Sau khi cho trẻ bú, nên bồng đứng, nhẹ nhàng vỗ
    phía dưới lưng trẻ để xả hết không khí trong dạ
    dày, tránh bị trớ sữa.
    4. Ruột: Ruột của trẻ em dài hơn người lớn. Độ dài
    ruột của trẻ sơ sinh gâ"p 7-8 lần chiều dài cơ thể,
    người trưởng thành là 4-5 lần. Diện tích ông tiêu
    hóa của trẻ tương đô3 lớn, thành ruột râ"t mỏng,
    mạch máu nhỏ dưới niêm mạc nhiều, thẩm thâu
    cao, nên tỉ lệ hấp thu cao. Nhưng do thành ruột
    mỏng, hễ đường tiêu hóa nhiễm trùng thì chất
    độc ưong ruột dễ thông qua thành ruột xâm nhập
    vào máu, gây hiện tượng ngộ độc. Thành đại
    tràng của trẻ mỏng, sự cố định giữa đại tràng
    lên và đại tràng xuông với thành sau bụng yếu
    cho nên dễ gây lồng ruột. Hệ thần kinh của trẻ
    chưa hoàn thiện do vậy đường ruột rất dễ bị ảnh
    hưởng từ bên ngoài, dẫn đến tiêu hóa không tô't
    hoặc tiêu chảy.
    10.

    @ Dạ dày ở vị trí nào trong ctf thể?
    Dạ dày là bộ phận lớn nhất của ông tiêu hóa. Dung
    lượng dạ dày người trưởng thành khoảng 1500 ml, ở trẻ
    em nhỏ hơn. Đầu trên của dạ dày nôì với thực quản, đầu
    dưới thông với tá tràng. Hình dáng, vị trí, kích thước dạ
    dày có thể thay đổi theo thức ăn đưa vào, cũng có thể có
    sự khác nhau tùy tuổi tác, giới tính, vóc dáng mỗi người.
    Hình dáng dạ dày giông như chiếc lưỡi câu.
    Sau khi ăn, phần lớn (3/4) dạ dày nằm bên sườn trái,
    phần nhỏ (1/4) ở bụng trên. Khi đầy thức ăn, dạ dày có
    thể sa xuông dưới rô'n, khi đói, sẽ co lại thành hình ông.
    Thành trước dạ dày tiếp xúc với thành trước bụng và
    thành trái gan. Bộ phận tiếp xúc với thành trước bụng ở
    giữa thành trái gan với vòng cung sườn trái. Mặt sau dạ
    dày tiếp xúc với lách, thận ưái, tuyến thượng thận trái
    và đại tràng ngang.
    Khi người đứng, vị trí bờ dưới dạ dày thay đổi lớn,
    có khi ở gần rô"n, có khi ở bụng dưới.

    @ K ế t câu của dạ dày ra sao?
    Dạ dày giống như chiếc túi đàn hồi, hình chữ J, là
    nơi phình to nhất của hệ tiêu hoá, có hai lỗ, lỗ vào là
    tâm môn, lỗ ra là môn vị. Chỗ nối nhau giữa thành trước
    và thành sau có dạng uốn cong, bờ trên tương đôi ngắn,
    .11

    gọi là bờ cong nhỏ, chỗ lõm ở phía trên bên phải. Điểm
    thấp nhất của chỗ lõm gọi là vết cắt góc. Bờ dưới dài,
    gọi là bờ cong lớn, chỗ lồi ở phía dưới trái. Lâm sàng
    chia dạ dày thành 4 phần:
    1. Phần cuô"ng: chỉ đoạn ngắn sát tâm môn.
    2. Đáy dạ dày: nằm phía trái tâm môn, là phần lùm
    lên trên mặt phẳng tâm môn, khi người đứng, một
    ít chất khí trong dạ dày sẽ tập trung ở chỗ này.
    3. Thân dạ dày: là phần lớn nhất, nằm giữa dạ dày,
    lấy đường thăng bằng giữa tâm môn dạ dày với
    đáy dạ dày làm giới hạn.
    4. Phần môn vị: là phần từ phía dưới mặt phẳng kể từ
    vết cắt góc đến môn vị.
    Dạ dày có 4 lớp: màng bao bọc bên ngoài, lớp cơ,
    lớp dưới niêm mạc và màng nhầy (niêm mạc).
    Khi dạ dày rỗng thì bề mặt khoang dạ dày màu đỏ,
    có nhiều đường gấp không đều nhau. Đường gấp do
    niêm mạc và lớp cơ trơn dưới niêm mạc tạo thành, ở
    bờ cong nhỏ có 4-5 đường gấp chạy theo chiều dọc,
    tương đôi cô' định, thức ăn di chuyển đến tá tràng theo
    các rãnh dọc giữa các đường gấp này. Khi dạ dày chứa
    đầy thức ăn thì các đường gấp biến mất. Lớp cơ dày
    do nhiều lớp cơ dọc và cơ vòng chéo trong, vòng giữa
    và dọc ngoài tạo thành. Cơ dày ba lớp có lợi cho việc
    12.

    tăng cường tiêu hóa cơ năng đôi với thức ăn, còn có tác
    dụng duy trì độ căng của dạ dày. Màng nhầy nằm ngoài
    cùng, bề mặt trơn bóng, giúp giảm ma sát của dạ dày
    khi co bóp.

    @

    Dạ dày có chức năng sinh lý nào?

    Dạ dày là chiếc túi lớn trong hệ tiêu hóa. Nó có
    thể co bóp linh hoạt. Ăn vào, dạ dày nở to. Dung lượng
    bình quân của dạ dày người trưởng thành khoảng 1,5 lít.
    Thành dạ dày do nhiều lớp cơ lớp, cơ vòng tạo thành.
    Bên trong có tế bào tuyến thể đặc biệt, có thể tiết dịch
    vị, có mạch máu, thần kinh. Đầu dưới dạ dày có cơ thắt
    môn vị, có thể thông với hành tá tràng.
    Dạ dày là cơ quan dung nạp và chứa thức ăn, chức
    năng chủ yếu là tiêu hóa sơ bộ thức ăn, tác dụng tiêu
    hóa này khỏi nguồn từ miệng, cuôì cùng hoàn thành
    trong ruột non.
    Màu sắc, mùi vị và thức ăn ăn vào có thể kích thích
    dạ dày tiết dịch vị. Niêm mạc dạ dày tiết dịch vị chứa
    enzym và axit chlohydric (có thể diệt vi khuẩn và tạo
    môi trường thích hỢp nhất để enzym dạ dày phát huy
    tác dụng) và factor (là chất cần thiết giúp ruột non hấp
    thu viamin Bị^)- Ngoài ra, dạ dày còn tiết niêm dịch và
    hydrocarbonate, hình thành màn che phòng ngừa chính
    dạ dày bị dịch vị tiêu hóa.
    .13

    Cơ thành dạ dày cứ khoảng 20 giây co bóp (nhu
    động) đều đặn một lần, trộn đều thức ăn với dịch vị.
    Vận động cơ năng của dạ dày phôi hỢp với tác dụng
    tiêu hóa, chuyển hóa thức ăn dạng rắn thành hồ nhão.
    Thời gian cho quá trình này lâu hay mau là do tính chât
    của thức ăn quyết định. Nói chung, thức ăn dạng thịt
    càng nhiều thì thời gian thải hết của dạ dày càng lâu.
    Sự co bóp của dạ dày và giản nỡ của cơ thắt môn vị đưa
    thức ăn đã tiêu hóa sơ bộ xuô"ng hành tá tràng theo thời
    gian nhất định.

    @ Q u á trình tiêu hóa thức ăn diễn ra như thế nào?
    Quá trình tiêu hóa bắt đầu từ khoang miệng. Răng
    nhai nhỏ thức ăn, tuyến nước bọt tiết nước bọt làm mềm
    thức ăn. Men bột lọc trong nước bọt có thể phân giải
    hydratcarbon. Đầu lưỡi nhiều dây thần kinh vị giác có
    nhiệm vụ không chế thức ăn trong miệng, biến nó thành
    khôi nhỏ để nuô"t.
    Từ miệng, thức ăn đi qua họng để xuông thực quản.
    Thực quản không có tác dụng phân giải và hấp thu,
    tác dụng duy nhất của nó là nhờ làn sóng nhu động
    chuyển thức ăn xuô"ng dạ dày. Thức ăn đưỢc nhào đều
    với axit chlohydrit và enzym do niêm mạc dạ dày tiết
    ra, giúp phân giải protein. Dạ dày đóng vai trò tiêu hóa
    cơ năng thông qua nhu động nhào trộn thức ăn. Khi thức
    ăn chuyển hóa thành dạng hồ nhão trong dạ dày, sẽ
    đưỢc đưa xuông tá tràng qua môn vị.
    14.

    Dịch tiêu hóa do tuyến tụy tiết ra chảy vào ruột non,
    dịch tiêu hóa này chứa nhiều enzym tiêu hóa, tiếp tục
    thúc đẩy phân giải hydratcarbon, mỡ và protein.
    Trong ruột non, thức ăn từ chất phân tử lớn phức tạp
    đưỢc phân giải, tiêu hóa thành châ"t phân tử nhỏ dễ hấp
    thu. Niêm mạc ruột non hút chất dinh dưỡng đưa vào
    máu và hệ bạch huyết.
    Bã thức ăn cuô"i cùng đưỢc đưa xuông đại tràng,
    niêm mạc đại tràng hút phần lớn thành phần nước trong
    bã, biến bã chưa tiêu hóa và thượng bì niêm mạc ông
    tiêu hóa bong tróc thành phân đưỢc bài tiết ra ngoài qua
    trực tràng và hậu môn.

    @ T ạ i sao nói dạ dày là “côi xay” mềm?
    Trẻ chưa thể có thói quen ăn chậm nhai kĩ mà
    thường nuô"t vội nuô"t vàng, có lúc không kịp nhai. Ản
    như thế sẽ làm tăng gánh nặng cho dạ dày. Nhưng dù
    thế nào thì khi thức ăn đưa vào khoảng 5 phút, dạ dày
    bắt đầu công việc “xay”, thường phải mất 2-4 giờ mới
    hoàn thành việc tiêu hóa thức ăn trong dạ dày.
    Thức ăn tuy đã đưỢc răng nhai cắt, nhưng xuông đến
    dạ dày vẫn là thức ăn dạng cục rắn. Các thức ăn dạng
    cục này qua tiêu hóa của dạ dày biến thành dạng bột
    cháo lỏng. Dạ dày đã xay thức ăn bằng nhu động. Sau
    khi thức ăn đưa vào, cơ trơn dày của dạ dày bắt đầu co
    bóp đều đặn. Sóng nhu động từ giữa dạ dày đánh về
    .15

    phía môn vị, sóng đợt này nôi tiếp đợt khác. Khi gần đến
    môn vị, nhu động tăng rõ rệt, cơ dạ dày co bóp mạnh,
    khoang dạ dày nhỏ, hẹp, áp lực càng mạnh. Vì thế người
    ta nói dạ dày là cái “cối xay mềm” quả không sai.

    ^

    Ba nhóm dinh dưỡng chính thay đổi thế nào trước
    khi được ruột non hâ'p thu?

    Ba nhóm dinh dưỡng là đường, protein và chất béo.
    Quá trình phân giải, tiêu hóa của chúng trước khi đưỢc
    ruột non hấp thu có thể diễn đạt đơn giản như sau:
    1. Tiêu hóa đường: một phần chất bột chịu tác dụng
    của nước bọt trong khoang miệng và dạ dày phân
    giải thành đường mạch nha. Đường mạch nha này
    cùng với đường kép khác trong thức ăn dưới tác
    dụng của men đường kép tương ứng, phân giải
    thành đường đơn dễ hấp thu.
    2. Tiêu hóa protein: dưới tác dụng của enzym dạ
    dày, một bộ phận protein đưỢc phân giải tiếp
    thành peptone và đapepit, protein còn lại cùng với
    peptone đã phân giải đưỢc enzym tụy và enzym
    ruột phân giải thành đapepit. Sau cùng dưới tác
    dụng của men pepit tụy và men pepit ruột, phân
    giải đapepit thành axit amin dễ hấp thu.
    3. Tiêu hóa chất béo: trong dịch vị chỉ chứa lượng
    nhỏ lipase hoạt tính thấp, cho nên tác dụng tiêu
    hóa châ"t béo không lớn. Phân giải mỡ chủ yếu ở
    16.

    ruột non, trước tiên muôi mật nhũ hóa chất béo
    thành hạt li ti, dưới tác dụng của men chất béo tụy
    và men chất béo ruột, phân giải thành axit béo và
    glyxerin có thể hấp thu.

    @ K ế t câ'u của ruột non như thế nào?
    Ruột non bắt dầu từ môn vị dạ dày, đầu cuôì nối với
    hồi tràng, dài khoảng 5-7 mét, gấp 3 lần chiều dài cơ thể,
    là cơ quan dài nhất của cơ thể người. Ruột non gồm 3
    phần: tá tràng (doạn cong, ngắn, cô"định thành sau bụng),
    hỗng tràng và hồi tràng (hai đoạn cuốn vòng tương đôi
    lớn và có thể di động), chúng đều là bộ phận tiêu hóa, hâ"p
    thu thức ăn, ống mật và ông tụy đều thông ở tá tràng.
    Tá tràng bắt dầu ở môn vị, là đoạn đầu to nhâ"t, ngắn
    nhâ"t của ruột non, dài khoảng 25cm, chia ra phần hình
    cầu, phần xuống, phần bằng và phần lên. Tá tràng có
    hình chữ c ôm lây phần đầu tuyến tụy, cô" định thành
    sau bụng. Phía trước tá tràng là đại tràng ngang, phía
    trên bên phải là gan và túi mật.
    Hỗng tràng và hồi tràng chiếm phần lớn chiều dài
    của ruột non, khoảng 5-7 m, bắt đầu từ chỗ cong tá tràng
    hỗng tràng, kết thúc â chỗ giáp VỚI hồi tràng manh
    tràng. Hỗng tràng và hồi tràng có thể tự do hoạt động
    trong khoang bụng, 2/5 trước trên là hỗng tràng, chủ
    yếu phân bố trên, giữa trái và ở bụng giữa, 3/5 sau là
    hồi tràng, chủ yếu phân bô"ở bụng dưới, bụng dưới phải
    và khung chậu. Đầu cuô"i hồi tràng nối vơi đại tràng.
    .17

    Thành ruột đưỢc cấu tạo bởi cơ vòng và cơ dọc,
    trong đưỢc bao bọc bởi niêm mạc, ngoài có màng nhầy.
    Niêm mạc ruột non do nhiều lông nhung tạo thành, tăng
    đáng kể diện tích bề mặt ruột, giúp hấp thu chất dinh
    dưỡng đưa vào máu.

    @ Châ't dính dưỡng trong thức ăn được ruột non hâ'p
    thu như thế nào?
    Chất dinh dưỡng trong thức ăn chủ yếu do ruột non
    hấp thu.
    Mặt trong ruột non là lớp niêm mạc gồm hàng vạn
    lông nhung dày đặc dạng ngón tay, làm tăng diện tích
    niêm mạc ruột non lên 15 lần, khiến ruột non có diện
    tích hấp thu cực lớn, cũng có nghĩa ruột non đưỢc tiếp
    xúc đầv đủ với chất dinh dưỡng, kịp thời hâp thu những
    châ"t hữu ích như đường gluco, axit amin, axit béo, nước,
    muôi vô cơ và nhiều loại vi tamin.
    ở ruột non, trypsin ữong dịch tụy có thể phân giải
    protein của thịt, cá, ưứng, v.v... thành axit amin sau đó đưỢc
    mạch máu nhỏ thành ruột hấp thu đưa vào tuần hoàn máu.
    Trong ruột non, nước mật có thể tổng hỢp chất béo
    và nước trong thức ăn thành dung dịch dạng sữa, dưới
    tác dụng tiêu hóa của men chất béo tụy, biến thành axit
    béo đưỢc cơ thể hấp thu.
    Trong ruột non, nước, muối vô cơ và vitamin hòa tan
    đưỢc trực tiếp hấp thu đưa vào máu mà không qua tiêu hóa.
    18.

    ^
    ^

    Nhiểu loại vi khuẩn ỉổn ỉại trong đại tràng có tác
    dụng gì?

    Do dịch ruột trong đại tràng ở dạng trung tính hoặc
    kiềm yếu, nhiệt độ thích hỢp, lại có nhiều chất (bã thức
    ăn) có thể lợi dụng, cho nên các loại vi khuẩn từ miệng
    đưa vào (từ thức ăn và không khí) râ"t dễ sinh sôi phát
    triển trong đại tràng. Vi khuẩn sông và chết có trong
    phân người lên đến trên 50 loại, chiếm 20%-30% trọng
    lượng phân, trong đó nhiều nhất là trực khuẩn đại tràng.
    Người ta thường nhầm tưởng mọi vi khuẩn đều gây
    bệnh. Nhưng vi khuẩn trong đại tràng cũng có tác dụng
    nhất định, ví dụ, men trong vi khuẩn có thể phân giải xơ
    thực vật, đường và chất béo của thức ăn trong đại tràng
    thành axit lactic, axit axêtic, mêtan, khí cacbonic, axit
    béo, gluxerin,v.v... Thông thường, các châ"t này đều có
    tác dụng nhuận tràng thông qua kích thích đại tràng.
    Ngoài ra trực khuẩn đại tràng còn có thể tổng hỢp một
    sô" châ"t đơn giản trong đại tràng thành châ"t tổng hỢp
    vitamin B và vitamin K yếu, cần phải bổ sung kịp thời.

    @ Đ ạ i tràng có chức năng chủ yếu gì?
    Đại ưàng là đoạn cuôì của ông tiêu hóa, bắt đầu từ
    cuô"i hồi tràng và kết thúc ở trên hậu môn. Đại tràng có
    thể chia thành 6 phần: manh tràng, đại tràng lên, đại
    tràng ngang, đại tràng xuô"ng, đại tràng chữ s và trực
    tràng. Niêm mạc đại tràng không có lông nhung. Chiều
    dài đại tràng của người trưởng thành khoảng 1,5 mét.
    .19

    Việc tiêu hóa thức ăn và hấp thu chất dinh dưỡng
    hầu như đã hoàn thành cơ bản trong ruột non, bã còn lại
    qua nhánh hồi - manh tràng đưa vào đại tràng. Chức
    năng chủ yếu của đại tràng là tiết dịch đại tràng, tổng
    hỢp vitamin, hấp thu nước và muôi, tạm thời chứa bã
    thức ăn, hình thành phân để bài tiết ra ngoài.
    1. Tiết dịch đại tràng: niêm dịch đại tràng tiết lượng
    nhỏ chất dịch kiềm tính, dùng để bảo vệ niêm mạc
    ruột và làm mềm phân.
    2. Tổng hỢp protein: trực khuẩn đại tràng có thể lợi
    dụng một sô" châ"t đơn giản trong ruột để tổng hỢp
    vitamin B và vitamin K cần thiết cho cơ thể.
    3. Chức năng hâp thu và chức năng tạo ra phân: phần
    trên đại tràng có tác dụng hâ"p thu nước, muôi và
    lưỢiig nhỏ châ"t dinh dưỡng. Bã thức ăn, vi khuẩn,
    châ"t bài tiết của ruột và tế bào thưỢng bì bong tróc
    của ruột hình thành phân trong đại tràng. Nếu sự
    vận động của đại tràng giảm, phân tích lại trong
    ruột lâu, hâ"p thu nước tương đôi nhiều thì phân sẽ
    khô, cứng, dẫn đến táo bón. Nếu nhu dộng của
    ruột non, đại tràng tăng lên, hâ"p thu nước ít, phân
    chứa nhiều nước sẽ dẫn đến tiêu chảy.
    4. Chức năng bài tiết: đường tiêu hóa cũng là một
    nơi bài tiết châ"t thải của cơ thể và các loại thuôc.
    Như thông qua nước mật, gan bài tiết sắc tô" gan.
    20.

    máu qua thành ruột thải vào khoang ruột các kim
    loại nặng như canxi, magie, thủy ngân v.v... sau
    đó thải theo phân ra ngoầi.

    @ N u ô i con bằng sữa mẹ có ưu điểm gì?
    Sữa mẹ là thức ăn tôt nhất của trẻ.
    1. Sữa mẹ có giá trị dinh dưỡng và tỉ lệ tiêu hóa hấp
    thu cao. Sữa mẹ là thức ăn thiên nhiên lý tưởng nhất
    của trẻ. Vì rằng:
    - Casein trong sữa mẹ thấp, ít vón cục, dễ tiêu.
    - Axit béo không bão hòa nhiều, ít axit béo cứng,
    giá trị dinh dưỡng tương đối cao.
    - Trong sữa mẹ có men phân giải mỡ, bổ sung sự
    thiếu hụt men chất béo tụy ở trẻ, giúp ích cho việc
    tiêu hóa hấp thu châ"t béo.
    - Lưựng dường lacto cao, có lợi cho vi khuẩn trong
    axit lactic phát triển, hạn chế đưỢc sự sinh sôi trực
    khuẩn đại tràng, giảm tỉ lệ mắc bệnh viêm ruột.
    2. Sữa mẹ có tác dụng tăng cường sức miễn dịch
    của trẻ sơ sinh. Sữa mẹ chứa nhiều globulin (IgA, TgG,
    IgM), là thành phần miễn dịch quan trọng của cơ thể,
    tăng cường khả năng chống lại bệnh truyền nhiễm
    đường ruột và dường hô hâp của tiẻ, khiến tỉ lệ mắc
    bệnh giảm rõ rệt.
    .21

    3. Tỉ lệ canxi, photpho trong sữa :nẹ thích hỢp (2:1)
    nên bệnh còi xương ở trẻ đưỢc nuôi bằng sữa mẹ
    giảm rõ rệt. Tỉ lệ hấp thu sắt trong sữa mẹ cao nên
    trẻ đưỢc nuôi dưỡng bằng sữa mẹ ít bị thiếu máu.
    4. Nuôi con bằng sữa mẹ vừa đơn giảp vừa kinh tế.
    Đường lacto trong sữa mẹ giúp tổng hỢp glycoside
    và glycosidoprotêin, thúc đẩy não trẻ phát triển.
    5. Nuôi con bằng sữa mẹ ưánh đưỢc dị ứng ở trẻ.
    Protein trong sữa bò, sữa dê đôì với ưẻ là protein lạ,
    dễ gây dị ứng, nên thường thấy trẻ nuôi dưỡng bằng
    sữa bò nổi “mụn sữa”, chính là do dị ứng sữa.
    6. Sữa mẹ vô trùng, không gây nhiễm trùng nếu như
    người mẹ biết giữ gìn vệ sinh núm vú, nhiệt độ
    sữa lại phù hỢp nên rất ít gây ra bệnh đường ruột.
    Chính do sữa mẹ có nhiều ưu điểm kể trên mà các
    chuyên gia dinh dưỡng đều khuyến cáo các bà mẹ nên
    nuôi con bằng sữa mẹ.

    22

    .

    PhấnJ
    TÌM HIỂU VỀ BỆNH ĐƯỜNG RUỘT

    @ T ạ i sao bụng kêu?
    Khi đói, bụng sẽ phát ra tiếng kêu “bùng bục”. Khi
    vừa uống nước xong mà chạy bộ thì bụng sẽ phát ra
    tiếng kêu “óc ách”. Cha mẹ thường lo lắng khi nghe
    bụng của con có tiếng kêu. Rô"t cuộc, tiếng kêu ở bụng
    là do đâu? Chính là do nhu động đường ruột phát ra.
    Tiếng kêu này có thể bình thường, cũng có thể là tín
    hiệu bệnh, cần căn cứ vào tình hình cụ thể để phân tích,
    phán đoán.
    Khi dạ dày nhu động, bề ngoài giông như làn sóng
    cuộn lên phía trước. Thức ăn vào dạ dày chưa bao lâu
    thì dạ dày bắt đầu nhu động, mỗi phút khoảng 3 lần.
    Bình thường, sẽ không nhìn thấy sóng nhu động cũng
    .2 3

    không nghe tiếng nhu động của dạ dày, nhưng nếu trẻ
    gầy gò, thành bụng mỏng thì cổ thể thấy. Khi thức ăn
    chứa trong dạ dày dưỢc đẩy hết xuông ruột, cơ trơn dạ
    dày bắt đầu co bóp sẽ phát ra tiếng bùm bụp, ra hiệu
    bụng đói rồi, cần phải ăn. Khi ucmg nước hoặc ăn thức
    ăn lỏng hơi nhiều, dạ dày đầy nước, nếu đi lại nhanh thì
    sẽ nghe tiếng “óc ách” trong bụng.
    Khi nhu động ruột, nước và khí cùng dao dộng sẽ
    phát ra tiếng không khí trào qua nước gián đoạn, gọi
    là bụng réo, người bình thường thì khoảng 15 giây xuâ"t
    hiện một lần, ghé sát tai vào thành bụng hoặc dùng
    ông nghe dể ngoài bụng có thể nghe đưỢc. Đây là hiện
    tưỢng bình thường.
    Một sô"trường hỢp, bụng “kêu” là tín hiệu bệnh tật.
    Tiếng óc ách trong dạ dày chứng tỏ việc bài xuâ"t của
    dạ dày gặp trở ngại, thức ăn ứ trệ, thường gặp ở các
    trẻ phình dạ dày câ"p tính, hẹp môn vị, hoặc chức năng
    vận động của dạ dày yếu. Khi nhu dộng ruột tăng, bụng
    réo mỗi phút trên 10 lần, gọi là cường ruột, thường gặp
    ở các trường hỢp viêm ruột câ"p tính, bệnh lỵ, tiêu hóa
    kém, tắc ruột do giun hoặc dính ruột do phẫu thuật.

    @ T ạ i sao trẻ bị bệnh béo phì?
    Nếu trọng lượng của trẻ vượt quá 20% trọng lượng
    bình qùân của các trẻ cùng giới, cùng tuổi thì là bị béo
    24

    .

    phì, vượt 20-30% là béo phì độ nhẹ, vượt 30-50% là
    béo phì độ vừa, vượt trên 50% là béo phì nặng. Ví dụ,
    trọng lượng cơ thể bình quân của bé trai mội tuổi là 10
    kg, nếu là 12,1 kg đã là béo phì. Nguyên nhân dẫn đến
    chứng béo phì ở trẻ em có liên quan các nhân tô" sau:
    1. Dinh dương quá dư thừa: hiện nay hầu hết các gia
    đình đều ít con, điều kiện kinh tế lại tô"t hơn trước
    nhiều, đa sô" các bậc cha mẹ sỢ con thiếu dinh
    dương nên ra sức cho con ăn hết thứ này, thứ nọ,
    đắt mây cũng mua bằng đưỢc, khiến năng lượng
    trong cơ thể trẻ quá dư thừa, chuyển hóa thành
    mơ gây béo phì. Hoặc cách thức cho trẻ ăn uô"ng
    không phù hỢp, hễ trẻ quây khóc liền cho bú, lâu
    dần thành quen, ăn quá nhiều dẫn đến béo phì;
    hoặc cho trẻ ăn thức ăn rắn, nhiệt lượng cao quá
    sớm, khiến trọng lượng cơ thể tăng quá nhanh dẫn
    đến béo phì.
    2. Hoạt động quá ít: trẻ không thích hoạt động sẽ dẫn
    đến béo phì. Khi đã quá mập, đi lại khó khăn càng
    không muôn hoạt động, khiến trọng lượng cơ thể
    càng tăng mạnh, tạo ra tuần hoàn xấu: không thích
    hoạt động —> dẫn đến béo phì —> càng không
    thích hoạt động.
    3. Yếu tô" di truvền: bệnh béo phì có khuynh hương
    di truyền gia tộc nhâ"t định. Bô" mẹ béo phì thì
    .25

    70% con cái có khả năng béo phi, bô" hoặc mẹ
    béo phì thì 40% con cái có khả năng mắc chứng
    béo phì. Trẻ sinh đôi một trứng thì tỉ lệ mắc bệnh
    này càng cao.

    Cảm giác đói là do đâu?
    Thùy não dưới của con người có đầu môi thần kinh
    liên quan tới cảm giác đói, no, tức đầu mô"i thần kinh
    ăn và đầu môi thần kinh no. Hoạt động của các đầu
    môì thần kinh này chịu ảnh hưởng bởi hiệu sô" nồng độ
    đường huyết với nồng độ đường gluco máu động mạch,
    tĩnh mạch. Trong tình hình bình thường, sau khi ăn 3-4
    giờ, thức ăn trong dạ dày cơ bản tiêu hóa hết, nếu ăn
    thức ăn lỏng thì chỉ sau 2 giờ, trong dạ dày đã không còn
    gì. Qua tiêu hóa hâ"p thu, thức ăn tạo nhiệt năng cho cơ
    thể. Lúc này đường huyết giảm, tăng tiết tuyến thể dạ
    dày và tá tràng, nhu động dạ dày cũng tăng, qua phản
    xạ thần kinh, truyền đến thùy não dưới, kích thích đến
    mô"i thần kinh ăn, sinh ra cảm giác thèm ăn và đói.
    Khi thùy não dưới có bệnh hoặc châ"n thương, đầu
    mô"i thần kinh ăn hưng phân dị thường, người bệnh luôn
    cảm thây đói, thèm ăn, và liên tục ăn, dẫn đến chứng
    béo phì.

    26

    .

    ^ T i ê u chảy đơn thuần là gì?
    Khi tiêu hóa kém sẽ bị tiêu chảy đơn thuần. Nguyên
    nhân do nhiễm trùng đường ruột, yếu tô" dị ứng (như dị
    ứng với sữa bò hoặc món thức ăn nào đó), cơ địa đặc
    biệt (như bệnh còi xương, suy dinh dưỡng, phát ban)
    hoặc ảnh hưỏng khí hậu (nóng, lạnh). Suy dinh dưỡng
    là một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tiêu
    hóa kém, thường gặp ở trẻ không đưỢc bú sữa mẹ. Ăn
    không có giờ giâ"c, lúc ăn quá nhiều, lúc quá ít, cho ăn
    nhiều tinh bột quá sớm hoặc thức ăn nhiều mỡ, hoặc
    thay đổi món ăn đột ngột, v.v... đều có thể dẫn đến tiêu
    chảy. Nhiễm trùng đường ruột như nhiễm bệnh đường
    hô hâ"p, viêm phổi, viêm tai giữa và các bệnh truyền
    nhiễm câ"p tính khác đều gây rô"i loạn chức năng tiêu
    hóa, dẫn đến tiêu chảy. Do thức ăn không đưỢc tiêu
    hóa và hâ"p thu hết, tích trệ trong đường ruột, hơn nữa,
    độ axit giảm, có lợi cho vi khuẩn ở phía dưới đường tiêu
    hóa di chuyển lên trên và sinh sôi, phân giải thức ăn,
    sinh ra quá trình lên men và thôi rữa, các châ"t chua như
    axit lactic, axit etylenic sinh ra khiến áp lực thẩm thâu
    trong khoang ruột tăng lên, cộng với các độc tô" thô"i rữa
    sau khi phân giải thức ăn kích thích thành ruột, khiến
    nhu động ruột tăng, dẫn đến tiêu chảy; nếu nặng có thể
    làm mâ"t nước, rô"i loạn điện giải, ngộ độc axit với triệu
    chứng mức độ khác nhau.
    .27

    ^ T ạ i sao trẻ dễ bị suy dinh dưỡng?
    Suy đinh dưỡng còn gọi dinh dưỡng protein - năng
    lượng kém, là bệnh trục trặc dinh dưỡng mạn tính, cờ thể
    gầy gò, trọng lượng giảm, hoặc phù nề, chậm lớn, sức đề
    kháng toàn thân giảm do thiếu protein, nhiệt lượng gây
    nên, thường gặp nhiều ở trẻ dưới 3 tuổi. Do trẻ nhỏ phát
    triển nhanh, nhu cầu chất dinh dưỡng tương đối nhiều,
    nhưng chức năng tiêu hóa hâ"p thu lại chưa thật hoàn
    thiện, nên dễ bị suy dinh dưỡng. Nguyên nhân là do;
    1. Khiếm khuyết bẩm sinh; trẻ đẻ non, sinh đôi, sinh
    ba đòi hỏi nhiều chất dinh dưỡng, dẫn dến thiếu
    hụt dinh dương và năng lượng.
    2. Ảnh hưởng bệnh tật: là nguyên nhân quan trọng,
    thường thấy nhiều ở trẻ bị bệnh đường tiêu hỏa
    mạn tính như tiêu chảy mạn tính, nhiễm trùng
    đường hô hấp nhiều lần, bệnh giun sán, v.v... dều
    gây rôì loạn chức năng tiêu hoá hấp thu hoặc tiêu
    hao năng lượng quá nhiều. Dị tật bẩm sinh như hở
    môi, hỏ hàm ếch, hẹp phì đại môn vị đều khiến
    hấp thu dinh dương không đủ.
    3. Nuôi dương không đúng: trẻ nuôi bằng sữa mẹ có
    thể do sữa mẹ khổng đủ, nhưng lại chưa cho ăn
    dặm đúng lúc, đúng mức, hoặc đột ngột cai sữa,
    cho ăn thức ăn ngoài không phù hỢp, như chỉ cho
    ăn bột hoặc cháo gạo, hay sữa bò pha quá nhiều
    28

    .

    nước, sô lần cho ăn quá ít, khiến trẻ luôn ở trạng
    thái đỏi. Trẻ lớn hơn thì do thói quen ăn uô"ng
    không tô"t hoặc do ăn kiêng, ăn khảnh nên bị suy
    dinh dưỡng.

    @ K t ii nào ỉhì gọi là trẻ biếng ăn?
    Trẻ biếng ăn là trẻ không thèm ăn, ăn không ngon,
    ăn ít. Biếng ăn chỉ là triệu chứng, cũng là lời phàn nàn
    dầu tiên của bô" mẹ khi đưa trỏ đi khám bệnh. Hệ thần
    kinh trung ương của con người chịu ảnh hưởng các loại
    kích thích từ môi trường trong và ngoài cơ thể, gây mâ"t
    thăng bằng chức năng tiêu hóa, sinh ra biếng ăn. Biếng
    ăn đột ngột thường là một triệu chứng của bệnh ưẻ em;
    biếng ăn lâu dài chủ yếu liên quan tới bệnh mạn tính và
    thói quen vộ sinh ăn uô"ng không tốt. Bệnh mạn tính ảnh
    hưởng tới chức năng dường tiêu hóa, làm giảm lực căng
    cơ trơn ruột và dạ dày, làm giảm tiết dịch tiêu hóa, giảm
    sức sông của men, dẫn đến biêng ăn. Biếng ăn lâu dài có
    thể dẫn đến suy dinh dưỡng, ảnh hưỏng đến sự phát triển
    của trẻ, nên cần đưỢc sự coi trọng của các bậc cha mẹ.

    @ H ộ i chứng kém hâ'p thu của ruột là gì?
    Hội chứng kém hâ"p thu của ruột là một sô triệu
    chứng lâm sàng trục trặc tiêu hóa, hâ"p thu của ruột non
    dôi với châ"t dinh dưỡng do nhiều nguyên nhân gây ra.
    .29

    Bệnh có thể xuất hiện bất kỳ thời điểm nào hoặc
    xảy ra ngay sau khi sinh do thiếu men tiêu hóa hoặc dị
    tật đường ruột. Bản chất là do ruột non không thể hấp
    thu chất dinh dưỡng do bất kỳ lí do gì.
    Biểu hiện của hội chứng kém hấp thu là:
    - Trong phân còn nhiều thức ăn chưa tiêu hóa hay
    còn gọi là phân sống.
    - Sô"t nhẹ, đau bụng nhẹ, có thể nổi hạch dễ nhầm
    với các bệnh nhiễm trùng.
    - Khó đại tiện, ợ hơi, sình bụng.
    - Có hiện tưỢng biếng ăn, mệt mỏi, sụt cân nhanh.
    - Có biểu hiện thiếu máu, rối loạn nước và điện giải
    như đánh trống ngực, hồi hộp, xanh xao, suy nhưỢc.
    - Lâu ngày có thể dẫn đến suy dinh dưỡng, biểu
    hiện co giật do thiếu canxi, giảm thị lực do thiếu
    vitamin A, chảy máu răng do thiếu vitamin K, có
    thể có các biểu hiện thần kinh như yếu hoặc liệt
    chân tay.
    Nguyên nhân gây ra hội chứng kém hấp thu của
    ruột có thể là:
    - Thiếu men tiêu hóa do tổn thương các tạng tiết
    men tiêu hóa như gan, tụy, mật.
    - Viêm nhiễm do vi trùng, ký sinh trùng đường một.
    30.

    - Lao đường ruột.
    - DỊ tật ruột non.
    - Tác dụng phụ của thuôc nhất là thuôc kháng sinh.
    - Các bệnh tật khác như cường giáp làm tăng nhu động
    ruột, nên không đủ thời gian tiêu hóa thức ăn.
    Nguyên tắc điều trị hội chứng kém hấp thu của ruột
    là phải cung cấp cho trẻ đầy đủ vitamin, bổ sung đủ
    nước, điều trị dứt điểm các bệnh đường ruột, ít ăn các
    thực phẩm nhiều mỡ và hydratcarbon, nên ăn thức ăn
    dễ tiêu hóa.

    @ T ạ í sao có hiện tượng ợ chua?
    Ợ chua là hiện tưỢng các chất mang tính axit chứa
    trong dạ dày trào ngưỢc lên khoang miệng. Bình thường,
    áp lực đoạn dưới thực quản và cd thắt dạ dày cao hơn dạ
    dày. Khi ăn, tâm môn mở ra cho thức ăn xuông rồi đóng
    lại ngay. Nhu động dạ dày bắt đầu từ đáy dạ dày theo
    hướng môn vị, nhằm phòng các thức ăn có trong dạ dày
    trào ngưỢc thực quản.
    Khi dạ dày hoặc thực quản có bệnh như viêm, loét,
    niêm mạc dạ dày thiếu máu hoặc thiếu ôxy, trục trặc
    chức năng môn vị, v.v... đều phá hoại hoạt động bình
    thường của dạ dày, thực quản, khiến việc tiết axit dạ
    dày tăng lên, tâm môn lỏng lẻo, dạ dày nhu động ngưỢc
    .31

    nhiều hơn, khiến các chất chua trong dạ dày trào lên
    khoang miệng. Người bệnh loét hành tá tràng thì vị
    toan tiết ra nhiều càng dễ cổ hiện tưỢng ợ chua. Cũng
    cần chỉ ra rằng, kh...
     
    Gửi ý kiến