Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Bệnh thận và thực đơn

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 10h:44' 12-03-2024
    Dung lượng: 10.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    THực opu

    'HÒNG CHVÃ TRI
    TÚ sách
    Y HỌC VÀ CHĂM SÓC
    SỨC KHOẺ GIA ĐÌNH

    NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN

    BỆNH THẬN
    &

    THựC ĐƠN
    PHÒNG CHỮA TRI

    NGUYỄN v ă n b a (biên soạn)

    BỆNH THẬN
    &
    T H ự C ĐỚN
    PHÒNG CH Ữ A T R I

    NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN

    PHÂN 1

    MỌT SÔ LOẠI BỆNH THẬN THƯỪNG GẶP

    BỆN H SỎ I THẬN

    Bệnh sỏi thận (sạn thận) biểu hiện bằng đi tiểu ra
    máu và khuynh hướng dễ bị nhiễm trùng đường tiểu
    cùng với đau phía sau lưng, ở một bên sườn trên
    đường di chuyên của hòn sỏi. Bệnh thận có thể bị
    tiểu ít (thiểu niệu) và suy thận cấp nếu như sỏi gây
    tắc cả hai bên.
    Chẩn đoán
    Bệnh thận có thể phát hiện nhờ chụp X-quang.
    Trong các loại sỏi thì sỏi canxi chiếm khoảng 80%
    thành phần gồm canxi oxalate và phosphate. Bệnh
    nhân thường bị chứng nước tiểu nhiều canxi có thể
    là tự phát (không chịu tác động một bệnh khác)
    cũng có thể là thứ phát do một bệnh nào đó.
    canxi cũng có thể do canxi lắng đọng xung quanh
    một nhân axit uric trên một bệnh nhân bị chứng tiểu
    nhiều axit uric mà không tiểu nhiều canxi.
    Các nguyên nhân tạo sỏi canxi khác nhau bao gồm:
    - Chứng tiểu nhiều oxalate (nhất là những người
    bị bệnh viêm đường ruột).
    - Bệnh nhiễm toan tiểu quản thận đcfn ngoại vi.

    sỏi

    K
    h


    5
    CD

    z

    '□
    I

    í

    z
    Q
    I
    ỉ=
    <
    >

    z

    <<•
    I
    h
    I
    ĩ.
    <ÍD-

    - Bệnh thận xốp vùng tuỷ.
    Chííng tiểu nhiều calcium: Nếu híợng calcium nhập
    vào cơ thê bình thường ở miíc 800-1000mg/ngcàv, mà
    tiêu ra quá 4mg/kg cân nặng ngcàv thì coi tiểu nhiều
    calcium. Nguyên nhân, có thê do rối loạn hấp thụ
    calcium ở dạ dày - ruột, suy giảm khả năng hâ"p thụ
    calcium ở tiểu quản thận, tiêu xvíơng quá mức trong
    chứng cường cận giáp tiên phát.
    Điều trị bảo tồn bằng cách hạn chế nhập calcium
    \'ào cơ thể, sao cho ờ mức dưới 800mg ngày \'à hạn
    chế nhập protein dưới Ig/kg cân nặng/ngcày,
    thường xuyên uống nhiều nước. Hạn chế calcÌLim
    quá mức có thể gây phản tác dụng do tăng bài tiết
    oxalate qua nước tiểu và nguy cơ Icàm mất châd
    khoáng ở xương. Tránh dùng quá nhiều muối (trên
    lOg muối/ngày) và nên hạn chế dùng muối dưới
    6g/ngày. Nếu việc điều tiết ăn uống như thế mà vẫn
    không hiệu quả thì có thè dùng thêm thuốc lợi tiểu
    loại Thiazide (ví dụ uống Hydrochlorothiazide:
    25-50mg/ngày) nhằm làm cho thận tăng hấp thụ
    calcium. Nếu dùng thuốc lợi tiểu thì bệnh nhân cần
    được theo dõi cẩn thcận để đảm bảo là lượng
    calcium bài tiết qua nước tiểu giảm mà không gâv
    những biến loạn các chất trong máu.
    - Chứng cường tuyến cận giáp trạng điều trị bằng
    mô cắt tuyến cận giáp.
    - Chứng tiểu nlìiều oxalate: Khi tiểu quá 0.7mg
    oxalate/kg cân nặng/ngày thì gọi là tiểu nhiều
    oxalate. Những bệnh nhân có rối loạn hấp thu d ruột
    non do bệnh lý nội tại của ruột non thì sẽ hâp thu quá
    nhiều oxalate do sau mô cắt đoạn ruột, hoặc do mô
    nối thông hồi tràng - ruột non, thì sẽ hâ'p thu quá

    nliiều oxalate gây nên chứng tiểu nhiều oxalate. Nên
    sử dụng chế độ ăn hạn chế oxalate và dùng thêm
    (uống) calcium và cholestyramine.
    - Chứng tiểu ít citrate: citrate là chất ức chế của
    calcium oxalate. Chứng tiểu ít citrate thường thây ở
    bệnh nliân sỏi thận dạng sỏi calcium. Điều trị bằng
    cách uống Citrate Kali 20 mEq 3 lần/ngày.
    Sỏi acid uric thường do cơ thê sả,n sinh quá nhiều
    acid uric (bình thường tiêu ra acid uric không quá
    llm g /k g cân nặng/ngàv) do tiểu ít và do toan hóa
    nước tiểu kéo dài. cần dùng thuốc đê cho pH của
    cơ thể khoảng 6.5-7 (ví dụ uống Shohl 20ml 2-3 lần
    ngày). Nếu vẫn không hiệu quả thì uống Allopurinol
    300mg/ngàv. Tránh dùng Pribenecid và các thuốc
    acid uric kliác.
    Sỏi cvstine do rối loạn di truyền trong cơ chế vận
    chuyên cystine và dibasic amino acid ở thận, sỏi này
    tlutờng có ở klioảng độ tuổi 20 hoặc 30. Klii sỏi hiển vi
    nước tiểu, các tmh thể cystine có lùnh lục lăng 6 cạnh.
    Giới hạn hòa tan của cystine là 250mgl, mục tiêu điều
    trị là giảm nồng độ đo cystine trong nước tiểu xuống
    dưới mức dó. Cần phải tiểu hơn 31 ngày, và dùng các
    thuốc giúp ôn dịnh pH của mfớc tiểu (thuốc Shohl
    uống 30ml/4 lần/ngày). Nếu vẫn không có hiệu quả
    thì cân nhắc dùng D-Penicillamine (uống Ị-2g/ngày)
    hocặc Tiopronin nhiủig nên nhớ rằng các thuốc này có
    tác dụng phụ (dộc thận, dị ứng, rối loạn máu).
    Sỏi san hô (sỏi kiểu sừng hươu nai) xuất hiện khi
    độ pH trong nước tiểu tăng cao, phản ánh khả năng
    nhiễm trùng do các vi khuẩn có kliả năng phân tách
    Urê. Cần lấy bỏ viên sỏi đã nhiễm khuẩn và dùng
    kháng sinh.

    a

    z
    >(U
    ĩ

    Điểu trị sỏi thận bằng các bài thuốc y học cổ truyền
    Bài 1: Chuối hột
    Có hai cách;
    - Lá chuối hột đem sao vàng, hạ thổ, rồi sắc lên
    uống hàng ngày thay nước trà.
    - Hạt quả chuối hột lOOg + hạt bo bo lOOg + yếm
    mùa lOOg, cả 3 thứ rang vàng, tán nhỏ thành bột,
    ngày 2 lần, mỗi lần uống 12 muỗng cà phê.

    ỊT
    h
    á
    i

    0

    z

    -□
    I
    ĩ

    Bài 2: Trái dứa gai (thơm nước) hái ớt chm vàng,
    bỏ phần gai trên khoét bỏ ruột nhét đường phèn
    vào, đậy km. Nướng cả quả cho chm đều, rồi giã
    nhỏ, vắt lấy nước uống, uống 3 lần trong ngày sau
    bữa cơm.
    Bài 3: Rau om 1 nắm + râu bắp 1 nắm, sắc với 2
    bát nước, để lại 1 bát. Để nguội rồi uống ngày sắc 2
    thang, uống liên tiếp trong 5 ngày. Có khi chỉ ăn 910 ngọn rau om với thức ăn trong bữa trưa, sau 5-7
    ngày cũng có thể tiểu ra hòn sỏi nhỏ.

    z
    D
    ũ

    f
    I
    h
    1
    2

    SẠ N TRONG THẬN

    Theo thống kê, trung bình có 10% nam giới và 3%
    nữ giới đều bị sạn thận ít nhất một lần trong đời.
    Có bốn loại sạn thận tùy theo hóa châ't câu tạo
    sạn. Mặc dù triệu chứng các loại sạn giống lứiau
    nhiíng nguyên nhân cấu tạo cũng như sự điều trị
    đều khác nhau. Thông thường nhất là sạn với
    khoáng calcium oxalate hoặc phosphate với tỷ lệ

    90% và thường thây ở nam giới vào tuổi trung niên.
    Các loại khác là sạn uric acid, magnesium ammonium sulíate và cystine. Loại sau cùng chỉ có ở một số
    người sinh ra mà đã có rối loạn về chuyển hóa căn
    bản chất dinh dưỡng.
    Khi nồng độ các chất này trong nước tiểu lên cao
    thì chúng kết tmh thầnh sạn trong thận hoặc ở ống
    dẫn nước tiểu. Nguyên nhân của sự kết tinh cũng
    như làm sao ngăn ngừa sự kết tmh đều chưa được
    làm sáng tỏ mặc dù đã có nhiều nghiên cứu khoa
    học. Nhưng điều chắc chắn là sạn tái kết tinh nhiều
    lần trong cuộc đời người bệnh.
    Một số yếu tố có thể đưa tới sạn thận như thực
    phẩm có ít calcium, nhiều phosphore; nhiều
    potassium; nhiều chất đạm động vật; thiếu smh tố
    A; nhiễm trùng hoặc trở ngại lưu thông đường tiểu
    tiện; không uống nước đầy đủ; nằm bất động quá
    lâu; cao calcium và di truyền.
    Sạn âm thầm kết tinh. Sạn nhỏ có thể theo nước
    tiểu ra ngoài. Khi sạn di chuyển là lúc người bệnh
    thây đau gắt ở ngang thắt lưng, chạy xuống bẹn, đùi
    và đi tiểu ra máu. Sạn to được làm tan đi qua kỹ
    thuật lithotripsy hoặc bằng phẫu thuật. Dù thuộc
    loại nào hoặc lớn nhỏ bao nhiêu, bệnh nhân đều
    được khuyên cáo là nên tiêu thụ một lượng nước lớn
    mỗi ngày (1,5 tới 2 lít/ ngày) để có 2 lít nước tiểu,
    tránh hóa chât kết tiiứi đưa tới sạn.
    Dinh dưỡng vổi bệnh sạn thận
    1 - Sạn calcium oxalate
    Trước đây người bệnh thường được khuyên bớt
    ăn thực phẩm chứa nhiều calcium để giảm nguy cơ

    a

    z
    >
    ỊL
    kU

    z

    10
    sạn thận. Nhưng thực ra, sự liên hệ không hoàn toàn
    như vậy. Cao calcium trong nước tiểu có thê do hoặc
    không do nhiều calcium trong máu.
    Một vàỉ bệnh như chứng tăng chức năng tuyến
    cận giáp (Hyperparathyroidism), rối loạn dư thừa
    sinh tố D, u bướu xương, bệnh sarcoidosis đều làm
    tăng calcium trong máu \'à đều là nguyên nhân đưa
    tới sạn trong thận. Chữa những bệnh này sẽ làm
    giảm calcium trong máu và nước tiểu.

    ũ[
    h
    á



    z

    '□
    I
    í

    z
    ũ
    I
    íỉ

    .1
    í
    h
    I
    ĩ.
    <íĩjm

    Nhiều khi calcium trong nước tiểu cao là do sự
    hấp thụ từ thực phẩm trong một vài bệnh của ruột
    (Crohn' disease, suy tụy tạng) hoặc khi dùng quá
    nhiều sinh tố
    (sinh tố này được biến hóa ra
    oxalate) hoặc do thận rỉ calcium ra ngoài.

    c

    Nếu là do hâ'p thụ từ ruột thì sự hạn chế thực
    phẩm có oxalate calcium giúp ích cho việc điều trị.
    Thực phẩm có nhiều oxalate là rau spinach, quả dáu,
    súc cù là, quả hạch (nuts), trà.
    Nhiều chuyên gia khuyên cắt bớt sự tiêu thụ calckưn.
    Nhưng xin cẩn thận lấy ý kiến của bác sĩ trước, vì hạn
    chế quá, cơ thể sẽ rút calcium ở xương và làm xương
    suy yếu, dễ gẫy. Có ý kiến khác cho là sự giới hạn
    này có thể làm tăng nguy cơ bị sạn oxalate, vì
    calcium cao sẽ giúp gia tăng sự hấp thụ oxalate trong
    ruột và giảm sạn oxalate trong nước tiểu.
    2 - Sạn uric acid
    Uric acid là do sự chuyển hóa của châì purine
    trong chất đạm dộng vật và một số thực phẩm khác
    mà ra. Uric acid trong nước tiêu cũng lên cao ở người
    bị bệnh thống phong (gout), khi uống nhiều thuốc

    11
    Aspiiin, Probenecid. Do đó, klìi hạn chế thực phẩm có
    nhiều purine sẽ làm giảm nguy cơ sạn này rất nhiều.
    Thực phẩm có nhiều purine là: gan, óc, tim, thận
    động vật; cá herring, sardine; bia, rưỢu vang; thịt,
    đậu, rau cauliflower, nấm, rau spinach, tôm cá.
    3 - Sạn strnvite
    Gồm các hóa chât ammonium, magnesium và
    phosphate. Và thường thây ở nữ giới. Bệnh thường
    do nhiễm \'i khuẩn đường tiểu tiện với các loại
    Proteus hoặc Klebsiella, khiến châ't urea phân hóa
    thành các tinh thể ammonium. Tinh thể tụ lại với
    nhau và đưa tới sạn thận.
    Bệnh sạn này thường được chữa bằng thuôc klìáng
    sinli để tiêu diệt nhiễm trùng hoặc bằng giải phẫu.
    Dinh dưỡng không có vai trò gì trong loại sạn này.
    Trong tất cả các trường hỢp sạn thận, số lượng nước
    tiêu thụ hàng ngày có một vai trò rất quan trọng.
    Nước uống làm nước tiểu loãng và ngăn ngừa các
    tinh thể gây sạn kết tụ với nhau. Cho nên, mỗi ngày,
    người bị bệnh sạn thận cần uống ít nhâì tám ly nước
    hoặc nhiều hơn.
    Xin lưu ý là một số thực phẩm làm thay đổi mức
    độ kiềm hoặc acid của nước tiểu (chỉ số pH) và có
    ảnh hưởng tới sự kết tinh các hóa chât trong sạn
    thận.
    Rau, trái cây (ngoại trừ trái prune, plumbs,
    cranberries), sữa, làm nước tiểu có độ kiềm.
    Thực phẩm có nhiều châì đạm như thịt, cá, trứng,
    pho mát; trái plumb, prunes, cranberries, ngô bắp,
    đâu lentils làm nước tiểu có độ acid.

    <
    a

    z
    z
    ) « ịy

    z

    12

    VIÊM ĐƯỜNG T IẾ T NIỆƯ,
    VIÊM BÀNG QƯANG C Ấ P

    D[
    h

    i



    z

    'Q
    I
    í

    z

    I
    í=

    Thủ phạm gây ra bệnh này thường là vi khuẩn
    E.coli, một loại vi khuẩn có trong đại tràng và rất
    cần thiết trong việc giữ cho đường ruột khỏe mạnh,
    nhưng khi vi khuẩn này thâm nhập vào đường tiết
    niệu thì nó lại gây hại. Phụ nữ dễ bị viêm bàng
    quang gấp 25 lần nam giới, lý do là niệu đạo của
    phụ nữ (khoảng 4cm) ngắn hơn nhiều so với niệu
    đạo của nam giới (khoảng 20cm) nên vi khuẩn E.coli
    dễ thâm nhập hơn.
    Nhiều phụ nữ sau khi quan hệ tmh dục rơi vào
    tình trạng ngứa ngáy, đau rát vùng nhạy cảm, đau tức
    vùng bụng dưới. Đó là biểu hiện của viêm đường tiết
    niệu, mà phần lớn là viêm bàng quang' cấp.
    Triệu chứng của viêm bàng quang cấp râT dễ
    nhận biết; Người bệnh lúc nào cũng muốn tiểu tiện,
    đau tức vùng bụng dưới, bỏng rát khi tiểu tiện, nặng
    hơn thì tiểu tiện ra máu (giống như nước rửa thịt),
    có thể kèm theo sốt nhẹ.

    •I

    Để tránh bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nên
    thực hiện các cách sau:

    í
    h
    I

    - Uống đủ nước là một phần của chế độ dinh
    dưỡng hỢp lý, lại vừa giúp thải nhanh các chất độc
    ra khỏi cơ thể. Mỗi ngày chị em nên uống từ 1,5-2 lít
    nước và hạn chế tối đa các đồ uống có cồn và caíein.


    13

    - E)ừng nhịn tiểu tiện, vì làm như vậy các vi
    khuẩn có hại sẽ có thời gian và cơ hội gây bệnh.
    Hãy tiểu tiện trước và sau khi sinh hoạt tình dục để
    loại bỏ nhanh các vi khuẩn gây bệnh. Trước khi sinh
    hoạt tình dục phải vệ sinh cơ thể sạch sẽ (rất nhiều
    phụ nữ, nhâT là những người trẻ tuổi thường bị viêm
    bàng quang sau khi sinh hoạt tình dục là vì những
    lý do này).
    - Không nên sinh hoạt tình dục khi đang bị viêm
    bàng quang, việc đó có thể làm bệnh nặng hơn và
    bạn có thể làm bệnh lây cho chồng.
    - Chỉ dùng xà phòng, nước vệ sinh... để rửa bên
    ngoài bộ phận sinh dục, tuyệt đối không rửa bên
    trong, vì sẽ làm nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn. Tốt
    nhâT tắm rửa và vệ sinh vùng km bằng vòi xịt hoặc
    vòi hoa sen. Sau khi tắm và bơi, phải lau khô vùng
    kứi và mặc quần áo khô.
    Thay băng vệ sinh thường xuyên khi đến kỳ kinh,
    vì băng vệ sinh là con đường cho vi khuẩn thâm
    nhập vào niệu đạo và bàng quang. Nên dùng quần
    lót bằng vải sợi bông, tránh sợi tổng hỢp vì nó cản
    trở sự thông thoáng và thúc đẩy sự phát triển của vi
    khuẩn, nên dùng băng vệ sinh khô thoáng, thấm hút
    nhanh.
    Đặc biệt các ông chồng phải thực hiện vệ sinh
    sạch sẽ trước khi smh hoạt, vì tất cả những trục trặc
    kể trên cũng là do sự mất vệ sinh từ phía đối tác. ớ
    những phụ nữ dùng màng tránh thai, rửiưng đặt
    không đúng cách cũng dễ bị viêm bàng quang, vì
    màng này sẽ ép lên niệu đạo. Nếu bạn thường
    xuyên bị bệnh này tấn công, hãy nói với bác sĩ để
    tìm một biện pháp tránh thai phù hỢp.

    a

    z

    >■<
    >
    z
    mU

    z

    14

    ũ:

    h

    á

    0

    z

    -□
    ĩ

    í

    z

    s
    ĩ
    h

    .1

    ĩ

    I
    t



    Khi sinh hoạt vợ chồng, nhất định phải vệ sinh
    vùng kứi trước và sau khi gặp nhau, sau đó phải lau
    khô bằng khăn vải bông. Sau khi sinh hoạt \'Ợ
    chồng, tốt nhất nên đi tiểu để loại bỏ các vi khuẩn
    được đưa vào niệu đạo và bàng quang.
    Với những bệnh nhân bị viêm bàng quang câp,
    liệu pháp kháng sinh sẽ giúp ngăn chặn bệnh một
    cách có hiệu quả nhất. Thế nhưng, cũng chmh loại
    thuốc này sẽ diệt cá vi khuẩn có lợi, từ đó làm đảo
    lộn sự cân bằng của các vi sinh vật trong cơ thể, tạo
    điều kiện cho sự nhiễm khuân âm đạo. Vì vậy, khi
    sử dụng thuốc kháng sinh dê điều trị viêm bàng
    quang, phải tuyệt đối thực hiện đúng chỉ định của
    bác sĩ, không tự ý dùng thuốc hay ngừng thuốc đột
    ngột khi thây bệnh thuyên giảm, vì làm như thế vi
    khuẩn sẽ nhờn thuốc và rất dễ bị viêm "bàng quang
    mạn tửih.
    Bên cạnh việc dùng thuốc kháng sinh, thầy thuốc
    cũng sẽ cho bạn dùng một sô thuốc bô trợ khác.
    Hầu hết các thuốc này dều được điều chế từ dược
    thảo, có tác dụng diệt vi khuân hoặc tăng sức đề
    kháng cho cơ thể. Bệnh viêm đường tiết niệu cũng
    là bệnh dễ bị mắc lại, nên việc ăn uống để phòng
    bệnh rất quan trọng. Bạn nên uống nhiều nước đê
    bàng quang được "rửa", tránh sự tăng sinh của mầm
    bệnh, mỗi ngày nên uống 1,5-2 lít nước. Thói quen
    ăn cam, chanh, bưởi thường xuyên cũng giúp bạn
    phòng viêm đường tiết niệu hữu hiệu.

    15

    à
    M
    NHỮNG D Ấ a HIỆU CHO TH Ạ Y
    CH Ứ C NĂNG THẬN S G Y Y Ể a

    Bệnh nhân bị bệnh thận cần biết rõ những dấu
    hiệu và triệu chứng cho thâv chức năng thận bị suy
    giảm, điều đó giúp bác sĩ đánh giá và đưa phác đồ
    điều trị chính xác hơn. Không có một mức độ chức
    năng thận, hay tỷ suâd mức lọc máu cầu thận
    (GPR), mà tâd cả các bệnh nhân suy thận dựa vào
    đó để chắc các triệu chứng sẽ giống nhau. Bệnh
    nhân bị các bệnh khác như thiếu máu, tiểu đường
    hay bệnh về tim, có thể xuât hiện các triệu chứng
    ở mức GFR cao hơn những bệnh nhân không bị các
    bệnh này.
    Việc quyết định dã lọc máu hay chưa ở bệnh
    nhân suv thận thường dựa \'ào mức lọc máu cầu
    thận (GFR), vào các triệu chứng mà bệnh nhân thây,
    và dựa vào các kết quả xét nghiệm khác như
    albumin. ớ Mỹ, sẽ lọc máu khi mức lọc máu cầu
    thận (GFRI) là 15ml/min, tuy nhiên cũng chỉ là chỉ
    số trung bình nên rất nhiều bệnh nhân lọc máu khi
    GFR cao hơn 15ml/min, nghĩa là dù chưa đến mức
    lọc máu nhưng do họ có những triệu chứng khác đã
    đến mức phải lọc máu. Và cũng có những bệnh
    nhân GFR thâ'p ở mức 5-lOml/min nhvíng gần như
    không có một triệu chứng gì, và cũng nhâ't thiết phải
    loc máu nếu chỉ dưa vào mức GFR.

    )í

    16
    Những triệu chứng không rõ rệt

    F




    CD

    z

    d
    I
    í

    Q

    ĩ

    •<
    >

    í
    I

    z

    <ÌDm

    Phần lớn các triệu chứng suy thận là không rõ rệt,
    nghĩa là nó xuất hiện ở nhiều loại bệnh khác nhau,
    bao gồm cả ở thận. Ví dụ, triệu chứng phổ biến là
    mâ't cảm giác ngon miệng, choáng váng và nôn. Tuy
    nhiên, những triệu chứng này có thể xuất hiện khi
    bệnh nhân chỉ bị cúm, và dấu hiệu đấy không liên
    quan gì đến suy thận, hay khi bệnh nhân bị ngộ độc
    thức ăn, hoặc từ rất nhiều nguyên nhân đotn giản,
    phổ biến khác. Ăn không ngon miệng, kể cả trước
    khi choáng váng và nôn xuất hiện, cũng có thể là
    dấu hiệu điển hình dẫn đến ăn không đủ khẩu phần
    dmh dưỡng, thiếu protein và làm nhược cơ. Nghiên
    cứu y khoa cho thây, bệnh nhân suy dinh dưỡng,
    thiếu protein trước khi lọc máu thường có các triệu
    chứng tồi tệ ữong năm đầu lọc máu. Vì vậy, điều
    quan trọng bệnh nhân cần ăn đủ chất dinh dưỡng
    khi bị mất cảm giác ngon miệng.
    Bạn sẽ có nguy cơ cao bị bệnh thận nếu bạn bị
    tiểu đường, cao huyết áp hoặc gia đình có tiền sử bị
    bệnh thận, hoặc bạn cao tuổi.
    Các dấu hiệu vể thể tạng
    Nhóm triệu chứng phổ biến thứ hai được gọi là
    các dâu hiệu về thể tạng, mang tmh chủ quan,
    không giới hạn nhất định đến một phần nào của cơ
    thể, hay một bộ phận nào. Những triệu chứng này
    bao gồm mệt mỏi (có thể là luôn mệt hoặc chỉ mệt
    khi hoạt động thể chất), khó tập trung, giảm trí nhớ
    và mất ngủ. Phần lớn những triệu chứng này là do
    thiếu máu, vì các chất độc tích tụ do chức năng thận
    suy giảm nên không loại bỏ được. Vì vậy, có thê

    17
    điều trị thiếu máu mà chưa cần phải lọc máu. Tất
    nhiên, những triệu chứng này cũng xuất hiện vì rất
    nhiều nguyên nhân khác không liên quan đến chức
    năng thận hay thiếu máu, vì vậy cần thăm khám cẩn
    thận và làm các xét nghiệm. Nếu thiếu máu đã được
    chữa trị mà các triệu chứng này vẫn còn, thì cần
    phải nghĩ đến phương pháp lọc máu.
    Giữ nưổc
    Triệu chứng thứ 3 là giữ nước trong cơ thể làm
    tăng huyết áp, phù và khó thở. Bệnh nhân bị thận,
    bệnh nhân mới chớm bị vẫn có khả năng tạo nước
    tiểu kể cả sau khi lọc máu. Chứứi vì họ thấy vẫn có
    lượng nước tiểu bình thường, nên rất ngạc nhiên khi
    thây bác sĩ nói, thận của họ không hoạt động tốt, do
    bệnh nhân thường nghĩ lượng nước tiểu bị suy giảm.
    Tuy nhiên, sự mất cân bằng giữa lượng muối và
    nước uống, có thể làm nước tích tụ. Vì vậy, ở giai
    đoạn đầu, bệnh nhân luôn được yêu cầu ăn nhạt và
    dùng thuốc lợi tiểu. Nhưng liệu pháp này có thể
    không kéo dài được lâu và bệnh nhân phải lọc máu.
    Vì vậy, bệnh nhân suy thận, khi thây những triệu
    chứng siing ở mô (phù), khó thở, hoặc khó kiểm soát
    huyết áp cần phải nói với bác sĩ để điều chủứi phác
    đồ điều trị cho phù hợp.
    Có rất nhiều dấu hiệu và các triệu chứng xuất
    hiện ở bệnh nhân suy thận. Bao gồm, ngứa ngoài da,
    đó có thể là do mức phốtpho và canxi trong máu
    cao. Có thể giảm mức phốtpho trong máu bằng cách
    dùng thuốc phosphate binder và hạn chế dùng các
    thực phẩm có hàm lượng phốtpho cao.
    BTVTĐPCT

    a
    z

    z

    «
    z

    18

    ớ một số bệnh nhân, mặc dù đã điều chỉnh mức
    canxi và phốtpho trong máu nhưng triệu chứng
    ngứa vẫn còn, đây là do kích thích thần kinh trong
    da (bệnh về thần kinh), do sự tích tụ các độc tố bởi
    thận không có khả năng loại bỏ.
    Trong trường hợp này, lọc máu là cách duy nhất
    để chữa trị.

    1
    h



    ỊD'

    z

    -□
    ĩ
    í

    z

    ũ
    B
    -<
    >
    .1

    ĩ

    I


    Một bệnh về thần kmh khác có thể làm bệnh
    nhân thây đau ở tay và chân, tuy nhiên triệu chứng
    này cũng không phải là triệu chứng rõ rệt chỉ có ờ
    bệnli thận, bệnh nhân bị tiểu đường, nghiện rượu
    hay thiếu vi-ta-min cũng bị. Nếu bệnh nhân bị đau
    dây thần kinh do thận thì cần phải lọc máu.
    Nhìn chung, các dâhi hiệu và triệu chứng của suy
    thận không rõ rệt và đặc thù, không chỉ xảy ra ở
    bệnh nhân bị bệnh thận. Vì vậy, khi các triệu chứng
    xuât hiện, bệnh nhân cần đi khám và kiểm tra để
    xác định chính xác nguyên nhân. Trong rất nhiều
    trường hỢp, các triệu chứng kể trên sẽ được chữa trị
    bằng cách dùng thuốc hoặc các biện pháp can thiệp
    khác mà không phải lọc máu. Quyết định lọc máu
    phải dựa vào cả kết quả xét nghiệm và các triệu
    chứng bệnh kèm theo. Khi bất kể có triệu chứng nào
    xuâT hiện, bệnh nhân cần báo cho bác sĩ và thảo luận
    về cách chữa trị, mỗi bệnh nhân có một bệnh án
    khác nhau, cũng như có kết quả xét nghiệm và lối
    sống khác,
    vậy quyết định phương pháp chữa trị
    cuối cùng phải dựa vào tâ't cả các yếu tố liên quan
    thì mới đem lại hiệu quá cao nhất.

    19

    a
    VIÊM CẦU THẬN

    z

    TRONG BỆN H LG PQ S BAN Đỏ HỆ THốN G
    «Lupus ban đỏ hệ thống (LBĐHT) là một bệnh tự
    miễn ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ quan trong
    dó tổn thương thận là một nguyên nhân quan trọng
    dẫn đến tử vong. Tổn thương thận có ý nghĩa dặc
    biệt trong tiên lượng bệnh LBĐHT. Bệnh có thể có
    những đợt kịch phát nặng xen kẽ những đợt lui bệnh
    dài hay ngắn. Trong những đợt kịch phất, biểu hiện
    thận có thể là một hội cluíng cầu thận câ"p, một hội
    chứng thận hư (HCTH) có hoặc không có kết hỢp
    với suy thận.
    Tổn thướng thận trong bệnh lupus ban đỏ hệ thống
    LBĐHT là một bệnh tự miễn mà nguyên nhân
    còn chưa được hoàn toàn sáng tỏ. Nhiều yếu tố như
    gen, nội tiết, môi tritòng và miễn dịch góp phần vào
    việc khởi phát cũng như kéo dài bệnh. LBĐHT là
    một bệnh đa dạng về lâm sàng. Biểu hiện ở nhiều
    cơ quan trước hết là ngoài da, khớp, thận, huyết học,
    tim, não. Kịch phát nặng từng đợt, nặng nhất thường
    là các biểu hiện suy thận, hội chứng thận hư, tràn
    dịch màng ngoài tim, viêm cơ tim cấp, thiếu máu
    nặng, các triệu chứng câ"p về não. Biểu hiện ở thận
    chủ yếu là tổn thương cầu thận nên được gọi là
    viêm cầu thận (VCT) lupus hay nói rộng hơn là bệnh
    cầu thận lupus.

    7

    20

    K
    h



    i

    0

    z

    '□
    I
    í

    z

    s

    ỹ.

    •ẵ


    í

    I

    Bệnh thận lupus là một yếu tố tiên lượng quan
    trọng hàng đầu đối với bệnh nhân LBĐHT nhưng
    không phải lúc nào cũng đi đôi với bệnh cảnh lâm
    sàng, nên cần phải đối chiếu với sinh thiết thận và
    thăm dò chức năng thận. Biểu hiện lâm sàng thường
    có phù, tăng huyết áp. Có biểu hiện viêm không đặc
    hiệu như sốt kéo dài không rõ nguyên nhân nhiễm
    khuẩn, đặc biệt là lao. Tốc độ máu lắng tăng,
    gamma globulin máu tăng. Càng có nhiều biểu hiện
    rối loạn miễn dịch thì càng khẳng định bệnh. Có
    protein niệu dương tmh. Tổn thương thận qua sinh
    thiết thận ở giai đoạn sớm của LBĐHT gặp ở khoảng
    60 - 70% bệnh nhân. Theo phân loại của Hội thận
    học quốc tế năm 2003 có 6 hình thái tổn thương cầu
    thận. Sinh thiết thận có giá trị trong chẩn đoán, tiên
    lượng và điều trị bệnh lupus.
    Điều trị bệnh viêm cẩu thận lupus
    Tổn thương thận được coi là một trong những
    biểu hiện nặng nhâT của LBĐHT. Việc điều trị
    LBĐHT và VCT lupus được đặt ra nhằm điều trị tấn
    công trong những đợt kịch phát, xen kẽ những đợt
    điều trị duy trì, điều trị những biểu hiện của tổn
    thương thận, đồng thời diều trị những biểu hiện
    ngoài thận.
    Mục tiêu của điều trị là nhanh chóng phục hồi
    chức năng thận; tránh gây tổn thưcíng thêm cho
    thận, không để tiến triển đến suy thận mạn túìh. Đạt
    được 3 mục tiêu trên bằng các liệu pháp miễn dịch
    với ít độc tứứi nhất. Các thuốc chmh điều trị bệnh
    LBĐHT và VCT lupus chủ yếu vẫn là các thuốc ức
    chế miễn dịch: corticosteroid, cyclophosphamid.

    azathioprin... Các thuốc này có những tác dụng phụ
    nhất định lên các cơ quan khác. Do vậy, cần kiểm tra
    công thức máu thường xuyên (1-2 tuần/lần) và điều
    chỉnh liều dựa vào số lượng bạch cầu, tiểu cầu,
    hematocrit cũng như kiểm tra nước tiểu, soi bàng
    quang để phát hiện những tổn thương ác tính.
    Một số thuốc mới được đưa vào điều trị bệnh
    LBĐHT và VCT lupus khi không đáp ứng với liệu
    pháp corticoid và các thuốc ức chế miễn dịch khác
    như cyclosporin A. Tuy nhiên, vì tác dụng độc trên
    thận nên cũng được dùng thận trọng ở bệnh nhân
    VCT lupus có suy thận.
    Hiện nay, một số thuốc tác động trực tiếp lên các
    tế bào lympho B, T hay các tác nhân ức chế các
    cytokines đã được đưa vào sử dụng, tuy nhiên hiệu
    quả của các thuốc này còn đang được nghiên cứu và
    đánh giá.
    Lọc huyết tương cũng là một biện pháp điều trị
    cho nhiều kết quả tôT. Thay 3-4 lít huyết tương của
    bệnh nhân mỗi tuần bằng huyết tương hay sản
    phẩm thay thế. Phương pháp này được chỉ định đặc
    biệt cho những bệnh nhân có bằng chứng tăng rõ rệt
    phức hỢp miễn dịch lưu hành, những bệnh nhân
    VCT lupus tiến triển nặng, nếu liệu trình truyền liều
    cao phối hỢp với liều uống duy trì bằng prednisolon
    và cyclophosphamid không kết quả, hoặc nếu phối
    hợp với những biểu hiện tâm thần kinh nặng. Một
    số kháng thể đơn dòng cũng được sử dụng điều trị
    trong những thể bệnh tăng sinh ngoại mạch hình
    liềm nặng tại cầu thận.
    Những bệnh nhân đã có những dấu hiệu suy thận
    mạn tiến triển từ từ, có thể được điều trị bảo tồn với

    ==

    à
    z
    ><
    **►
    IL
    kU
    z

    22

    ỊT
    h
    á



    CD

    z

    -□
    I
    í

    z


    Q
    I
    h
    <
    >

    z
    I
    h
    I

    z

    •S'


    liều thâp corticoid, chế độ ăn giảm đạm. Suy thận
    mạn giai đoạn cuối được lọc máu chu kỳ hoặc ghép
    thận. Bệnh LBĐHT tái phát trên thận ghép ít gặp.
    Điều kiện kinh tế xã hội thấp kém, tăng huyết áp
    không được khống chế, chỉ số hoạt động và mạn
    tính cao ở thời điểm sinh thiết thận, không hoặc kém
    đáp ứng với điều trị ngay ở liệu pháp đầu tiên là
    các yếu tố cho biết tiên lượng kém.
    Tóm lại: Tổn thương thận nổi bật của VCT lupus
    là một hội chứng cầu thận câp, HCTH và suy thận.
    Biểu hiện tiên lượng nặng về lâm sàng khi nhập viện
    có tmh kịch phát là suy thận nặng độ III, IV kèm
    theo tràn dịch màng ngoài tim, màng phổi và thiếu
    máu nặng, cần phát hiện tổn thương thận sớm ở
    bệnh nhân lupus bằng kiểm tra thường xuyên
    protein niệu.
    Sinh thiết thận sớm ở những bệnh nhân có
    protein niệu đáng kể nhằm mục đích: Phân loại tổn
    thương cầu thận, đánh giá các chỉ số hoạt động và
    mạn tính, cho giá trị tiên lượng bệnh. VCT lupus
    được điều trị tấn công trong những đợt kịch phát,
    xen kẽ những đợt duy trì, điều trị những biểu hiện
    của tổn thương thận, đồng thời điều trị những biểu
    hiện ngoài thận. Các thuốc ức chế miễn dịch dùng ,
    đơn độc hoặc phối hỢp với các thuốc ức chế miễn
    dịch khác vẫn là sự lựa chọn hàng đầu trong điều trị
    các tổn thương thận do lupus. Lọc huyết tương phối
    hỢp với các thuốc ức chế miễn dịch được áp dụng
    để điều trị những đợt kịch phát nặng của VCT
    lupus. Tiên lượng của VCT lupus phụ thuộc vào
    hình thái tổn thương cầu thận và phương pháp điều
    trị được lựa chọn.
    )

    23

    a
    BÍ T iỂ a

    z
    z

    hU

    Đường đi của nước tiểu được hình thành từ các
    cầu thận, chạy qua các tiểu quản để đổ vào đài thận
    rồi đến bồn thận. Từ bồn thận nước tiểu sẽ dẫn theo
    niệu quản và chảy vào bàng quang, để sau cùng là
    thoát ra ngoài qua niệu đạo. Với một đường đi dài
    và phức tạp như vậy thì cũng có lúc nước tiểu bị tắc
    nghẽn. Trong phần này chúng tôi muốn đề cập đến
    chứng tiểu khó do bất thường ở đường tiểu dưới
    (bàng quang và niệu đạo).
    V i sao có tình trạng bí tiểu?
    Đi tiểu là một động tác theo ý muốn do sự kết
    hợp hài hòa giữa sự co bóp mạnh của bàng quang
    và sự giãn nở thật rộng của cổ bàng quang, đó là cơ
    vòng trong và cơ vòng ngoài (cơ vòng niệu đạo). Cơ
    vòng trong còn có tên là cơ vòng nhẵn, chịu sự chi
    phối cúa hệ thần kinh thực vật, còn cơ vòng ngoài
    chịu sự chi phối của não. Như vậy, muốn đi tiểu
    được phải có đủ các điều kiện: Bàng quang co bóp
    đủ mạnh, các cơ vòng giãn nở đủ rộng, niệu đạo
    thông thương, không bị vướng mắc. Thiếu một trong
    các yếu tố trên sẽ dẫn đến bí tiểu.
    Khi nào bàng quang không co bóp đủ mạnh?
    Bàng quang là một cơ rỗng, có 3 lớp, chịu ,sự chỉ
    huy của hệ thần kinh thực vật hay tự chủ, do vậy sự
    co bóp của bàng quang là hiện tượng phản xạ xảy

    z

    24
    ra ngoài ý muôn. Khi bàng quang có đủ lượng nước
    tiểu từ 300-400ml là xuâ"t hiện cung phản xạ muốn
    đi tiểu. Nhiừig đi tiểu là một động tác theo ý muốn,
    nếu chưa muốn đi tiểu não sẽ ức chế không cho
    cung phản xạ hoạt động, tức sẽ cắt đứt ngay luồng
    thần kmh của cung phản xạ thực vật chi phối mót
    tiểu đồng thời không cho cơ vòng vân mở rộng.
    Ngược lại nếu muốn đi tiểu, não sẽ thả lỏng cho
    cung phản xạ hoạt động và sai khiến cơ vòng vân
    mở rộng. Lúc đó, bàng quang sẽ co bóp và tống
    nước tiểu thoát ra ngoài thành vòi với áp lực khoảng
    700mm nước.
    ỊT
    h
    á

    5
    z

    -□
    ĩ
    í

    z
    0

    I
    h

    I
    h
    I
    Dm

    Bàng quang sẽ không co bóp đủ mạnh trong các
    trường hỢp: Mâ't sự liên hệ với hệ thần kinh thực
    vật, đặc biệt là khi bị chân thương cột sống; thành
    bàng quang bị chai xơ do viêm mạn túih, mô đàn hồi
    bị thay thế bằng mô sỢi làm bàng quang co bóp yếu.
    Khi nào các cờ vòng nhẵn không giãn nỏ gây bí tiểu?
    Cơ vòng nhẵn tức cổ bàng quang không giãn nở
    khi: Mâ't liên lạc với hệ thần kinh thực vật, hay gặp
    trong các trường hỢp chấn thương cột sống, cơ vòng
    bị xơ chai bẩm smh hay do viêm mạn tứủi, cơ vòng
    bị biến dạng và chèn ép bởi u tiền liệt tuyến, bị bít
    km do sỏi ở bàng quang. Bản chất của cơ vòng ngoài
    là luôn luôn co thắt lại. Lúc đi tiểu não sẽ ức chế sự
    co thắt này và làm giãn nở. Nếu vì lý do gì đó não
    không tác động được vào cơ vòng nữa sẽ gây bí tiểu
    như trong chấn thương cột sống.
    Khi nào niệu đạo mất thông suốt gây bí tiểu?
    Niêu đạo mất sự thông suốt khi bị chít hẹp do viêm
    làm xơ hóa, bị bít lại do sỏi, bị vỡ do chấn thương.

    25

    Cac loại bí tiểu và biện pháp xử lí
    Bí tiểu câp tmh là hiện tượng đột ngột bí tiểu,
    bệnh nhân cố rặn mới may ra có vài giọt nước tiểu
    thoát ra ngoài, trong khi đó thì bàng quang căng
    đầy, cảm giác râ"t tức bụng và đôi khi xuâì hiện ccfn
    co thắt. Nguyên nhân chủ yếu thường là do u lành
    tiền liệt tuyến gây chèn ép, sỏi mắc nghẽn tại cổ
    bàng quang hay niệu đạo, chân thương vỡ, giập niệu
    đạo, chấn thương cột sống. Với tình trạng này bệnh
    nhân phải được thông tiểu ngay, đó là các biện pháp
    phẫu thuật lây sỏi, giải quyết sự chèn ép đường tiểu,
    hoặc dùng các ống dẫn nước tiểu luồn vào niệu đạo
    tới bàng quang cho nước tiểu thoát ra ngoài.
    Bí tiểu mạn từih là kết quả của tình trạng tiểu khó
    và tiểu không hết trải qua thời gian dài, nước tiểu
    tồn tại trong bàng quang ngày một tăng. Đến lúc
    nào đó bụng dưới hình thành khôi cầu bàng quang
    lớn dần nhìn thấy được, to như quả bóng nhỏ. Bệnh
    nhân dần dần thích nghi với tình trạng bất thường
    này. Nhưng sự ứ đọng này vô cùng nguy hiểm với
    thận. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ gây ra sự căng
    trướng toàn bộ hệ tiết niệu, viêm nhiễm tiết niệu
    ngược dòng và suy thận. Lúc đó sẽ rất nguy hiểm
    đến tmh mạng. Do vậy, biện pháp điều trị là thông
    đường tiểu qua da, giảm ngay sự căng trướng, ứ
    đọng của nước tiểu trong bàng quang, sau đó loại bỏ
    nguyên nhân gây bí tiểu.
    Các trường hỢp bí tiểu có nguyên nhân tại chỗ
    hoặc ở sự chỉ huy thần kmh trung ương hoặc thần
    kinh thực vật. Các nguyên nhân tại chỗ như sỏi bàng
    quang, u tiền liệt tuyến đều phải giải quyết bằng

    <
    a

    z
    z
    «yj
    z

    26
    phẫu thuật hoặc nội soi. Các nguyên nhân khác có
    thể dùng thuốc hoặc can thiệp ngoại khoa. Tâ't cả các
    hiện tượng bí tiểu đều phải được nhanh chóng tìm
    ra nguyên nhân và có các biện pháp xử lí kịp thời,
    người bệnh (đặc biệt là nam giới lớn tuổi) cần phải
    đặc biệt chú ý đến điều này, nếu để lâu sẽ gây ra
    những biến chứng nguy hiểm.

    TIỂG TIỆN KHÓ

    ỊT
    h


    i

    z

    '□
    I
    í

    z
    ũ

    I
    í=
    -<
    >

    z

    -<•
    í
    ỉ=
    I

    z


    m

    Bệnh căn
    Có nhiều nguyên nhân gây đái khó cấp tmh. Mặc
    dù nhiễm klìuẩn đường tiết niệu là nguyên nhân của
    đa số trường hỢp đái khó, nhưng thầy thuốc vẫn
    phải tiếp cận triệu chứng phổ biến này theo cách cô
    điển để chẩn đoán đúng và điều trị thích hỢp.
    Các nguyên nhản gây đái khó là gì?
    Viêm âm đạo
    Viêm âm đạo có thể do Monilia, Gardnerella,
    Trichomonas, hoặc những n...
     
    Gửi ý kiến