Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Bí ẩn sự diệt vong của Liên Xô (1945-1991)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 09h:40' 18-03-2024
    Dung lượng: 2.0 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    BÍ ẨN SỰ DIỆT VONG CỦA LIÊN XÔ – LỊCH SỬ
    NHỮNG ÂM MƯU VÀ PHẢN BỘI 1945-1991
    Tác giả: A. P. Sheviakin
    Nhà xuất bản: Veche – Matxcơva
    Năm xuất bản: 2003
    Người dịch: Lê Trí Liêm
    Phòng Khoa học – Công nghệ và Môi trường,
    TCCT
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
    Số hoá: chuongxedap
    eBook gốc (24/06/'09): Cotyba

    Mục lục
    Thay lời nói đầu
    §I. LIÊN XÔ – MỸ. 1945-1953
    Những nguồn gốc của “chiến tranh lạnh” – 1
    Bí ẩn cái chết của Roosevelt
    Những nguồn gốc của “chiến tranh lạnh” – 2
    Sự điều hành ở Liên Xô. 1945-1953
    Bí ẩn cái chết của Xtalin
    §II. LIÊN XÔ. 1953-1985
    “Trì trệ lớn”
    Nhiệm vụ của Khrusov
    Địa chính trị “nội bộ” – 1
    Sự điều hành ở Liên Xô. 1953-1985
    Tài liệu N°1
    Tài liệu N°2
    Nhiệm vụ của Xuxlov
    Những huyền thoại của kẻ phụng sự “Trì trệ lớn”
    Nhiệm vụ của Breznev
    Bí ẩn cái chết của Maserov, Xuxlov và những người khác
    Nhiệm vụ của Andropov
    Bí ẩn cái chết của Andropov
    Bí ẩn cái chết của Uxtinov và những người khác
    §III. BỘ MÔN NGA TRONG CHÍNH TRỊ HỌC MỸ
    “Những trung ương thần kinh” và các tổ chức Xô viết học Mỹ
    RAND Coporation
    Các nhà Xô viết học
    Sản phẩm của “Những trung ương thần kinh”: các học thuyết và
    công nghệ trí lực
    Phụ lục chương III
    §IV. “LỜI CỦA ALLEN DALLES. NHẠC CỦA RAISA VÀ
    MIKHAIN GORBACHOV. “CẢI TỔ”. NGƯỜI BIỂU DIỄN ĐẦU
    TIÊN”
    Mật ước của “những nhà cách mạng cộng đồng”
    Quan điểm hệ thống về thất bại của Liên Xô
    Sự hỗ trợ trí lực của phương Tây trong việc hủy diệt Liên Xô
    Những cuộc chiến tranh của thế hệ thứ sáu
    Chiến tranh thông tin – tâm lý
    “… Các nhà Xô Viết học đã đạt được điều gì”
    Chiến tranh tổ chức

    Chiến tranh tài chính – kinh tế
    Chiến tranh công nghệ
    Chiến tranh máy tính
    Nhiệm vụ của gia đình Gorbachov
    Sự điều hành ở Liên Xô. 1985-1991
    Tài liệu N°3. “Những trung ương thần kinh” của Liên Xô. 19851991
    Tài liệu N°4. Cơ quan KGB của Liên Xô. 1985-1991
    Nhiệm vụ của Iakolev
    Những huyền thoại của cải tổ và công khai
    Nhiệm vụ của Kriuchkov
    Những điệp viên có thế lực
    Địa chính trị “nội bộ” – 2
    Hệ thống xã hội chủ nghĩa và sự sụp đổ của nó
    Nhiệm vụ của Ianaiev
    Những bước phản tiến
    Sự chuẩn bị của các phương tiện thông tin đại chúng
    Sự chuẩn bị có phân tích
    Những mô tip của các cầu thủ trụ cột
    Bí ẩn cái chết của Pugo và Akhromeiev
    Bí ẩn cái chết của Kruchina và những người khác
    Bí ẩn cái chết của những nhân viên mật vụ
    Phụ lục chương 4
    Kết luận
    Thời điểm của sự thật
    Phụ lục
    Phụ lục N°1
    Phụ lục N°2
    Phụ lục N°3
    Phụ lục N°4
    Phụ lục N°5
    Phụ lục N°6
    Phụ lục N°7
    Phụ lục N°8

    Thay lời nói đầu
    Bạn đọc không khỏi ngạc nhiên khi có thêm một cuốn sách về đề tài “cải
    tổ” và sự phá hoại ngay sau đó ở Liên xô. Trong 10 năm sau khi Liên Xô sụp
    đổ đã có quá nhiều người viết về nó. Tất cả những ai muốn bày tỏ, đều đã
    bày tỏ. Những người liên quan – các nhà hoạt động chính trị, các trợ lý thân
    cận của họ, các nhà ngoại giao, nhân viên mật vụ, – đều đã viết hồi ký.
    Những người nghiên cứu: các giáo sư và tiến sĩ, các nhà sử học, chính trị
    học, địa chính trị và triết học đều đã làm việc rất thành tâm.
    Như nhiều người khác, tôi cố gắng đi tìm câu trả lời cho vấn đề còn trăn
    trở: Về nguyên tắc, tại sao có thể xảy ra như vậy? Trong số những gì đã
    được viết ra vẫn có nhiều điều làm tôi băn khoăn: nhiều sự kiện còn thiếu,
    các phương pháp tiếp cận chưa phanh phui tới tận cùng, thường thiếu những
    tư liệu về việc ai và mục tiêu người đó đã theo đuổi là thế nào, các nhiệm vụ
    đã được giải quyết ra sao, các đòn tấn công từ bên trong và bên ngoài đã
    được chuyển hóa như thế nào dưới ảnh hưởng của những hoàn cảnh bị thay
    đổi, mối quan hệ giữa chúng thế nào. Để tìm ra câu trả lời tôi đã tìm các
    cuốn sách mang tiêu đề hay tên các tác giả có liên quan tới đề tài này. Song,
    những câu trả lời trong số sách tôi tìm được hoàn toàn không làm tôi thỏa
    mãn.
    Khi đó tôi quyết định nêu ra giả thuyết của mình và nó nằm ngay trong
    cuốn sách này. Sau khi phân tích những thông tin có được theo phương pháp
    luận của quan điểm hệ thống rất thông dụng hiện nay, tôi cho rằng nó đã đạt
    tới mức độ mới về chất lượng so với những gì có trước đó.
    Hiện tượng xảy ra với Liên Xô trong những năm cải tổ vô cùng đơn giản.
    Về hiện tượng này, hiện có hai quan điểm – thậm chí những nhà nghiên cứu
    chân thành và thiện tâm nhất cũng luôn luôn cố chỉ ra rằng những sự kiện
    trên lãnh thổ Liên xô hoặc là do âm mưu của Mỹ, hoặc là đổ hết mọi tội lỗi
    cho những nhân vật trong Ban lãnh đạo Xô Viết. Chúng tôi thấy có mối
    tương tác của cả nguyên nhân này lẫn nguyên nhân kia.
    Chúng tôi không định đưa thêm một phân tích xét lại cuộc cải tổ và giai
    đoạn diễn ra trước đó. Đấy là công việc của các nhà sử học. Phương án được
    lựa chọn đơn giản hơn nhiều. Xuất phát từ việc những phương thức được áp
    dụng để chống lại Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa xô viết có đặc điểm
    mới, đặc biệt là vào giai đoạn 1985-1991. Điều đó có nghĩa là cả các phương
    pháp nghiên cứu cũng phải hiện đại hơn. Quan điểm hệ thống và những
    phương thức khác đem áp dụng ở đây sẽ gây ra nhiều điều đặc biệt phức tạp.
    Tuy nhiên, theo tôi, nhiều điều xảy ra có thể không được liệt kê tỉ mỉ và chỉ
    được làm rõ khi sử dụng quan điểm hệ thống. Điều đáng tiếc là với số lượng
    tài liệu sưu tầm được thì chưa thể sử dụng được quan điểm hệ thống về

    những gì đã xảy ra với nước Nga trong những năm 1985-1991. Có quá nhiều
    sự kiện trùng lặp. Mà như Goethe (1749-1832. Nhà văn Đức) từng nói, dân
    tộc nào không mong muốn hiểu biết quá khứ của mình thì dân tộc đó đáng
    phải trải nghiệm lại nhiều lần nữa.
    Bất cứ ý định nào tìm hiểu điều đã xảy ra trong những năm 1985-1991
    cũng hoàn toàn vô ích, nếu chỉ phân tích các sự kiện đã diễn ra trong khuôn
    khổ thời gian kể trên, bởi cải tổ – đó là chu kỳ công khai của những quá trình
    tiêu cực tiềm ẩn từ trước. Vì vậy, cần phải mở rộng phạm vị nghiên cứu,
    xem xét từ chục năm trước. Cũng như cần phải hiểu rằng các quá trình phá
    hoại, sau sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa và Liên Xô, vẫn không
    không dừng lại.
    Chiến dịch “cải tổ” có nhiều bước và nhiều phương án. Song kế hoạch lật
    đổ Chính quyền Xô Viết ở Liên Xô và làm tan rã Liên bang Xô Viết một
    cách chi tiết, thống nhất như thế thậm chí không hề có lấy một nét đại thể.
    Cũng đã có những dự thảo, có bổ sung, có mục tiêu rõ ràng, các phương thức
    sử dụng được thảo luận kỹ lưỡng và được chuẩn y. Tùy theo kết quả thu
    được ban đầu mà kế hoạch và phương thức hành động lại được điều chỉnh để
    mong đợi kết quả mới. Vậy mà Mỹ và các “nhân viên hành động” đã thu
    được những kết quả vĩ đại. Còn chiến dịch “cải tổ” lại tỏ ra rất mù mờ. “Phải
    nói là tôi rất khâm phục cách thức phương Tây đã tiến hành toàn bộ “chiến
    tranh lạnh”. – Nhà phân tích A. A. Zinoviev viết, – Họ đã tiến hành rất xuất
    sắc và thực sự đã giành được ưu thế về trí tuệ so với giới lãnh đạo ngờ
    nghệch của chúng ta”.
    Điều đã xảy ra, ở một mức độ nào đó, là một quá trình tự nhiên đối với thế
    giới khắc nghiệt của chúng ta. Mục tiêu của bất cứ hệ thống xã hội nào cũng
    là cố gắng đạt được những thành tựu lớn hơn so với hệ thống khác. Nếu
    không đạt được mục tiêu đó một cách chính trực, thì dường như còn một
    cách là gây ra cho các láng giềng những thiệt hại nặng nề hơn.
    Cuốn sách này độc đáo bởi phần lớn tư liệu được sử dụng theo quan điểm
    tư duy sự kiện. Tôi cho rằng, trong thời gian tới, các nhà sử học có thiện tâm,
    có trách nhiệm mô hình hóa các tình huống theo cách thức như chính họ là
    những người tham gia vào các hành động đó. Có như vậy, chất lượng nghiên
    cứu sẽ tăng lên đáng kể. Chỉ khi đó các nhà sử học mới phát hiện ra những
    vấn đề mà theo cách tư duy thông thường không chú ý đến.
    Trong công trình này tác giả đã cố gắng dựa vào cách luận giải của triết
    gia hiện đại A. A. Zinoviev: “Phản cách mạng ở Liên Xô được sinh ra từ tổ
    hợp các yếu tố bên trong cũng như bên ngoài, khách quan cũng như chủ
    quan. Để làm rõ cụ thể những yếu tố nào và chúng có vai trò gì trong đó,
    trước hết, cần tách bạch chúng ra khỏi dòng chảy của các sự kiện lịch sử – cụ

    thể, xác định rõ ranh giới sự kiện và thời gian của chúng. Cần xác định hành
    động cụ thể của những con người tạo ra chúng và xác định rằng đó chính là
    cái đã kết nối những hành động đó vào cái toàn thể duy nhất, vào một hành
    động chung phức tạp của nhiều con người khác nhau. Điểm chung của tất cả
    những hành động đó là họ, bằng cách này hay cách khác, đã hủy diệt chế độ
    xã hội của đất nước”.
    Tôi muốn nêu ra một số điểm tương đồng về lịch sử. Vào đầu thế kỷ XX,
    đã có một cuộc cách mạng diễn ra ở nước Nga. Vào nửa đầu những năm
    1930, Liên Xô không chỉ thoát cơn hiểm nghèo mà còn trở nên trẻ trung và
    tráng kiện hơn. Để trả đũa, vào những năm 1940, phương Tây đã tiến hành
    một cuộc chiến công khai chống nước Nga và phải chịu thất bại. Do tính chất
    hai mặt của cải tổ, chúng ta thấy rằng cách mạng (chính xác hơn là “phản
    cách mạng”) đã đem lại sự thay đổi chế độ xã hội từ xã hội chủ nghĩa sang tư
    bản chủ nghĩa và có lợi cho phe chống Xô Viết. Như mọi cuộc chiến tranh
    khác, “chiến tranh lạnh” đã làm thay đổi cấu hình địa chính trị ở quy mô toàn
    cầu và thời đại, đem lại cho phương Tây một chiến thắng, dẫu tạm thời
    nhưng rất rõ ràng, đối với kẻ thù Xlavơ truyền kiếp của nó.
    Nếu như cuộc tấn công vào Liên Xô chỉ xuất phát từ bên ngoài – đó là một
    cuộc chiến tranh thuần túy. Nếu như giấc mơ của một bộ phận thượng lưu về
    sự hồi sinh chủ nghĩa tư bản trở thành hiện thực – đó cũng chỉ là một cuộc
    cách mạng. Nhưng vấn đề là cả hai sự kiện đó đã kết hợp làm một. Thù trong
    và giặc ngoài của đất nước Xô Viết và của nhân dân Liên Xô đã cấu kết với
    nhau. Chu kỳ năng động của chiến tranh đã xảy ra, chỉ có điểm kết thúc của
    nó là chưa rõ…
    Cuộc chiến tranh nào cũng được bắt đầu vào một ngày nhất định. Người
    dân của cả hai quốc gia (hai liên minh) tham chiến, bằng cách này hay cách
    khác, sẽ biết đến chiến tranh và việc họ sẽ là những người phải đối mặt.
    Cuộc chiến mà chúng ta đang xem xét chưa từng có trong lịch sử. Quy mô
    và tốc độ biến động của nó đã phủ định mọi cách diễn đạt – điều mà trong
    quá khứ phải diễn ra suốt cả thế kỷ. Phương thức tiến hành cuộc chiến này
    chỉ trở nên sáng tỏ sau khi giai đoạn đầu của nó đã kết thúc. Thậm chí, nhiều
    công dân của đất nước Xô Viết còn chưa kịp hình dung ra diện mạo của nó.
    Bộ máy tuyên truyền đã tỏ ra xuất sắc tới mức trong nhận thức của quần
    chúng, cuộc chiến tranh thế giới III chỉ xảy ra khi vũ khí hủy diệt lớn được
    đưa vào sử dụng và bằng chứng của sự kiện đó là một cuộc xâm lược công
    khai.
    Nhưng đây lại là một cuộc chiến mà chúng ta và nhiều người khác đã
    không thể nhận diện. “Tính chất bạo tàn của cuộc chiến này – cuộc chiến
    chống lại quân đội chúng ta, chống lại quốc gia – là thời điểm khởi đầu của

    nó đã diễn ra từ lâu rồi. Chúng ta đã không nhận ra cái ngày mà quân đội bắt
    đầu phải hứng chịu đòn tấn công mang mục đích phá hoại và hủy diệt”.

    CHƯƠNG I
    LIÊN XÔ – MỸ. 1945-1953
    Những nguồn gốc của “chiến tranh lạnh” – 1
    Cũng như lý do đối với Chiến tranh thế giới II được hình thành khi Chiến
    tranh thế giới I kết thúc, lý do đối với “cải tổ” là những sự kiện xảy ra cuối
    Chiến tranh thế giới II.
    Trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ và guồng máy khát khao thống trị thế
    giới đã từng tồn tại những quan điểm hoàn toàn khác nhau về việc hợp tác
    chính trị – quân sự của Mỹ và Liên Xô trong cuộc đấu tranh chống Đức,
    cũng như về việc quan hệ với Liên Xô nói chung. Phe được coi là thân Tổng
    thống (F. D. Roosevelt) ủng hộ việc liên minh bền vững với Liên Xô trong
    thời gian chiến tranh và không hề có ý định rời bỏ liên minh này sau đó. Phe
    khác – được coi là chống Xô Viết – đã có ý kiến hoàn toàn đối lập. Thái độ
    khác biệt như thế được thể hiện thành một cuộc đấu tranh thực sự giữa hai
    phe. Cuộc đấu này đặc biệt trở nên gay gắt hơn khi Hồng quân bắt đầu giành
    được những thắng lợi trên các mặt trận, giải phóng toàn bộ lãnh thổ của
    mình và tiến vào chiến trường châu Âu. Khi đó tổng thống Mỹ và Thủ tướng
    Anh không chỉ buộc phải ký vào bản Hiệp ước Ialta (4-11/2/1945), mà còn
    phải thực thi các điều khoản trong đó trên thực tế.
    Phe chống Xô Viết đã tiến hành thăm dò các quan chức Chính phủ về việc
    hủy bỏ những cam kết và xem xét lại đường lối đối ngoại sau chiến tranh.
    Ngay từ thánh 8 năm 1943, Cơ quan chiến lược Mỹ đã chuyển cho cấp lãnh
    đạo cao nhất đất nước xem xét Bị vong lục 121, trong đó đặt ra giả thiết về
    “phương hướng có thể của chiến lược và chính sách trong quan hệ với Đức
    và Nga. Trong điểm 3 của nó nêu: “cố gắng chuyển toàn bộ sức mạnh của
    nước Đức do phát xít và các tướng lĩnh đang điều hành chống lại Nga. Điều
    đó, rõ ràng, sẽ dẫn tới việc chính nước Đức hùng mạnh và hiếu chiến, nước
    đã từng tuyên chiến chống Nga và chống chúng ta (Mỹ) vào năm 1941,
    chiếm đóng Liên Xô”.
    Dường như hành động chủ yếu của phe này là họ đã bắt đầu tìm kiếm cách
    tiếp xúc với Đức. Các cuộc đàm phán đã được tiến hành thông qua cầu nối:
    Trưởng đoàn phái bộ Mỹ tại Berlin là Allen Dalles – Chỉ huy Ban tham mưu
    của Himle là Tướng SS Karl Volf. Rõ ràng “vụ Volf – Dalles” là chiến dịch
    chống lại Tổng thống Roosevelt và đường lối của ông ta. Nó được bắt đầu
    khi ông ta còn sống và nhằm phá hoại việc thực thi Hiệp ước Ialta.
    Phía Xô Viết được biết đến vụ này sau cuộc trao đổi thông tin giữa Bộ
    Dân ủy ngoại vụ Liên Xô và Bộ Ngoại giao Mỹ. Đây cũng là đối tượng trao
    đổi qua thư từ giữa I. V. Xtalin và F. D. Roosevelt. Tổng thống Mỹ đã tìm

    cách lảng tránh các câu hỏi của Xtalin bằng cách trì hoãn thời gian, đồng
    thời cố gắng nắm lại các đầu mối và các nhân vật quyền lực để tác động tới
    tình hình đang tuột khỏi tầm kiểm soát của mình.
    Cho đến nay ta chỉ có thể phán đoán về những gì xảy ra giữa Roosevelt và
    những kẻ chống lại đường lối của ông ta, song rõ ràng là ông ta đã phải chịu
    áp lực vô cùng lớn từ phía đối thủ bởi đó là đòn nhắm vào uy tín của Tổng
    thống. Tình huống đặt ra là một nhân vật có quyền lực hợp hiến cao nhất
    nước không còn kiểm soát được hành động của những kẻ thuộc quyền xung
    quanh mình.
    Mùa Xuân năm 1945, xung đột trong quan hệ ngoại giao đã có thể chuyển
    thành nguy cơ quân sự công khai. Vụ việc này có thể gây ra xung đột đặc
    biệt, cho dù là nghịch lý, đối với trục “Nga” – “Nga (không phải Xô Viết)”,
    chứ không phải đối với trục “Đức” – “Nga” hay trục “Mỹ + Anh” – “Nga”.
    Thời gian gầy đây người ta lại khơi dậy và thường xuyên đề cập tới hoàn
    cảnh cuối chiến tranh của những người Kazak đã từng chiến đấu bên phía
    Hítle trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và bị bắt làm tù binh. Cũng cần nêu ra
    những toan tính sau: cả Mỹ, cả Anh đều không thể công khai tuyên chiến với
    Liên Xô. Phát lệnh chiến đấu cho các sĩ quan và binh sĩ Mỹ, Anh sau suốt 4
    năm nỗ lực hợp tác cùng người Nga và tiến hành phản tuyên truyền trong
    một thời gian rất ngắn là một việc làm quá sức. Với người Đức cũng có vấn
    đề: quân đội đã suy kiệt bởi chiến tranh, mà điều chủ yếu là lòng cuồng tín
    đã rệu rã; người Đức sẵn sàng chiến đấu nhưng không thể vì quyền lợi của
    nước thứ ba, cho dù tiềm năng vẫn còn. Chỉ còn có thể buộc những kẻ phản
    bội, những kẻ tráo trở và những cựu bạch vệ chiến đấu bởi chúng không có
    gì để mất. Trong trường hợp đó có lực lượng khác can thiệp vào. Đặc biệt,
    yếu tố này có thể được khởi động nếu chú ý tới việc Liên Xô thực thi các
    hiệp ước trước đây và việc họ chuyển đại quân từ chiến trường châu Âu sang
    phía Đông để tiến hành chiến tranh với Nhật, Trong trường hợp đó rất cần
    tính đến cả việc I. V. Xtalin vào mùa hè năm 1945 sẽ buộc phải làm việc với
    những đối thủ chính trị mới là G. Truman và K. Attlee (Thủ tướng Anh thời
    kỳ 1945-1951. ND), chứ không phải với những đối tác cũ của ông ta là F. D.
    Roosevelt và W. Churchill (Thủ tướng Anh thời kỳ 1940-1945 và 19511955. ND). Có quá nhiều nguyên nhân gây nên những mâu thuẫn và bất
    đồng này: “… Sau chiến tranh, năm 1945, theo kế hoạch Marshall, tại vùng
    phía Tây nước Đức do Mỹ, Anh và Pháp chiếm đóng, “nền dân chủ thế giới”
    đã soạn thảo một kế hoạch tiến hành triệt sản bắt buộc đối với tất cả đàn ông
    ở độ tuổi quân dịch bị nghi ngờ đã tham gia chiến đấu. Mà vào cuối chiến
    tranh, những người ở độ tuổi quân dịch trong lực lượng dân quân
    (Folksturm) là từ 14 đến 60, nghĩa là tất cả nam giới người Đức ở độ tuổi
    sinh sản đều sẽ bị triệt sản!

    Nếu tính rằng nước Đức lúc đó tràn ngập các đội quân chiếm đóng được
    tập hợp từ rất nhiều dân tộc và chủng tộc khác nhau: người Pháp gốc
    Angieri, người Anh ở thuộc địa A-rập, người Mỹ da mầu và gốc Do Thái…,
    thì có thể hiểu được ý đồ của họ – biến dân tộc Đức thành một chủng tộc hỗn
    tạp, từ đó trải qua vài thế hệ có thể sẽ tận diệt được hệ gen và đặc tính dân
    tộc đó mà không nhọc công nhiều.
    Vào năm 1945, Xtalin đã đứng ra ngăn chặn hành động tội ác này của kế
    hoạch Marshall bằng lời cảnh cáo phương Tây – những người hôm qua còn
    là đồng minh của mình – rằng nếu họ bắt đầu tiến hành triệt sản, ông sẽ khởi
    động một cuộc chiến tranh chống lại họ. Tài liệu lưu trữ quốc gia Anh vừa
    được công bố mới đây cũng xác nhận có một âm mưu quân sự trực tiếp. Vào
    tháng 4 năm 1945, một chiến dịch có tên gọi rất mỹ miều “Điều không
    tưởng” đã được tiến hành hoạch định nhằm gây ra một cuộc chiến tranh với
    Nga ở châu Âu (Trong trường hợp này không thể bỏ qua vụ đụng độ giữa
    giữa quân đội của Anh và Xô Viết đang chiếm đóng ở Iran). Đó là câu trả lời
    khẳng định về việc giới lãnh đạo Xô Viết đã biết tới những kế hoạch theo
    đuổi chiến tranh của phía Anh.
    Vì vậy, không có gì ngạc nhiên với việc Liên Xô và một bộ phận Mỹ
    “chống Roosevelt” cuối cùng đã thực sự đối đầu nhau.

    Bí ẩn cái chết của Roosevelt
    Bản thân F. D. Roosevelt từ nhỏ vốn đã ốm yếu, thiếu tinh thần và thể
    chất để làm một chính khách. Chỉ nhờ cá tính mạnh mẽ và kiên quyết mà
    ông đã đắc cử tổng thống trong một đất nước hết sức phức tạp như Mỹ, thậm
    chí còn lập ra một kỷ lục chưa từng có – 4 nhiệm kỳ!!! Hơn nữa, lần tranh cử
    đầu tiên khó khăn nhất đã diễn ra trong hoàn cảnh kinh tế và xã hội đang
    khủng hoảng. Rồi cả chiến tranh cũng chẳng buông tha ông, cho dù nó
    không phải là nguyên nhân làm ông đột tử.
    F. D. Roosevelt, theo chúng tôi, đã phải chết, nhưng không chỉ là do việc
    ông ta đã cắt đứt cuộc đàm phán tại Berne. Còn một nguyên nhân để phế bỏ
    ông là: ở cương vị Tổng thống Mỹ, lẽ ra ông phải là người ủng hộ việc đối
    đầu với Liên Xô, thì ông ta lại không sử dụng những kẻ theo đuổi đường lối
    đó. Còn đối với những kẻ quay ngoắt 180°, chúng ta không rõ là có cần phải
    gạt W. Churchill ra khỏi cương vị Thủ tướng Anh hay không, song có một
    sự kiện cho thấy vào mùa hè năm 1945 trên vũ đài quốc tế đã xuất hiện hai
    đối thủ mới – Tổng thống Mỹ G. Truman và Thủ tướng Anh K. Attlee.
    F. D. Roosevelt đột ngột qua đời. Ngày 12 tháng 4 năm 1945, ông ta đang
    nghỉ ở Warm-Springs, Một ngày xuân tràn ngập ánh mặt trời và không có
    một điều gì báo trước thảm họa. Tổng thống Mỹ ngồi làm mẫu vẽ cho họa sĩ
    Elizabet Sumatova, tâm trạng sảng khoái, nói chuyện vui vẻ. Bất ngờ sắc
    mặt ông nhợt nhạt – F. D. Roosevelt bột phát cơn đau đầu. Hai giờ sau ông
    qua đời.

    Những nguồn gốc của “chiến tranh lạnh” – 2
    Cái chết của F. D. Roosevelt đã cởi trói cho những kẻ từng ngấm ngầm
    chống lại đường lối của ông nói chung và khuynh hướng xích gần lại với
    Liên Xô nói riêng. Nó là điều kiện tạo nên bước ngoặt căn bản mà từ đó bộ
    máy quốc gia Mỹ đã phải thay đổi hướng chuyển động. Nguy cơ một cuộc
    đối đầu giữa Liên Xô và Mỹ xuất hiện. Phe hiếu chiến (đặc biệt là Hội đồng
    Quan hệ quốc tế – SMO) trong giới lãnh đạo Mỹ đã tung ra đủ trò lừa dối trơ
    tráo. Ngay tại SMO, với sự có mặt của G. Truman, G. Morgeney, B.
    Barukha, A. Dalles đã nêu rõ phương châm của mình: “Chiến tranh sẽ kết
    thúc, mọi xáo trộn sẽ được ổn định. Và chúng ta sẽ bỏ ra tất cả những gì
    chúng ta đang có – vàng bạc, mọi vật lực để gia công và thuần hóa con
    người.
    Bộ não của con người, nhận thức của mọi người đều có khả năng thay đổi.
    Sau khi gây ra rối loạn nơi đó, chúng ta sẽ bí mật thay thế các giá trị của họ
    bằng những giá trị giả và chúng ta sẽ buộc họ tin vào những giá trị giả đó.
    Bằng cách nào? Chúng ta sẽ tìm ra được những người cùng tư duy với mình,
    những đồng minh của mình ngay trong nước Nga.
    Thảm họa diệt vong trên quy mô rộng của cả dân tộc bất khuất nhất, sự
    hủy diệt hoàn toàn, không thể đảo ngược ý thức của họ sẽ lần lượt xảy ra.
    Trong văn học và nghệ thuật, chúng ta sẽ làm cho bản chất xã hội của họ bị
    nhiễm độc. Chúng ta sẽ loại bỏ các họa sĩ, hủy diệt hoàn toàn niềm đam mê
    nghiên cứu, sáng tạo. Văn học, nhà hát, điện ảnh – tất cả sẽ chỉ mô tả và ghi
    nhận những tình cảm đê tiện nhất của con người. Dù sao chúng ta cũng giữ
    lại và nuôi dưỡng những kẻ được gọi là họa sĩ khi chúng biết gieo rắc và
    nhồi sọ vào ý thức mọi người sự sùng bái tình dục, bạo lực, thói bạo dâm,
    phản trắc – tóm lại, tất cả những gì vô đạo. Trong lĩnh vực điều hành quốc
    gia, chúng ta sẽ tạo ra sự rối loạn, trì trệ…
    Chúng ta sẽ thầm lặng, nhưng tích cực và dần dần tạo điều kiện cho thói
    độc đoán của các quan chức, những kẻ ưa hối lộ, vô nguyên tắc. Thói quan
    liêu và giấy tờ sẽ được nâng lên thành phẩm hạnh. Thái độ danh dự và lương
    thiện sẽ bị chế giễu và không được ai cần đến, bị thành tàn tích của quá khứ.
    Thói đểu cáng và đê tiện, giả dối và lừa đảo, say sưa và nghiện ngập, nỗi sợ
    hãi lẫn nhau và thái độ vô liêm sỉ, phản bội, chủ nghĩa dân tộc và sự thù địch
    giữa các dân tộc, trước hết là sự thù địch và lòng căm thù đối với dân tộc
    Nga – tất cả những cái đó sẽ sẽ được chúng ta tôn tạo lặng lẽ và khéo léo, tất
    cả những cái đó sẽ nở thành hoa độc… Và chỉ có một số ít, rất ít người sẽ
    đoán được và hiểu được điều gì đang diễn ra. Nhưng những người đó sẽ
    được chúng ta đẩy vào tình thế bất lực, chúng ta biến họ thành kẻ bị mọi
    người chê cười, chúng ta tìm cách vu oan cho họ và tuyên bố đó là thứ rác

    rưởi của xã hội.
    Chúng ta sẽ đào bật các cội rễ tinh thần của chủ nghĩa bônxêvich, làm tầm
    thường hóa và hủy diệt những nền móng của đạo đức. Bằng cách như thế
    chúng ta sẽ tha hóa thế hệ này sang thế hệ khác, làm thui chột thái độ cuồng
    tín với chủ nghĩa Lênin. Chúng ta sẽ nắm lấy mọi người ngay từ khi còn trẻ
    thơ, niên thiếu, chúng ta sẽ hy vọng chủ yếu vào lớp thanh niên, chúng ta sẽ
    làm cho nó tha hóa, phân hóa, đồi trụy. Chúng ta sẽ biến chúng thành kẻ trơ
    trẽn, đểu giả, thành những kẻ theo chủ nghĩa thế giới (cosmopolit). Chúng ta
    sẽ làm như thế đó” (Đề cương báo cáo của A. Dalles tại phiên họp SMO mở
    rộng)[1]
    I. V. Xtalin đã được báo cáo ngay lập tức về bài phát biểu này. Trưởng
    ban Thư ký L. P. Beria là B. A. Liudovich sau này nhớ lại rằng Xtalin đã
    phản ứng rất quyết liệt đối với những lời này. Xuất phát từ việc Ban lãnh đạo
    Xô Viết cao nhất đã có được thông tin tin cậy về cuộc đàm phán ở Berne, bài
    phát biểu này tại SMO, cũng như đã đồng thời được báo cáo về vụ nổ quả
    bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ, thì có thể đưa ra một giả thiết tương đối táo
    bạo rằng trong giới lãnh đạo chóp bu Mỹ có thông tin viên của I. V. Xtalin.
    Hiện đã có những bằng chứng, tuy chưa phải là tin cậy nhất, về việc trong số
    điệp viên có cả phu nhân Tổng thống Eleonor Roosevelt và (hoặc là) thư ký
    riêng của Roosevelt là Loklin Karri. Bà ta hay ông ta (hoặc cả hai?) đã làm
    chuyển sự chú ý của I. V. Xtalin sang Mỹ như một hướng ưu tiên. Trong mọi
    trường hợp, như trong những lời phát biểu của mình tại phiên họp của ủy ban
    cải tổ hoạt động tình báo và phản gián, trong khi thảo luận dự thảo Nghị
    quyết “về việc điều hành hoạt động tình báo của ủy ban An ninh quốc gia
    Liên Xô” (tháng 12 năm 1952) của BCHTW ĐCS Liên Xô, I. V. Xtalin luôn
    chỉ đích danh Mỹ là kẻ thù chủ yếu. Vào khoảng 2 tháng trước khi ông qua
    đời, ông chỉ đạo: “Trong tình báo, không bao giờ tấn công trực diện, Tình
    báo phải hoạt động vu hồi. Nếu không sẽ thất bại, mà thất bại nặng nề. Tấn
    công trực diện – đó là sách lược thiển cận.
    Phải tuyển lựa người nước ngoài sao cho không làm tổn thương lòng yêu
    nước của họ. Không được tuyển người nước ngoài chống lại Tổ quốc của họ.
    Nếu điệp viên được tuyển chọn không có lòng yêu nước – đó là điệp viên
    không đáng tin cậy.
    Đặt ra một khuôn mẫu cho tình báo. Luôn thay đổi sách lược, phương
    thức. Luôn thích ứng với tình hình thế giới. Tận dụng tình hình thế giới. Tiến
    hành tấn công cơ động, sáng suốt. Tận dụng tất cả những gì thượng đế trao
    cho chúng ta.
    Điều chủ yếu nhất là trong tình báo phải học được cách nhận ra sai lầm
    của mình. Người ban đầu nhận ra các sai lầm và thất bại của mình thì sau đó

    sẽ sửa chữa được.
    Nắm lấy chỗ yếu, chỗ kém được bảo vệ.
    Cần chấn chỉnh ngành tình báo trước hết từ việc loại trừ được mọi cuộc
    tấn công.
    Mỹ – kẻ thù chủ yếu của chúng ta. Nhưng cần tập trung chú ý không chỉ
    riêng vào Mỹ. Trước hết, nên thiết lập các văn phòng công khai ở các quốc
    gia liền kề. Căn cứ đầu tiên, nơi cần có người của mình – Tây Đức.
    Không thể ngây thơ về chính trị, nhưng đặc biệt là không thể ngây thơ
    trong tình báo.
    Không được trao cho điệp viên những đặc vụ mà anh ta chưa được đào
    tạo, hoặc trái ngược với đạo đức của người ấy. Trong tình báo có những điệp
    viên có trình độ văn hóa rất cao – các giáo sư (trong thời kỳ bí mật, ta đã cử
    một người sang Pháp để phân tích quan điểm của các tổ chức mensevich,
    một mình người ấy đã làm việc hơn cả chục người khác).
    Tình báo, với chúng ta, là sự nghiệp thiêng liêng, cao cả.
    Cần tạo được uy tín. Trong tình báo cần có tới hàng trăm người bạn (nhiều
    hơn điệp viên), những người sẵn sàng thực hiện bất cứ nhiệm vụ nào của
    chúng ta. Những người cộng sản có cái nhìn méo mó về tình báo, về công
    việc của Chêka (ủy ban đặc biệt), sợ bị dây bẩn, nên nhúng đầu mình xuống
    giếng…”.

    Sự điều hành ở Liên Xô. 1945-1953.
    Để khắc họa I. V. Xtalin như một nhà lãnh đạo và không bó hẹp mình vào
    khuôn khổ thời gian sau chiến tranh, cần phải nhận thấy ông có một văn hóa
    điều hành vô cùng cao, cũng như khả năng nắm bắt thông tin về các vấn đề
    trong đời sống kinh tế và xã hội. Đấy là nhận xét của những người cùng thời
    với ông, những người có điều kiện quan sát ông một cách trực tiếp và đã ghi
    lại những bằng chứng của mình trong các hồi ký. Điều này cũng được các
    nhà nghiên cứu sau này khẳng định. Thậm chí những kẻ thù của ông cũng
    biết tới những năng lực xuất chúng của ông và nhắn lại điều đó cho những kẻ
    kế tục họ. Không một ai có thể phủ nhận ông về tài năng, năng lực làm việc,
    biết cách chiến thắng và, nếu cần thiết, cũng “biết tấn công”.
    Khi đó thái độ của ngoại bang đối với I. V. Xtalin và nhân dân Xô Viết rất
    hiếu chiến. Không phải ngẫu nhiên những người được thấy diện mạo của
    Xtalin lúc an táng đã nhận xét rằng đó là khuôn mặt của người mệt mỏi vì
    những cuộc đấu tranh liên tục. Toàn bộ khoảng thời gian I. V. Xtalin lãnh
    đạo Liên Xô vô cùng phức tạp và đầy biến động. Xtalin không mấy khi được
    thảnh thơi: thời kỳ đầu là bè lũ Trốtxkit; sau đó là những năm tập thể hóa.
    Trong một lần tâm sự với W. Churchill, ông đã không do dự gọi đó là những
    năm khó khăn nhất trong cuộc đời chính trị của mình; công nghiệp hóa diễn
    ra vô cùng trắc trở; thậm chí cuộc thanh lọc những năm 1937-1938 cũng trắc
    trở tới mức suýt cuốn trôi cả ông vào dòng xoáy của nó. Chiến tranh Vệ
    quốc vĩ đại lại là một đề tài đặc biệt. Nói tóm lại, người ta đã không để I. V.
    Xtalin điều hành đất nước trong yên ổn.
    Khi xem xét vấn đề này chúng ta không thể đặt ra cho mình nhiệm vụ làm
    rõ mọi vấn đề liên quan tới việc điều hành đất nước dưới thời I. V. Xtalin
    giai đoạn cuối. Chúng ta chỉ nhận thấy những nét đặc sắc trong việc I. V.
    Xtalin và ban lãnh đạo của ông đã hoàn thành xuất sắc những trách nhiệm
    của mình. Tất nhiên, I. V. Xtalin cũng đã có những sai lầm, song điều cơ bản
    là chính ông đã rút ra từ đó được những bài học, kinh nghiệm để đem lại lợi
    ích cho đất nước, giành thất bại lại cho kẻ thù.
    Điều bí ẩn của I. V. Xtalin như một người lãnh tụ không chỉ là ở tính cách
    dũng cảm của ông, cũng không phải ở cách ông đã xử sự như một lãnh tụ
    của nhân dân, mà ở chỗ ông là một thủ lĩnh, tuy chưa có học vị cao nhất và
    chưa được học hành một cách có hệ thống, song, về nhiều phương diện, bằng
    những năng lực trí tuệ của mình, ông luôn hơn hẳn nhiều vị giáo sư cao đạo
    và những chính khách phương Tây lão luyện.
    Về mặt hình thức, bắt đầu từ cuối những năm 1930 I. V. Xtalin không còn
    một trọng trách nào nữa, bởi quyền lực đã thuộc về ông trên mọi phương
    diện. Nhiều người đã không thể hình dung một cách đầy đủ về vấn đề này

    nên đã coi sự thật đó là không thể chấp nhận và có những kết luận không
    đúng. Nhưng thật ra I. V. Xtalin vẫn là một con người như trước – nghiêm
    khắc với bản thân và với mọi người. Bằng chứng của một người đã từng
    nghiên cứu I. V. Xtalin thể hiện: “Nhân việc có người chất vấn tại hội nghị
    toàn thể, đề cập tới trách nhiệm của mình, Xtalin nói:
    - Nếu tôi được giao việc đó, có nghĩa là tôi sẽ làm việc đó. Chứ không
    phải việc đó chỉ dành riêng cho tôi. Tôi không được giáo dục như thế…
    Lời sau cùng ông nói rất gay gắt”.
    Tất cả những gì mà bây giờ ngành khoa học lãnh đạo của chúng ta coi như
    mới, thì I. V. Xtalin đã áp dụng chúng vào thực tiễn trước đó. Nhiều nhân
    chứng và những người nghiên cứu nhận thấy ở I. V. Xtalin: kiến thức tâm lý
    lãnh đạo; thấu hiểu tính thiết yếu của đại diện toàn quyền; năng lực thu nhận
    kiến thức và khả năng đặc biệt lường trước sự việc…
    Tổng công trình sư hàng không A. X. Iakovlev, trong hồi ký “Mục đích
    cuộc sống. Những ghi chép của kiến trú...
     
    Gửi ý kiến