Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Binh thư yếu lược

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 09h:40' 18-03-2024
    Dung lượng: 6.3 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    MỤC LỤC
    Trang
    Giới thiệu
    Tiểu sử Trần Quốc Tuấn
    Tiểu sử Đào Duy Từ
    Thuyết minh về bản dịch

    5
    22
    28
    31

    BINH THƢ YẾU LƢỢC
    QUYỂN I:

    I. Thiên tƣợng
    II. Kén mộ
    III. Chọn tƣớng
    IV. Đạo làm tƣớng
    V. Kén luyện
    VI. Quân lễ (Phụ : Thƣởng phạt)
    VII. Tuyển ngƣời làm việc dƣới trƣớng
    VIII. Đồ dùng của binh
    IX. Hiệu lệnh

    38
    42
    43
    51
    82
    95
    98
    101
    114

    QUYỂN II:

    I.Hành quân
    II. Hƣớng đạo
    III. Đồn trú

    122
    145
    147

    IV. Tuần canh
    V. Quân tƣ
    VI. Hình thế
    VII. Phòng bị
    VIII. Điểm về việc binh
    IX.
    Phép dùng gián điệp
    X.
    Dùng cách lừa dối

    180
    184
    188
    196
    202
    203
    208

    QUYỂN III

    I. Liệu thế giặc
    II.Quyết chiến
    III. Đặt kỳ
    IV. Dã chiến
    V. Sơn chiến
    VI. Thủy chiến
    VII. Lâm chiến

    212
    248
    270
    285
    289
    296
    331

    QUYỂN IV

    I. Đánh thành
    II. Giữ thành
    III. Xông vây
    IV. Ứng cứu
    V. Lui đánh
    VI. Thắng và đặt phục
    VII. Phép nhận hàng

    334
    371
    428
    430
    432
    433
    435

    HỔ TRƢỚNG KHU CƠ
    Tựa
    QUYỂN I

    Tập thiên
    Tổng luận về cơ yếu binh pháp

    443
    448
    448

    Thiên hoả công
    Thiên thuỷ chiến
    Thiên bộ chiến
    Thiên giữ trại
    Lời tổng bình về Tập Thiên

    450
    462
    475
    490
    500

    Tập địa
    Yếu chỉ bàn về trận
    Các phép trận
    Yếu luận về giáo trƣờng diễn trận
    Yếu pháp phá trận
    Tổng binh về Tập Địa

    503
    503
    506
    546
    550
    551

    Tập nhân
    Yếu chỉ về tƣớng
    Phép chọn tƣớng luyện binh
    Yếu luận về quân cơ
    Phép dạy quân đánh giặc
    Phép giữ thành chống giặc
    Yếu luận về địa thế

    553
    553
    558
    564
    565
    571
    573

    QUYỂN II:

    QUYỂN III:

    BINH THƯ YẾU LƯỢC
    BINH THƢ YẾU LƢỢC
    HỔ TRƢỚNG KHU CƠ
    (Tái Bản)
    Người dịch :
    Hiệu đính :

    NGUYỄN NGỌC TỈNH
    ĐỖ MỘNG KHƢƠNG
    GS. ĐÀO DUY ANH

    NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN

    LỜI GIỚI THIỆU
    Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Trần Quốc Tuấn có soạn một
    bộ sách quân sự là Binh gia diệu lý yếu lược(1) để giáo dục các
    tƣớng sĩ phép dùng binh. Lịch triều hiến chương loại chí (phần
    Văn tịch chí) cho biết Trần Quốc Tuấn đã soạn sách Binh gia yếu
    lược và sách Vạn kiếp binh thư(2).
    Nhiều ngƣời cho rằng Binh gia diệu lý yếu lược hay Binh
    gia yếu lƣợc chỉ là một, cũng nhƣ Vạn kiếp tôn bí truyền thư hay
    Vạn kiếp binh thư chỉ là một, Nhiều ngƣời lại cho rằng Binh gia
    yếu lược và Binh thư yếu lược cũng chỉ là một.
    Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí cho
    biết Binh gia yếu lược và Vạn kiếp binh thư đã thất lạc từ lâu.
    Ở Thƣ viện Khoa Học Xã Hội hiện nay có một bộ sách chữ
    Hán chép tay mang ký hiệu 476 đề là Binh

    ----------------------------------(1) Đại Việt sử ký toàn thƣ, t.II, tr. 82, bản dịch của Viện Sử học, Nhà xuất
    bản Khoa học xã hội
    (2) Lịch triều hiến chƣơng loại chí, t. IV (Văn tịch chí), tr 120, Nhà xuất
    bản Sử học

    5

    thư yếu lược. Trang đầu bộ sách này ghi rõ rằng: “Binh thư yếu
    lược bốn quyển do Trần Hƣng Đạo vƣơng soạn, vƣơng húy là
    Quốc Tuấn.
    Binh thư yếu lược mang ký hiệu 476 gồm bốn quyển.
    Quyển I gồm có chín chƣơng là: 1. Thiên tƣợng, 2. Tuyển mộ, 3.
    Tuyển tƣớng, 4. Tƣớng đạo, 5. Giản luyện, 6. Quân lễ, 7. Mạc hạ,
    8. Binh cụ, 9. Hiệu lệnh. Quyển II có mƣời một chƣơng là: 1.
    Hành quân, 2.Hƣớng đạo, 3. Đồn trú, 4. Tuần canh, 5. Quân tƣ,
    6.Hình thế, 7. Phòng bị, 8. Xem mƣa gió, 9. Bình trƣng, 10. Dụng
    gián, 11. Dụng trá. Quyển III có bảy chƣơng là: 1. Liệu dịch, 2.
    Dã chiến, 3. Quyết chiến, 4. Thiết kỳ, 5. Lâm chiến, 6. Sơn chiến,
    7. Thuỷ chiến, Quyển IV cũng có bảy chƣơng là: 1. Công thành,
    2. Thủ thành, 3. Đột vây, 4. Cứu ứng, 5. Lui tránh, 6. Đƣợc, thua,
    7. Đầu hàng.
    Trong Binh thư yếu lược thì quyển II, quyển III và quyển
    IV có nhiều đoạn rút ra từ Hổ trướng khu cơ của Dào Duy Từ(1),
    một nho sĩ có tài kinh bang tế thế đã giúp chúa Nguyễn Phúc
    Nguyên (chúa Phật) xây dựng cơ đồ hồi nửa đầu thế ký XVIII ở
    Đƣờng trong. Những doạn này, có đoạn ghi rõ là đã rút ra từ Hổ
    trướng khu cơ, có nhiều đoạn tuy lấy từ Hổ trướng khu cơ, song
    lại

    -------------------------(1) Có thuyết cho Hổ trướng khu cơ do Cao Khuê, môn đệ của Đào Duy Từ,
    căn cứ vào những điều Đào Duy Từ truyền thụ cho mà soạn ra

    6

    không có chú thích gì cả. Ở quyến IV (Binh thư yếu lược) có mục
    ‚Phép làm hỏa tiễn chứa thuốc độc‛; ở Hổ trướng khu cơ cũng có
    mục ‚Phép làm hỏa tiễn chứa thuốc độc". Nguyên văn chữ Hán ở
    Binh thư yếu lược cũng nhu Hổ trƣớng khu cơ đều là ‚Hoả tiễn trữ
    độc pháp‛. Liều lƣợng các vị thuốc dùng để chế hỏa tiễn ở Binh
    thư yếu lược và ở Hổ trướng khu cơ giống hệt nhau. Mở đầu mục
    ‚Phép làm hỏa tiễn chứa thuốc độc‛ trong Binh thư yếu lược, có
    đoạn văn nhƣ sau: ‚Phàm ít không địch đƣợc nhiều, yếu không
    địch đƣợc mạnh, đó là lẽ thƣờng. Nhƣng Binh pháp có nói: Ngƣời
    giỏi đánh làm thế địch không thể thắng để đợi thế địch mà mình
    có thế thắng. Cho nên cầm quân ba nghìn chống giặc năm đƣờng,
    phỏng ở đồng ruộng đƣờng dài, giặc đem cả nƣớc sang đánh, thì
    lấy cái gì mà chống đƣợc? Nên dùng phép ‚hỏa tiễn chứa thuốc
    độc‛. Đoạn văn này ở Hổ trướng khu cơ lại nhắc lại nguyên văn
    nhƣ thế, không sai và không thiếu một chữ nào.
    Trong Binh thư yếu lược có mục ‚Phép làm súng gỗ‛, trong
    Hổ trướng khu cơ cũng có mục ‚Phép làm súng gỗ‛. Trong Binh
    thư yếu lược có mục ‚Phép đốt đuốc trƣớc gió‛, trong Hổ trướng
    khu cơ cũng có mục ‚Phép đốt đuốc trƣớc gió‛, lời văn hai bên
    giống hệt nhƣ nhau. Về ‚Bí pháp làm quả nổ‛, ‚Bí pháp làm quả
    mù‛, ‚Phép chế hỏa đồng‛, ‚Phép chế hỏa tiễn‛ (tên lửa), Binh
    thư yếu lược và Hổ trướng khu cơ cũng rất giống

    7

    nhau. Nếu kể hết những đoạn, những mục giống nhau ở Binh
    thư yếu lược và Hổ trướng khu cơ thì nhiều lắm. Chúng tôi chỉ
    đƣa ra một số điểm giống nhau giữa hai bộ sách để các bạn thấy
    rằng giữa hai bộ sách có nhiều vấn để cần giải quyết.
    Binh thư yếu lược là sách đƣợc soạn ra từ thế kỷ XIII, còn
    Hổ trướng khu cơ đƣợc viết ra hồi nửa đầu thế kỷ XVII. Thời gian
    ra đời của hai bộ sách có một khoảng cách đến bốn trăm năm.
    Tại sao hai bộ sách có những đoạn, những mục giống nhau nhƣ
    lột ? Hổ trướng khu cơ đã lấy nhiều đoạn, nhiều mục trong Binh
    thư yếu lược hay ngƣợc lại? Nếu chỉ căn cứ vào yếu tố thời gian
    thì chúng ta còn thể suy luận rằng khi viết Hổ trướng khu cơ, Đào
    Duy Từ đã rút ra nhiều tài liệu từ Binh thư yếu lược của Trần
    Quốc Tuấn . Nhƣng nếu căn cứ vào nội dung các đoạn, các mục
    vừa có ở Binh thư yếu lược vừa có ở Hổ trướng khu cơ , thì chúng
    ta phải kết luận rằng chính Binh thư yếu lược đã lấy nhiều đoạn,
    nhiều mục của Hổ trướng khu cơ . Tại sao lại nhƣ vậy? Mục
    ‚Phép chế quả nổ'‛ trong Binh thư yếu lược cũng nhƣ trong Hổ
    trướng khu cơ đều nói phép làm quả nổ là của ngƣời phƣơng
    Tây. Hồi thế kỷ XVI và thế kỷ XVII theo chân các thƣơng nhân
    phƣơng Tây, phép làm quả nổ đƣợc đem vào Việt Nam, cụ thể
    là đem vào Đƣờng trong trƣớc. Hồi thế kỷ XIII, trong hai lần chỉ
    huy cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ, chƣa

    8

    bao giờ Trần Quốc Tuấn dùng quả nổ đánh quân xâm lƣợc. Hồi
    thế kỷ XIII, chúng ta cũng chƣa từng thấy quân đội nhà Trần sử
    dụng tên lửa (hoả tiễn) hay tên lửa chứa thuốc độc; trong các trận
    đánh, chúng ta chỉ thấy quân đội nhà Trần dùng tên tẩm thuốc
    độc bắn quân Mông Cổ mà thôi. Nhƣ vậy rõ ràng là mục ‚Phép
    chế quả nổ", mục ‚Phép làm hỏa tiễn chứa thuốc dộc‛ cũng nhƣ ở
    nhiều mục, nhiều đoạn khác, đã đƣợc một nhân vật nào đó sống
    sau Đào Duy Từ rút ra từ Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ rồi
    đƣa vào Binh thư yếu lưực .
    Đọc Binh thư yếu lược, chúng ta thấy nhiều đoạn không
    phải là của Trần Quốc Tuấn viết ra từ thế kỷ XIII. Quyển I
    chƣơng ‚Tuyển mộ‛, mục ‚Trao quyền cho tƣớng‛, viết: ‚Các
    triều Đƣờng, Tống, Minh bị thua cũng vì cớ đó, mà nhà Tống quá
    tệ, nhà Mình lại tệ hơn. Ngƣời bàn về việc nhà Tống thì cho rằng
    bàn bạc nhiều mà thành công ít; ngƣời bàn về việc nhà Minh thì
    cho rằng nhà Minh mất nƣớc, không mất ở giặc cƣớp, mà mất ở
    ngay từ trong cổng ngõ, không mất ở bờ cõi, mà mất ngay từ lời
    can của đài quan‛. Nếu chỉ đọc đoạn trên, chúng ta có thể nghĩ
    rằng bộ Binh thư yếu lược còn lại cho chúng ta ngày nay đã đƣợc
    một ngƣời Việt Nam nào đó hồi thế kỷ XVII hay thế kỷ XVIII sửa
    chữa, bổ sung hay viết lại. Chúng ta cũng nghĩ nhƣ thế khi chúng
    ta đọc đoạn này của Binh thư yếu lược : ‚Xƣa kia

    9

    đời vua Thành tổ nhà Minh đánh Mán Miến Điện đem ba mƣơi
    vạn quân, hơn một trăm voi đến cƣớp Định Viễn. Vua Minh sai
    Mộc Thạch và Anh Mã Thành đi đánh, bắt đƣợc voi đem về‛.
    Nhƣng đến những câu sau đây, thì chúng ta lại nghĩ rằng Binh
    thư yếu lược đã đƣợc bổ sung hay viết lại hồi đầu thế kỷ XIX tức
    thời Nguyên sơ: Năm Kỷ Dậu ngƣời Thanh sai Tổng đốc Lƣỡng
    Quảng sang nƣớc ta đánh giặc để khôi phục thành nhà Lê. Quân
    Ngụy Tây bày voi xông trƣớc. Ngƣời Thanh làm cản gỗ chống
    ngựa(1) để cản lại, đào hố để sập voi. Chƣớc đó rất mầu, song lại
    thất thủ, vì trong cái mầu có cái chƣa mầu‛. Những câu sau dây
    cũng làm cho chúng ta nghĩ nhƣ thế: ‚Nhƣ xƣa, Tây Sơn Nguyễn
    Huệ chống nhau với Thạc quân công ở bến Thuý Ái, ra quân theo
    đƣờng tắt mà vào kinh thành nhà Lê. Chúa Trịnh vừa về miền
    Tây, thì trong phủ đã dựng cờ Tây Sơn rồi. Năm Kỷ Dậu ngày
    mồng 5 tháng giêng, Nguyễn Huệ chia quân làm ba đạo cùng với
    quân Bắc tiếp chiến, mà thủy binh tiến đậu ở sông Nhị Hà, đó là
    mƣu chẹt đƣờng về của quân Bắc‛.
    Những tài liệu kể trên cho phép chúng ta bƣớc đầu kết
    luận rằng: Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn đến đầu thế kỷ
    XIX đã đƣợc một nho sĩ am hiểu

    (1) Một thứ chƣớng ngại vật chữ Hán là mộc mã, dùng để cản đƣờng tiến
    của voi, ngựa.

    10

    quân sự, yêu khoa học quân sự, sửa chữa và bổ sung nhiều. Nho
    sĩ ấy đã đọc nhiều binh thƣ của Trung Quốc, đã đọc Hổ trướng
    khu cơ của Đào Duy Từ, rồi trên cơ sở các tri thức về quân sự của
    mình, nho sĩ ấy dã sửa chữa và bổ sung Binh thư yếu lược của
    Trần Quốc Tuấn. Vì vậy Binh thư yếu lược là sách do Trần Quốc
    Tuấn làm ra từ thế kỷ XIII, mà lại có những đoạn nói về cuộc
    xâm lƣợc của quân Minh đối với Miến Điện, có đoạn nói về cuộc
    đấu tranh võ trang chống quân Thanh xâm lƣợc do vua Quang
    Trung lãnh đạo, lại có đoạn nói về những việc xảy ra ở đời Tự
    Đức.
    Kết luận nhƣ vậy, tất có ngƣời nói: Thế thì tại sao khi
    soạn Lịch triều hiến chương loại chí hồi thế kỷ XIX, Phan Huy
    Chú lại nói rằng Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn không
    còn nữa? Chúng ta đều biết rằng thời Phan Huy Chú biên soạn
    Lịch triều hiến chương loại chí là thời nƣớc Việt Nam mới tạm
    thời ổn định một phần nào(1), sau một thời loạn lạc kéo dài. Rất
    có thế ở dƣới tay Phan Huy Chú, Binh thư yếu lược không còn
    nữa. nhƣng ở một nơi nào đó, cụ thể là ở một tủ sách của gia
    đình một nho sĩ nào đó, Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn
    có thế vẫn còn hoặc là toàn bộ hoặc là một phần. Tình hình này
    có thể có đƣợc ở một số nƣớc
    (1) Chúng tôi nói ‚tạm thời ổn định một phần nào‛ vì suốt thời gian, từ
    Gia Long, qua Minh Mạng, Thiệu Trị đến Tự Đức, nhiều cuộc khởi nghĩa nông
    dân đã nổ ra.

    11

    mà đƣờng giao thông liên lạc khó khăn nhƣ nƣớc Việt Nam hồi
    đầu thế kv XIX. Nho sĩ yêu Binh thư yếu lược của Trần Quốc
    Tuấn, đã dem bộ sách này sửa chữa và bổ sung trên cơ sở
    những tri thức về khoa học quân sự của ông. Do đó, Binh thư
    yếu lược tuy mang tên Trần Quốc Tuấn, vị danh tƣớng sống vào
    hồi thế kỷ XIII, mà lại có cả các đoạn trong Hổ trướng khu cơ của
    Đào Duy Từ, và các cuộc chiến tranh xảy ra hồi thế kỷ XV, thế
    kỷ XVI, thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII.
    Đến đây, một vấn để cần đƣợc đặt ra và giải quyết: Trong
    bộ Binh thư yếu lược mà hiện nay chúng ta có, chỗ nào là của
    Trần Quốc Tuấn, chỗ nào không phải là của Trần Quốc Tuấn ?
    Đọc Binh thư yếu lược chúng tôi thấy có chỗ đã gọi rõ rằng đã
    lấy từ Hổ trướng khu cơ; có chỗ tuy không ghi là lấy từ Hổ
    trướng khu cơ, nhƣng đọc Hổ trướng khu cơ , chúng ta thấy chỗ
    ấy có trong tác phẩm của Đào Duy Từ. Những chỗ nhƣ thế dứt
    khoát không phải là của Trần Quốc Tuấn. Cũng không phải là
    của Trần Quốc Tuấn những đoạn chép về các sự kiện xảy ra về
    các đời Minh, đời Thanh, hay đời Tây Sơn. Nhƣ vậy không có
    nghĩa là những đoạn khác trong Binh thư yếu lược là của Trần
    Quốc Tuấn cả. Chúng tôi cho rằng có thể là của Trần Quốc Tuấn
    trƣớc hết những đoạn rút ra từ phép dùng binh của Tôn Vũ và
    Ngô Khởi. Cũng là của Trần Quốc Tuấn những đoạn mà tƣ
    tƣởng phù hợp với tƣ tƣởng của ông đã trình bày

    12

    trong Hịch tướng sĩ hay với lời của ông nói với vua Trần Anh Tôn
    khi nhà vua đến thăm ông ở nhà riêng tại Vạn Kiếp hồi tháng Tám
    năm Kỵ Hợi (1300).
    Chúng ta đều biết rằng tháng Tám năm Kỷ Hợi, Trần Quốc
    Tuấn bị bệnh nặng, vua Trần Anh Tôn thân chinh đến nhà riêng
    của ông để thăm ông và hỏi ông về kế sách giữ nƣớc. Trần Quốc
    Tuấn có nói với vua Anh Tôn nhƣ sau: ‚Đại khái quân giặc cậy vào
    trƣờng trận, quân ta cậy vào đoản binh, đem đoản binh đánh lại
    trƣờng trận là việc thƣờng trong binh pháp. Nhƣng cần phải xét:
    Nếu thấy quân giặc tràn sang nhƣ gió nhƣ lửa, thì thế giặc có thể
    dễ dàng chống cự đƣợc; nếu giặc dùng cách chiếm cứ dần, nhƣ
    tằm ăn dâu, không vơ vét của dân, không mong đánh đƣợc ngay,
    thì mình phải dùng tƣớng giỏi, phải xem xét tình thế biến chuyển
    nhƣ ngƣời đánh cờ tùy thời cơ mà ứng biến cho đúng, làm thế nào
    thu hút đƣợc quân lính nhƣ cha con một nhà mới có thể dùng để
    chiến thắng đƣợc. Và phải khoan dùng sức dân để làm cái kế sâu
    rễ bền gốc, đó là thƣợng sách giữ nƣớc không còn gì hơn‛. Phải
    ‚thu hút đƣợc quân lính nhƣ cha con một nhà‛, ‚phải khoan dùng
    sức dân để làm cái kế sâu rễ bền gốc‛, những tƣ tƣởng đó hoàn
    toàn phù hợp với những tƣ tƣởng sau đây của Binh thư yếu lược:
    ‚Dùng trí để phục thiên hạ, mà thiên hạ phải phục trí, nhƣng trí
    vẫn không thắng; dùng pháp (luật) để chế thiên hạ, mà thiên hạ
    phải theo

    13

    pháp (luật), nhƣng pháp (luật) cũng không thần. Vậy trí với
    pháp (luật) không phải là cái hay ở trong cái hay vậy. Bậc thánh
    võ trị đời, đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có luỹ,
    chiến ở chỗ không có trận. Nhẹ nhàng nhƣ mƣa rơi ở trên
    không, dựng nên cuộc đời vô sự‛. ‚Hoà mục có công hiệu rất
    lớn cho cuộc trị an. Hòa ở trong nƣớc thì ít dụng binh; hòa ở
    ngoài biên thì không sự có báo động; bất đắc dĩ mới phải phạt kẻ
    làm xằng. Vua tôi hòa mục thì dùng đƣợc ngƣời tài; các tƣớng
    văn tƣớng võ hòa mục thì làm nên công nghiệp. Tƣớng sĩ hòa
    mục khi đƣợc ban thƣởng sẽ nhƣờng nhịn nhau, nguy nan sẽ
    cứu nhau. Đó, hoà mục là một đạo rất hay cho việc trị nƣớc,
    hành binh, không bao giờ đổi đƣợc‛.
    Những ý kiến trên dây của Trần Quốc Tuấn biểu thị rằng
    ông không những là một nhà quân sự lớn, mà còn là một nhà
    chính trị lớn. Đó là nhà kinh bang tế thế vậy. Khi vạch ra những
    nguyên tắc hành động của viên tƣớng tổng chỉ huy, Trần Quốc
    Tuấn xuất phát từ tƣ tƣởng nhân nghĩa. Nhân nghĩa là mục đích
    của đời ngƣời cũng tức là mục đích của viên tƣớng, viên tƣớng
    phải dấu tranh cho chính nghĩa, đấu tranh vì lợi ích của nhân
    dân: ‚Khí lƣợng của tƣớng lớn nhỏ khác nhau Tƣớng mà che
    điều gian, giấu điều hoạ, không nghĩ đến sự quần chúng oán
    ghét, tƣớng ấy chỉ huy mƣời ngƣời. Tƣớng mà sớm dậy khuya
    nằm, lời lẽ kín đáo, tƣớng ấy

    14

    chỉ huy đƣợc trăm ngƣời. Tƣớng thẳng mà biết lo, mạnh mà giỏi
    đánh đó là tƣớng chỉ huy đƣợc nghìn ngƣời. Tƣớng mà ngoài
    mặt hăm hở, trong lòng ân cần, biết ngƣời khó nhọc, thƣơng kẻ
    đói rét, đó là tƣớng chỉ huy dƣợc vạn ngƣời. Tƣớng mà gần
    ngƣời hiền, tiến ngƣơi tài, ngày thƣờng cẩn thận, thành thực
    rộng rãi, giỏi việc dẹp loạn, đó là tƣớng chỉ huy đƣợc mƣời vạn
    ngƣời. Tƣớng mà dùng nhân ái đối với kẻ dƣới, lấy tín nghĩa để
    phục nƣớc láng giềng, trên biết thiên văn, dƣới biết địa lý, giữa
    biết việc ngƣời, coi bốn biển nhƣ một nhà, đó là tƣớng chỉ huy
    đƣợc cả thiên hạ không ai địch nổi‛, ở đây, tác giả Binh thư yếu
    lược đã vƣợt hẳn khuôn khổ một viên tƣớng tổng chỉ huy, mà
    trở thành một nhân vật có tài kinh bang tế thế, ở triều đình thì là
    tƣớng văn, ở ngoài mặt trận là tƣớng võ kiểu nhƣ Gia Cát
    Lƣợng vậy.
    Giai cấp đại quý tộc đời Trần thƣờng biết đoàn kết với
    nhau. Ở những phƣơng diện nhất định, lợi ích của giai cấp đại
    quí tộc nhất trí với lợi ích của nhân dân. Vua và các vƣơng hầu
    đều chú ý đến nông nghiệp, công nghiệp, sản xuất nông nghiệp,
    công nghiệp nhờ vậy mà phát triển. Tình hình trên cũng thấy
    phản ánh trong Binh thư yếu lược: ‚Thƣơng ngƣời, dốc chí làm
    việc thì đƣợc sự yêu mến. Nghe lời nói phải, xa kẻ gièm pha, thì
    ngƣời xa đến với mình. Đo tính trƣớc sau rồi mới làm, đó là đề
    phòng khi có biến cố. Có tội phải răn,

    15

    có công phải thƣởng mới có thể uốn nắn đƣợc ngƣời. Thông
    việc trƣớc, suốt việc sau mới có thể giáo dục đƣợc quần chúng.
    Rẻ sắc đẹp, trọng con ngƣời mới đƣợc lòng dân. Bỏ lợi tƣ theo
    lợi chung mới giữ đƣợc nƣớc", ‚Thanh liêm của cải, tiết kiệm
    tiêu dùng, ít say về rƣợu, giữ mình theo lễ, thờ bề trên cho
    trung, có việc lo chung với quân chúng, lấy của địch mà không
    tích trữ (cho mình), bắt phụ nữ địch mà không lƣu dùng (cho
    mình)‛.
    Trần Quốc Tuấn thƣờng yêu tƣớng sĩ, luôn luôn săn sóc
    đến đời sống của tƣớng sĩ. Trong Hịch tướng sĩ, ông tuyên bố:
    ‚Các ngƣơi ở cùng ta coi giữ binh quyền cũng đã lâu ngày,
    không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn
    nhỏ thì ta thăng thƣởng, lƣơng ít thì ta tăng, đi thủy thì ta cho
    thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn nạn thì cùng nhau sống
    chết, lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cƣời‛. Tinh thần đồng cam
    cộng khổ này của Trần Quổc Tuấn cũng thấy biểu hiện trong
    Binh gia yếu lược: ‚Trong quân có ngƣời ốm, tƣớng phải thân
    hình đem thuốc đến chữa, trong quân có ngƣời chết, tƣớng phải
    thƣơng xót, đau buồn, quân đi thú xa, thì (tƣớng) phải sai vợ
    con đến thăm hỏi. Phàm có khao thƣởng thì phải chia đều có
    quan và quân. Khi có cất đặt chức vị gì, thì phải họp cả tƣớng tá
    lại để bàn. Mƣu đã định rồi mới đánh giặc; cho nên tƣớng với
    quân có

    16

    cái ơn hòa rƣợu và hút máu‛(1).
    Trần Quốc Tuấn hiểu rõ rằng không tranh thủ đƣợc sự
    đồng tình của các tƣớng sĩ, thì không thể động viên các tƣớng sĩ
    đánh giặc đƣợc. Nhƣ chúng ta đều biết, Yết Kiêu, Dã Tƣợng là
    gia nô của Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão là gia khách của
    ông. Yết Kiêu, Dã Tƣợng, cũng nhƣ Phạm Ngũ Lão đều hăng
    hái chiến đấu chống quân Mông Cổ và đều lập đƣợc nhiều chiến
    công quan trọng. Họ đã vì Trần Quốc Tuấn mà quên mình chiến
    đấu. Yết Kiêu, Dã Tƣợng và Phạm Ngũ Lão sở dĩ gắng sức ở nơi
    trận mạc, một phần là vì họ yêu nƣớc, nhƣng một phần khác
    cũng vì họ đƣợc Quốc Tuấn đãi ngộ nhƣ cha với con. Việc quan
    tâm đến đời sống của các tƣớng sĩ cũng thấy biểu hiện trong
    Binh thư yếu lược: ‚Cho nên quân sĩ có cái vui mổ trâu, nấu
    rƣợu, cái khí thế ném đá vƣợt rào, họ yêu mến tƣớng nhƣ con
    em yêu mến cha anh, nhƣ chân tay giữ gìn đầu mắt, không ai có
    thế ngăn nổi họ. Nếu đối xử khắt khe làm cho họ đau khổ, bắt
    họ làm những công việc quá

    (1) Sách Hoàng Thạch Công chép rằng'. Có một vị tƣớng tài có một vò
    rƣợu ngon do một ngƣời đến biếu, ông đem vò rƣợu ấy đổ xuống sông hòa với
    nƣớc, rồi cho tƣớng sĩ đến dòng nƣớc mà uống. Ba quân đều đƣợc uống rƣợu, vì
    vậy ai nấy đều gắng sức chiến đấu. Ngô Khởi nổi tiếng là ngƣời giỏi dùng binh.
    Có ngƣời lính có cái nhọt đang nung mủ, Ngô Khởi ghé mồm vào nhọt mà hút
    máu mủ. Ngƣời lính cảm động, càng ra sức chiến đấu (Binh thƣ yếu lƣợc)(1)

    17

    nặng nhọc thì tiếng oán thù không sao cho hết. Tƣớng mà coi
    quân sĩ nhƣ cỏ rác. thì quân sĩ coi tƣớng nhƣ cừu thù. Mong cho
    họ sung vào hàng ngũ cũng còn khó, còn mong gì họ gắng sức
    đánh giặc nữa. Đó là cái chƣớc lớn của tƣớng soái để vỗ về quân
    sĩ vậy‛.
    Căn cứ vào Tôn Vũ và Ngô Khởi, Binh thư yếu lược vạch
    ra cái đạo của ngƣời làm tƣớng, đạo này có tám điều phải tránh
    là: 1. Lòng tham không đáy, 2. Giết ngƣời hiền ghen ngƣời tài. 3.
    Tin lời gièm ƣa nịnh, 4. Biết ngƣời mà không biết mình,5. Do dự
    không quả quyết, 6. Hoang dâm tửu sắc, 7. Dối trá và lòng thì
    nhát sợ, 8. Nói bậy mà không giữ lễ độ.
    Những ý kiến trên cũng có thế là của Trần Quốc Tuấn. Tại
    sao chúng ta có thể biết nhƣ vậy đƣợc? Trong Hịch tướng sĩ,
    Trần Quốc Tuấn viết rằng: ‚Nay ta đọc hết các sách binh pháp
    của các danh gia và soạn thành một quyển gọi là Binh thư yếu
    lược. Nếu các ngƣơi chuyên tập sách này theo lời dạy bảo thì
    mới phải đạo thần tử. Nhƣợc bằng khinh bỏ sách này, trái lời
    dạy bảo, thì tức là kẻ thù nghịch‛. Các sách binh pháp của các
    danh gia là những sách nào? Các danh gia ấy là những ai? Đọc
    Binh thư yếu lược , chúng ta thấy những sách ấy chủ yếu là Vũ
    kinh hay Vũ thư của Trung Quốc trong đó có sách Tôn Tử hay
    Tôn Tử binh pháp hay Binh pháp của Tôn Vũ đời Xuân Thu. Còn
    các danh gia nói đây chủ yếu là Tôn Vũ và Ngô Khởi, hai nhà

    18

    quân sự đại tài thời Xuân Thu Chiến Quốc. Chúng ta có thể nói
    tƣ tuởng quân sự trong Binh thư yếu lược chủ yếu là tƣ tƣởng
    của Tôn Vũ và Ngô Khởi mà Trần Quốc Tuấn muốn đem vận
    dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam hồi thế kỷ XIII.
    Xét nhƣ vậy, chúng ta sẽ thấy rằng những đoạn trích dẫn và
    bình luận ý kiến của Tôn Vũ và Ngô Khởi trong Binh thư yếu
    lược của Trần Quốc Tuấn một nhà chính trị kiêm quân sự thiên
    tài đã sở đắc rất nhiều ở binh pháp Tôn Ngô và đã đem những
    điều sở đắc của mình giáo dục cho các tƣớng sĩ ở dƣới quyền tiết
    chế của ông.
    Giả thuyết trên sẽ có giá trị, nếu có ngày chúng ta chứng
    minh đƣợc rằng ý kiến của Phan Huy Chú, tác giả Lịch triều
    Hiến chương loại chí là không đúng sự thật.
    Trong trƣờng hợp Binh thư yếu lược cũng tức Binh gia
    diệu lý yếu lược của Trần Quốc Tuấn quả thật không còn nữa
    nhƣ Phan Huy Chú đã nói trong Lịch triều hiến chương loại chí,
    thì quyển Binh thư yếu lược mang ký hiệu 476 của Thƣ viện
    khoa học xã hội sẽ là sách thế nào? Quyển Binh thư yếu lược
    này, chúng tôi nghĩ rằng có lẽ do một nho sĩ am hiểu khoa học
    quân sự, nắm đƣợc nhiều tri thức quân sự của Việt Nam và của
    Trung Quốc soạn ra. Theo cái phong thái thác cổ vẫn lƣu hành ở
    Việt Nam và Trung Quốc xƣa, nho sĩ ấy đã mƣợn tên sách của
    Trần Quốc Tuấn đặt cho tên sách

    19

    của mình nhằm tăng thêm uy tín của tác phẩm của mình đối với
    ngƣời đọc. Cũng có thể đầu tiên sách chỉ mang tên Binh thư yếu
    lược thôi, nhƣng sau đó một ngƣời nào đó lại thêm mấy chữ
    “Binh thư yếu lược bốn quyển do Trần Hƣng Đạo vƣơng soạn,
    vƣơng huý là Quốc Tuấn‛. Chúng tôi sở dĩ viết nhƣ thế là vì
    trong Lịch triều hiến chương loại chí không có sách nào của Trần
    Quốc Tuấn gọi là Binh thư yếu lược , mà chỉ cỏ sách Binh gia diệu
    lý yếu lược hay Binh gia yếu lược(1) mà thôi. Có thể một nho sĩ nào
    đó đã viết một quyển sách quân sự rồi đặt cho tên sách của mình
    cái tên gần giống tên sách của Trần Quốc Tuấn, rồi ngƣời sau
    đó, sau khi đã sửa chữa và bổ sung Binh thư yếu lược, mới thêm
    mấy chữ ‚Binh thư yếu lược bốn quyến do Trần Hƣng Đạo
    vƣơng soạn, vƣơng huý là Quốc Tuấn‛ nhƣ chúng tôi đã nói ở
    trên...
    Tất cả đều là giả thuyết, ức thuyết. Chƣa thể có kết luận
    khẳng định dứt khoát ai là tác giả thật sự bộ Binh thư yếu lược
    mang ký hiệu 476 của Thƣ viện khoa học xã hội. Nhƣng dù thế
    nào đi nữa, bộ Binh thư yểu lược vẫn là bộ sách quân sự quí của
    chúng ta. Tác phẩm quân sự, chúng ta có rất ít. Cho đến nay, có
    lẽ chúng ta

    (1) Trong Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí nói sách của
    Trần Quốc Tuấn là Binh gia diệu lý yếu lƣợc nhƣng phần Văn tịch chí lại nói
    sách của Quốc Tuấn là Binh gia yếu lược.

    20

    mới có hai tác phẩm là Binh thư yếu lược và Hổ trướng khu cơ, Hổ
    trướng khu cơ là tác phẩm nặng về mặt thực hành hơn là mặt lý
    luận quân sự. Duy có Binh thư yếu lược vừa chú ý đến mặt lý
    luận vừa chú ý đến mặt thực hành, do đó, nó có thể là bộ sách
    quân sự đầu tiên của dân tộc Việt Nam đã tổng kết đƣợc các
    kinh nghiệm quân sự của Việt Nam từ xƣa cho đến thời Nguyễn
    sơ. Chúng ta có nhiều truyền thống ƣu tú của dân tộc, trong các
    truyền thống ƣu tú ấy, thì truyền thống đấu tranh quân sự của
    dân tộc chúng ta đáng đƣợc đặc biệt chú ý. Truyền thống đấu
    tranh quân sự của dân tộc Việt Nam dƣới thời phong kiến cụ thể
    nhƣ thế nào? Chúng tôi có thể nói truyền thông đó một phần
    quan trọng đã đƣợc đúc kết trong Binh thư yếu lược và Hổ
    trướng khu cơ.

    Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc
    GS: VĂN TÂN

    21

    TIỂU SỬ
    TRẦN QUỐC TUẤN
    Trần Quốc Tuấn là con An-Sinh vương Trần Liễu và là
    cháu gọi vua Trần Thái Tôn bằng chú ruột, ông sinh vào khoảng
    năm 1226, 1227, 1228 hoặc 1229 gì đó, nguyên quán ông ở làng
    Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
    Khi quân Mông Cổ sang xâm lược nước ta lần thứ nhất
    (1257), ông tham gia cuộc kháng chiến. Năm 1283 khi quân Mông
    Cổ sắp sửa mở cuộc xâm lược lần thứ hai vào nước Đại Việt, Trần
    Quốc Tuấn được cử làm Quốc công Tiết chế toàn bộ quân đội của
    nhà Trần. Đầu năm 1285, năm mươi vạn quân Mông Cổ do Thoát
    Hoan chỉ huy từ biên giới tỉnh Quảng Tây đánh vào nước Đại Việt,
    trong khi ấy mười vạn quân Mông Cổ khác do Toa-Đô chỉ huy từ
    Chiêm Thành tiến ra Bắc. Thế giặc quá mạnh, triều đình phải bỏ
    Thăng Long, rút vào Thanh Hóa. Ở những nơi quân giặc chiếm
    đóng, nhân dân làm vườn không nhà trống. Tức giận, quân giặc đi
    đến đâu cướp phá và giết chóc nhân dân đến đấy. Vua Trần Nhân
    Tôn lo sợ, hỏi Trần Quốc Tuấn : “Hay ta tạm hàng để cứu muôn
    dân?” Quốc Tuấn khảng

    22

    khái trả lời: “Nếu bệ hạ muốn hàng, trước hết hãy chém đầu thần đi
    đã''
    Để giáo dục cho các tướng sĩ phép dùng binh đánh giặc giữ
    nước, Trần Quốc Tuấn đã căn cứ vào các sách binh pháp của Tôn
    Vũ và Ngô Khởi mà soạn ra sách Binh gia diệu lý yếu lược hay Binh
    thư yếu lược. Ông lại viết Hịch tướng sĩ để khích lệ lòng yêu nước
    và chí căm thù của các tướng sĩ đối với quân xâm lược.
    Do chiến lược, chiến thuật đúng đắn của Trần Quốc Tuấn,
    do tinh thần quyết chiến của quân đội, đầu Tháng Năm năm Ất
    Dậu (1285), quân đội nhà Trần đánh bại quân của Toa Đô ở cửa
    Hàm Tử làm cho Toa Đô phải đem tàn quân chạy về cửa biển Thiên
    Trường. Ngay sau đó, Trần Quốc Tuấn lại nhanh chóng tập trung
    quân đội, bất ngờ đánh vào căn cứ giặc ở Chương Dương, và đã
    tiêu diệt hầu hết các quân Mông Cổ đóng ở đấy. Thoát Hoan thấy
    Chương Dương bị đánh, vội cho quân từ Thăng Long đến cứu viện
    Chương Dương. Quân Mông Cổ vừa rời khỏi Thăng Long được
    một quãng, thì bị quân phục kích của Trần Quốc Tuấn đổ ra chặn
    đánh và tiêu diệt. Được tin Chương Dương bị hạ, viện binh bị diệt,
    Thoát Hoan hoảng sợ, vội vàng với bọn A Thích mang quân Mông
    Cổ vượt sông Hồng chạy sang các căn cứ quân Mông Cổ ở miền đất
    là tỉnh Hà Bắc ngày nay.
    Sau khi đại thắng ở Chương Dương, và đuổi Thoát Hoan ra
    khỏi Thăng Long, Trần Quốc Tuấn mang quân quay lại tiêu diệt lộ
    quân của Toa Đô

    23

    ở Tây Kết, và đến cuối tháng Năm năm Ất Dậu (1285), quân Trần
    lại đại thắng ở Tây Kết, nguyên soái Toa Đô bị chém đầu ngay tại
    trận, Ô Mã Nhi sợ hãi phải chạy vào Thanh Hóa. Quân Trần thừa
    thẳng truy kích, bắt sống được mấy vạn quân Mông Cổ.
    Các trận thắng trên buộc Thoát Hoan và toàn bộ quân
    Mông Cổ phải rút lui. Nhưng trên đường rút về Trung Quốc ,
    quân Mông Cổ bị quân đội của Trần Quốc Tuấn phục kích, và bị
    chết rất nhiều. Thoát Hoan phải chui vào một cái thùng đồng mới
    trốn được về Trung Quốc.
    Năm Đinh Hợi (1287) quân Mông Cổ do Thoát Hoan chỉ huy
    lại xâm lược nước Đại Việt lần thứ ba.Vua Trần Nhân Tôn hỏi ý
    kiến Trần Quốc Tuấn, Quốc Tuấn tuyên bố: “Bây giờ quân ta đã
    quen chiến đấu, quân giặc từ xa đến mỏi mệt, và chúng còn đang
    khiếp sợ về những trận thua trước, mất cả nhuệ khí... Năm nay
    đánh giặc có phần dễ hơn trước".
    Đầu năm Đinh Hợi (1287), quân Mông Cổ dưới quyền chỉ
    huy của Thoát Hoan, theo hai đường thủy và bộ kéo vào xâm lược
    nước Đại Việt. Trần Quốc Tuấn lại ra lệnh cho quân đội rút lui
    chiến lược. Quân Mông Cổ lại chiếm được Chi Lăng, Khả Ly, Chí
    Linh, Vạn Kiếp, Tam Đái Giang (Việt Trì), Thăng Long... quân đội
    nhà Trần lại đóng rải ra ở nhiều nơi, nhân dân lại làm vườn không
    nhà trống. Trần Quốc Tuấn lại cho quân du kích ngày đêm quấy rối

    24

    các vị trí của quân Mông Cổ. Quân Mông Cổ bị hãm vào cảnh thiếu
    lương thực. Ngày đêm chúng chỉ còn việc cố thủ ở các vị trí để chờ
    các đoàn thuyền lương do Trương Văn Hổ có trách nhiệm mang đến
    cho chúng. Nhưng đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ đã bị
    Trần Khánh Dư phá sạch ở Vân Đồn... Được tin đoàn thuyền lương
    bị phá, Thoát Hoan lại quyết định cho toàn bộ quân Mông Cổ theo
    hai đường thủy bộ rút lui về Trung Quốc. Trần Quốc Tuấn đã dự
    đoán nước cờ đó của Thoát Hoan, và ông đã cho quân đi bố trí phục
    kích tại các đường thuỷ, đường bộ mà quân Mông Cổ tất phải đi qua
    trên đường về nước. Tháng ba năm Mậu Tý (1288) trận phục kích
    qui mô nổi tiếng trong lịch sử đã diễn ra ở sông Bạch Đằng, kết quả
    500 chiến thuyền Mông Cổ bị đánh đắm hoặc bị bắn, hơn ba vạn
    quân giặc bị giết, bị bắt, bị chết đuối, Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc
    bị bắt sống...
    Được tin toàn bộ quân Mông Cổ bị phá ở sông Bạch Đằng,
    Thoát Hoan sợ cuống quít, y vội ra lệnh cho toàn quân rút lui về
    nước. Trên đường chạy trốn, quân Mông Cổ lại bị quân đội của
    Trần Quốc Tuấn phục kích, và bị chết rất nhiều. Thoát Hoan phải
    theo đường huyện Đan Kỷ (Lạng Sơn) chạy sang Lộc Châu rồi theo
    thung lũng sông Lục Ngạn, qua các địa điểm Biên Động, An Châu,
    Đinh Lạp để vượt biên giới chạy về Tư Minh (Trung Quốc).
    Do có nhiều công lao đánh giặc cứu nước, Trần Quốc Tuấn
    được phong tước Hưng Đạo đại

    25

    vương, vì vậy ngươi ta thường gọi ông là Trần Hưng Đạo.
    Tháng Tám năm Kỷ Hợi (1300) , Trần Quốc Tuấn bị bệnh
    nặng ở Vạn Kiếp, và đến ngày 15 tháng Tám thì ông từ trần tại nhà
    riêng.
    Trước khi Quốc Tuấn sắp từ trần, vua Trần Anh Tôn có đến
    nhà riêng của ông ở Vạn Kiếp để hỏi ông về kế sách giữ nước. Nhân
    dịp này, Quỗc Tuấn có trình bày với vua Anh Tôn về chiến lược
    đánh giặc giữ nước khi đất nước bị xâm lăng như chúng tôi đã nói ở
    phần “Giới thiệu”.
    Chiến lược, chiến thuật của Trần Quốc Tuấn có thể tóm tắt
    như sau:
    Nước Đại Việt nhỏ và yếu hơn nước Đại Nguyên của Mông
    Cổ, vì vậy phải “Lấy đoản binh mà chống trường trận” tức phải lấy
    ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh, khi quân giặc mới đến, thế
    chúng còn mạnh, thì ta rút lui để bảo toàn lực lượng, nhử cho giặc
    vào sâu và dàn mỏng lực lượng ra nhiều nơi chờ khi nào có điều
    kiện thuận lợi mới phản công; khi ta rút lui, ta cũng phải chủ động
    khiến cho giặc, “muốn đánh mà không đánh được”. Với chiến thuật
    vườn không nhà trống, với chiến tranh nhân dân, giặc không thể
    cướp được lương thực của nhân dân, và luôn luôn bị dân quân du
    kích đánh phá, quấy rối, cắt đường tiếp tế. Tinh thần quân giặc do
    đó tất phải giảm sút. Lúc ấy quân ta mới phản công, cắt hẳn đường
    liên lạc, tiếp tế của giặc, phục kích, tập kích giặc, dùng vận động

    26

    chiến thần tốc đánh vào các căn cứ quan trọng của giặc, buộc giặc
    phải rút lui về nước, và trên đường giặc rút lui, ta phục kích tiêu
    diệt chúng.
    Với chiến lược và chiến thuật trên, Trần Quốc Tuấn đã hai
    lần đánh bại quân Mông Cô đã từng tung hoành, bách chiến bách
    thắng ở châu Á, châu Âu. Khi vạch cho vua Trần Anh Tôn kế sách
    giữ nước, Trần Quốc Tuấn lại nhấn mạnh rằng, ‚phải khoan dùng
    sức dân để làm cái sâu rễ bền gốc, đó là thƣợn...
     
    Gửi ý kiến