Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Cái chết của Hitle

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 10h:32' 18-03-2024
    Dung lượng: 2.3 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    CÁI CHẾT CỦA HITLER
    Nguyên tác: The Death of Hitler's Germany
    Tác giả: Georges Blond
    Người dịch : Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên
    Nhà xuất bản: Sông Kiên
    Nguồn text: vnmilitaryhistory.net
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    LỜI NÓI ÐẦU

    Trận chiến đẫm máu nhứt trong lịch sử Âu-Châu đã xẩy ra trong khoảng

    thời gian từ tháng bảy 1944 đến tháng năm 1945. Nhiều triệu người đã lăn xả
    vào những trận đánh khủng khiếp chưa từng thấy với những phương tiện giết
    người và tàn phá hoàn toàn vượt hẳn các loại khí giới thời 1914-1918. Trung
    tâm Đại lục Âu-châu đã trở thành một biển lửa.

    Tôi nghĩ rằng để kể lại, nói khác hơn, để trình bày tấn thẳm kịch ấy từ
    bản vị của nó, tôi phải đặt mình vào trung tâm của cuộc chiến, nghĩa là ngay
    trên lãnh thổ Đức quốc. Chỉ từ đó, chủng ta mới có thể nhìn thấy rõ hai cuộc
    tiến quân từ hai phía Đông và Tây, và hành vi mạc vận cuối cùng đã xảy ra
    không đâu khác hơn là ở Bá-Linh.
    Tôi đã thường hướng mục tiêu nghiên cứu về phía Đông cũng như về
    phía Tây đẻ có một cái nhìn chính xác trên những giai đoạn bi thảm và ý nhị
    nhứt của cuộc chiến ở Âu châu. Tôi không hề chủ trương, chỉ trong một
    quyển sách đề cập đến tầt cả mọi việc. Tôi chỉ hy vọng không bỏ quên một
    điều chủ yếu nào.
    Đã có một rừng tài liệu về Đệ nhị Thế chiến tại Âu Châu của hai phe :
    Đồng minh và Đức quốc xã. Văn khố của Bộ Tổng tư lệnh tối cao Lục quân
    Đức đã được chiếm nguyên vẹn tại Flensburg. Đang khi tiến quân và sau đó
    các cơ quan tình báo của các Quân đội đồng minh đã sưu tầm, lượm lặt và
    sắp xếp một cách có phương pháp vô số tài liệu quân sự cũng như dân sự :
    mệnh lệnh, báo cáo, tờ trình, thư từ cá nhân, đồng thời đã thẩm vấn hàng
    ngàn người Đức. Hồ sơ của Tòa án Nuremberg với những khẩu cung cùng
    phụ bản của chúng cầu thành một nguồn tham khảo vô tận. Nhiều chuyên gia
    Pháp và ngoại quốc, nhứt là đoàn Historical Division của Hoa kỳ đã thiết
    dựng lại những biến cố đã xảy ra ở phương Đông, bằng vào, những thông
    báo của Bộ Tham mưu Sô viết, đủ loại sách báo Nga, những cuộc tiếp xúc
    vói các chiến binh Đức, ở Hung gia lợi, Lỗ ma ni chạy lui về phương Tây,
    hoặc được giải thoát, hay trốn thoát sau khi bị giam cầm. Nhiều tác phẩm
    của nhiều Sử-gia đáng tin cậy, đề cập đến những khu vực và cục diện khác
    nhau của trận chiến Âu-châu đã được xuất bản.

    Tôi đã tìm chất liệu của câu chuyện kể lại trong các trang sau đây bằng
    cách nghiên cứu, đối chiếu các tài liệu và tác phẩm đó. đích thân phỏng vấn
    riêng từng cá nhân nhiều người còn sống sót. Điều cần nói là, ở đây không
    có một chi tiết, một sự việc nào được bịa đặt ra, được tiểu thuyết, hóa; tại sao
    tôi lại phải cố làm như vậy khi mà các thực tại lịch sử luôn luôn phơi bầy
    trước mắt tôi những biến cố về những chi tiết ý nhị hơn và thê thảm hơn tất
    cả những gì mà tôi có thể tưởng tượng ra ?

    Phần 1
    CUỘC ÂM MƯU

    Tháng bảy 1944, Bá Linh đã lãnh khoảng ba mươi ngàn tấn bom nổ và

    bom lửa. Rất nhiều khu vực bị tàn phá hoàn toàn, mặt đất bị cày thủng thành
    những hỏa diệm sơn khổng lồ. Vài đường phổ chỉ còn sỏt lại các mặt tiền
    nhà cửa. Nhiều đường khác hoàn toàn bình địa lẫn mất trong các khoảng đổ
    nát đã được thu dọn.
    Gần như mỗi đêm đều có báo động và bị dội bom. Người ta nghe những
    hồi còi rú lên lanh lảnh, những quả bom khổng lồ làm rung chuyển mặt đất,
    nhà cửa sụp đổ tan tành. Các xe cứu hỏa đổ xô từ đám cháy nầy đến đám
    cháy khác, nhưng không làm sao kham được, khi trời sáng lửa vẫn còn bốc
    cháy. Nhiều thiếu nữ của các đội cấp cứu đến các khu vực bị nạn, phát sữa,
    quần áo, tiếp nhận những tre con chạy lạc.
    Giữa tai biến xảy ra hàng ngày ấy, người ta tổ chức di tản một phần dân
    chúng hoặc ra ngoại ô hay về các vùng quê hoặc đến khu rừng Forest Noire
    kế cận.
    Những người, vì một lẽ nầy hay khác, bắt buộc phải ở lại Bá linh, nếu nhà
    cửa của họ đã bị tàn phá, sẽ được đưa đến trọ chỗ khác, nơi các người lân
    cận, hoặc trong các trại được che lên tạm thời, hoặc dưới các hầm nhà. Mỗi
    ngày nhà hữu trách đã làm đi làm lại không ngừng công việc ấy cho toàn cả
    nhiều khu vực.
    Khẩu phần được ấn định chặt chẽ, nhưng các thẻ tiếp tế lại có thể mua
    được một cách dễ dàng. Người du khách đến Bá linh vào buổi trưa trông
    thấy những hoang tàn đổ nát làm y kinh ngạc, thành phố rộng lớn ấy hầu như
    đã bị san bằng, thế nhưng y chẳng hề có cái cảm giác rằng mình đang ở giữa
    một đô thị chết. Các nhà buôn không bị tàn phá vẫn mở cửa, người ta vẫn ăn
    uống trong các tửu quán. Đường phố chật ních người qua lại. Trong những lỗ
    trũng khổng lồ, trẻ con - mà ban đêm thường run lẩy bẩy vì sợ hãi dưới các
    hầm ẩn trú - đùa giỡn.
    Người ta đang ở vào ngày 20 tháng 7. Buổi sáng, trời oi bức lạ thường.

    Hầu hết những người mặc áo vét tông đều cởi ra cầm nơi tay, luôn chấm mồ
    hôi trán. Quần chúng ở Bá Linh bao gồm một tỷ lệ lớn những công nhân
    ngoại quốc. Những người đi trên con đường Bendlerstrasse, ngang qua Bộ
    Chiến tranh thường khẽ hướng một cái nhìn lanh lẹn, thận trọng và không
    thể hiểu thấu được về các quân nhân gác cửa súng đạn, quân phục, trang bị
    đầy đủ, tuyệt hảo mà sự nóng nực kinh hồn hình như không có đối với họ.
    Toàn thể Bộ gánh chịu, không nao núng, sự nóng bức khủng khiếp cũng
    như sức nặng của chiến tranh. Trong các phòng việc, các sĩ quan tham mưu
    và các công chức nói điện thoại từ giờ này sang giờ khác không nghỉ cả đến
    việc chống khuỷu tay lên bàn cho đỡ mỏi, không một nút cổ áo nào được mở
    ra. Các đả tự viên mặc áo sơ mi xám ủi thẳng nếp ngồi ngay ngắn trước các
    máy đánh chữ, giấy tờ của họ được sắp xếp một cách hoàn hảo. Thứ tự và sự
    tỉ mỉ ngự trị một cách tuyệt đối trong tất cả các từng lầu của trung tâm quân
    sự vĩ đại nầy. Các đặc tính này rất cần thiết theo truyền thống cho mọi cơ
    quan chỉ huy cao cấp. Những tin tức nóng bỏng về những trận đánh phải
    được tiếp nhận một cách bình tĩnh và chính xác.
    Sự thực, Bộ dùng làm trạm trung gian giữa các mặt trận với Đại bản
    doanh (G.Q.G của Hitler, đặt tại Raslenburg ở Đông Phổ. Bộ nhận, giải mã,
    gạn lọc khối tin báo, rồi báo cáo về Đại bản doanh. Bộ nhận những lệnh tối
    cao của Đại bản doanh, và từ đó, soạn thảo ra hằng trăm mệnh lệnh tổng quát
    hay riêng biệt cho các Đạo quân. Những mệnh lệnh nầy được truyền đi mỗi
    ngày hai mươi bốn tiếng qua tám trăm đường dây điện thoại cùng với các
    máy viễn ký, máy điện bảo và đài phát thanh. Đôi khi, Bộ phải mắc thẳng
    đường dây: đích thân Fuhrer trực tiếp ban lệnh thẳng đến chiến trường.
    Trong một văn phòng của Bộ, Đại tướng Fromm Tư lệnh Quân đội Nội
    địa, đang cứu xét những đơn xin tăng viện khẩn cấp từ các mặt trận. Quân số
    tăng viện chỉ có thế trích lấy ở Quân đội Nội địa. Tiền tuyến mỗi ngày mỗi
    đòi hỏi nhiều hơn. Một ít cho Tướng này, một ít cho Tướng kia.....
    Tướng Fromm liệt kê những con số. San đó ông đề nghị về Đại bản
    doanh một "kế hoạch chuyển binh". Hầu hết mỗi lần như vậy, kế hoạch lại bị
    đảo lộn tất cả và trả về. Cũng vẫn vấn đề ấy lại được đề cập đến vào ngày
    hôm sau.
    Trong một phòng kế cận, ba người đứng trong tư thế sẵn sàng chia tay

    nhau sau một cuộc hội kiến dài. Đó là Tướng Olbricht Tư lệnh phó Quân đội
    Nội địa, đứng sau bàn viết của ông ta, đối diện, Đại tá Von Stauffenberg,
    Tham mưu trưởng của Tướng Fromm, và trung úy Von Haeften. Hai sĩ quan
    này sẽ đi thẳng đến phi trường, nơi đó một chiếc Junkers sẽ chở họ đến Đại
    bản doanh ở Rastenburg.
    Đại tá Von Stauffenberg đảm nhận công việc liên lạc, mỗi khi, vì lý do an
    ninh, công cuộc điện đàm xét thấy không thích hợp. Đó là một người vạm
    vỡ, ngực mang đầy huy chương. Trung úy Von Haeften đi theo ông ta. Mỗi
    người đều mang một chiếc cặp da to lớn, tay còn lại, Đại tá cầm một chiếc
    khăn túi để thấm mồ hôi tươm trên mặt. Người ta có thể nhìn thấy bàn tay
    ấy, bàn tay trái, chỉ còn có ba ngón. Bàn tay kia, nắm chặt quai chiếc cặp da
    đầy ắp là một bàn tay nhân tạo bằng kim khí.
    Gương mặt, đầm đìa mồ hôi, trông thật khắc khổ, vì con mắt bên trái đã
    bị mất đi, đồng thời hằn lên những đường nhăn co rút. Ai cũng biết là sự
    nóng bức làm khó chịu rất nhiều, những người bị thương mà các vết thương
    còn mới hay chưa lành hẳn, Các vết thương của Đại tá Von Staufenberg vẫn
    còn làm mủ, nhứt là chỗ vừa bị cưa ở cánh tay phải. Đại tá đã dẫm phải một
    trái mìn ở Tunisie.
    Vả lại, vị sĩ quan này từ vài ngày nay đã ở trong một tình trạng thần kinh
    căng thẳng hầu như không còn chịu đựng được nữa, Chiếc cặp da mang bên
    bàn tay phải nhân tạo của ông ta chứa một trái bom dự định cho nổ vào
    Hitler.
    ° ° °
    Buổi sáng cùng ngày, một toán quân Đức, ước chừng một Đại đội, đang
    di tản chiến thuật ở Ba Lan, trên con đường từ Wolkowysk đến Bialystock.
    Đại lược, toán quân gồm các thành phần như sau, hai chiến xa Tigre 56 tấn
    thuộc Sư đoàn 5 Thiết giáp, những hạ sĩ quan và binh sĩ mang huy hiệu các
    Sư đoàn Bộ binh 296, 6, 383, và 45, thuộc Quân đoàn 35, những người của
    Sư đoàn 4 và 5 Không quân (Luftwaffe , và của Sư đoàn 18 phòng không,
    những hỗ trợ quân người gốc Ukraine và Bạch Nga.
    Sư đoàn 5 Thiết giáp đã được tách ra khỏi Đệ tứ Đội thiết kỵ, ba tuần lễ
    trước đó, ở miền Bắc Ukraine, và tung ra trước quân Nga, khi đoàn quân nầy

    tràn qua Orcha và Mohilev ở Bạch Nga. Nó đã đụng địch ngày 26-6, bên kia
    con sông Béréxina, ở Stoudienka, ngay chỗ mà Nã phá Luân đã vượt qua
    sông vào năm 1812. Bị tấn kích từ hai bên sườn bằng những lực lượng thiết
    giáp tám lần mạnh hơn, nó đã phải bắt buộc rút lui, bỏ lại tại chỗ ba phần tư
    cấp số. Trong ba ngày, các đạo quân Đức chiến đẩu trong vùng ấy đã bị thiệt
    mất 25.000 người chết và 13.000 người bị bắt làm tù binh.
    Từ ngày mùng 1-7, tàn quân của Sư đoàn 5 Thiết kỵ đã phải vừa di tản
    chiến thuật vừa đánh che cho các đơn vị khác rút trước sức tiến mãnh liệt của
    Thiết giáp Nga. Mỗi chiến xa đều chở theo trên mui một kho dự trữ từ hai
    đến ba thùng fut nhiên liệu, được châm thêm dần khi có dịp. Đến nỗi khi
    băng qua thành phố Slonin ba trong những chiếc cuối cùng còn sót lại, đã nổ
    tung trên một quãng đường hẹp giữa hai bức tường lửa. Tất cả các chiếc
    khác đều bị tiêu diệt. Chỉ còn lại có hai chiếc nầy.
    Quân đoàn 35 đã bị biến thành mảnh vụn ở phia Tây Rogatchev trong
    những ngày 27 và 28-6. Những kẻ sống sót chạy thoát được đã lội qua sông
    Bérézina dưới hỏa lực đại liên Nga để chạy đến Bobruisk, nơi được bao bọc
    bởi thành lũy và phải được bảo vệ. Bobruisk bị vây và bị tấn công, họ đã
    tham dự vào trận chiến trong thành phổ trong suổt ba mươi sáu tiếng đồng
    hồ.
    Pháo binh địch liên tục rót xối xả vào thành phố, không mảy may lo ngại
    là như vậy có thể giết hại luôn các chiến sĩ Nga. Bobruisk chỉ còn là một lò
    than nung đến trắng, nơi đó, ngày cũng như đêm, trời đều sáng tỏ, mặt mày
    của những người phòng ngự ẩn núp sau vài chiến xa, nhứt là sau các đống
    gạch ngói đồ nát và dưới những hầm nhà đều lem luốt, đen đúa.
    "Chiến xa Nga bị kẹt trên đường phố, giữa các đống đổ nát, chúng tôi tiêu
    diệt chúng bằng cách thổi thẳng vào, trung sĩ Ernst Strobel, Liên đội 151 Bộ
    binh, Sư đoàn 236, Quân đoàn 35 đã kể lại. Một thành phố hoang tàn đổ nát
    không còn một cái gì có thể dùng làm vị trí phòng ngự. Khốn thay, nhiên
    liệu, quân nhu, đạn dược và lương thực đã cạn rất nhanh".
    Tám giờ sáng ngày 29-6, tám ngàn quân Đức, tập trung lại tại phía Bắc
    thành phố, đã mở một cuộc phản công gần như tự sát và đã vạch được một
    hành lang máu giữa khối vô số quân Sô viết. Sáu ngàn người đã gục ngã
    dưới hỏa lực quét chéo của địch. Qua sáu ngày đánh nhau trong khu vực này,

    quân Đức đã mất 50.000 tử thương, 23.000 bị bắt làm tù binh, 1300 khẩu đại
    bác, 215 chiến xa.
    Những người sống sót, từng toán nhỏ, đã tìm đường chạy về phương Tây,
    xuyên qua một vùng rừng rậm gần như hẻo lánh, họ thử vị trí hỏa đối với
    trận đánh bằng cách nghe ngóng tiếng đại bác, nhưng tiếng đại bác thì vang
    dội khắp mọi phía. Trong lúc ấy, trên mặt đường lại rải rác đó đây những xác
    xe hơi chiến xa, xác người và xác ngựa. Những người chạy thoát chợt hiểu là
    họ đã đi về phương Tây sau đội chiến xa tiền phương của Hồng quân Sô viết.
    Họ đã mất mười ngày trời để đi từ Bobruisk đến Minsk, khoảng 175 cây
    số, khi thì theo con đường lớn trải đá, thường hơn theo con đường mòn kế
    bên, họ phải ẩn tránh trong rừng nhiều lần để cho các xe hơi và chiến xa có
    đánh dấu ngôi sao đỏ chạy qua. Họ đã sống sót nhờ vơ vét được thức ăn trên
    vài chiếc xe vận tải hư bỏ lại bên đường tàn vật của cuộc tháo lui, họ đã bị
    tấn công nhiều lần bởi những đội tuần tiễu của quân kháng chiến cũng đi tìm
    vơ vét các đồ vật này, may thay các đại đơn vị kháng chiến đã lần lần nhập
    theo Hồng quân Nga để cùng chiến đấu với họ.
    "Rất nhiều toán đã tái hợp lại và chúng tôi đã thành lập một đội quân khá
    quan trọng, Trung sĩ Strobel kể thêm. Một Trung úy bị thương nơi mặt đã
    nắm quyền chỉ huy. Trong chúng tôi, có tin đồn là Minsk đầy ắp quân bạn,
    vũ khí, lương thực. Thành phố này phải chặn đứng cuộc tiến quân của Bọn
    Sô viết tại Bạch Nga. Chúng tôi đi về đấy như về một chỗ ẩn náu mà nơi đó
    chúng tôi khỏi còn phải sợ bị quân du kích kháng chiến tấn công nữa, chúng
    tôi có thể nghĩ ngơi trước khi chiến đấu lại trong những điều kiện bình
    thường. Chúng tôi đã quá mệt mỏi, nhưng không mất tinh thần. Sự kiện đã
    phải thoái nhượng trước áp lực nặng nề của quân Nga và đã phải di tản chiến
    thuật từ ba tuần qua đã không làm chúng tôi nản lòng. Chúng tôi đã biết là ở
    Nga khoảng cách không kể gì, và chúng tôi vẫn còn ở trên đất Nga. Đa số
    trong chúng tôi đã từng thấy chuyện như vậy. Vài người đã ở mặt trận Miền
    Đông từ lúc đầu".
    Không dễ gì có một quan niệm hoàn toàn rõ ràng và chính xác về tinh
    thần của các đạo quân Đức ở măt trận Miền Đông vào tháng 7-1944. Tính
    chất của nó biến đổi tất nhiên với đơn vị và tình thế. Nhưng có điều người ta
    có thể chắc chắn là trong toàn bộ cuộc tấn công của Nga sô vào các tháng

    sáu, bảy không hề làm cho Quân lực Đức mất tinh thần. Những người ở mặt
    trận Miền Đông từ lúc đầu đã trải qua những biến cố kinh dị đến nỗi hầu hết
    đều luôn xem thường những hình ảnh khủng khiếp nhứt.
    Mùa Đông 1941-1942, vô số Sư đoàn Đức quốc xã đã trải qua những
    bước nguy khốn nhứt, toàn thể Quân đội Miền Đông đã phải chịu đựng,
    trong một tình trạng thiếu thốn về quân nhu, quân dụng, giữa vùng đồng
    bằng và thẳng tắp của nước Nga, càng quét bởi cuồng phong, khí lạnh đến
    bốn mươi độ dưới số không. Ban đêm, những binh sĩ không ở ngay giới
    tuyến đã ẩn tránh vào các nhà cây (isba của người bản xứ để sưởi ấm. Song
    những nhà này rất hiếm mà người ta thì lại rất đông, thế cho nên, những
    người đã tìm được chỗ trong ấy phải đứng chen chúc nhau. Họ đã có thể ngủ
    như thế được nếu không bị rận cắn. Như trong các câu chuyên về những
    cuộc thám hiểm địa cực, người ta đã chặt margarine, xúc xích, bánh mì bằng
    búa. Những người chết được để tại chỗ, thi thể được hoàn toàn bảo tồn trong
    suốt mùa Đông. Những người sống sót từ thảm họa đó, vài tháng sau, đã lại
    có mặt trong một đạo binh vũ trang và trang bị hoàn hảo, mà mỗi Sư đoàn
    gồm từ mười lăm ngàn đến mười bảy ngàn người khỏe mạnh. Cuộc khởi thế
    công vào mùa hè 1942 trực chỉ về miền Caucase, tiếp đó, một hành trình đến
    bến vinh quang qua những phần đất giàu có nhứt thế giới, xanh tươi dưới
    một bầu trời huyền diệu với những buổi bình minh rạng rỡ, những buổi đi
    tắm và đi câu ở những con sông nước trong vắt như pha lê, và những người
    xâm lăng đã nghĩ rằng họ sẽ gặp lại, bên kia những biên thùy Âu Châu, các
    bạn hữu của họ, chiến thắng ở Phi châu vượt sông Nil, băng ngang qua nước
    Arabie, thiên anh hùng ca đẹp đẽ làm sao ấy !
    Vùng núi non Caucase đã đánh dấu hạn giới của cuộc tiến quân và bước
    đầu của những khó khăn; trời sang đông một cách khủng khiếp, và đoàn
    quân đã phải lùi lại. Và đã có Stalingrad và những thất bại khác, và những
    cuộc di tản chiến thuật khác, thỉnh thoảng một vùng đất bị tái chinh phục.
    Thực ra, sự thoái lui của quân Đức ở Nga, sự kiện lớn lao không thể chối cãi
    được, quả đã làm xôn xao phần nào, nhưng đã không bao hàm bất cứ ở đâu
    tính chất của một sự thất bại. Quân lính của các đơn vị chiến bại, cả đến của
    các đơn vị đã bị đánh tan tành, không còn manh giáp, đều đã tìm thấy, sau
    một cuộc tháo lui dài hay ngắn, nhiều hay ít tàn khốc, một tuyến phòng thủ

    mới với những quân sĩ tinh nhuệ, và với đầy đủ khí cụ, nơi đó tàn binh được
    lựa lọc lại tái trang bị và tái sử dụng. Đó là điều mà những kẻ sống sót ở
    Bobruisk và nhiều nơi khác trông mong tìm thấy ở Minsk.
    Minsk, thủ đô của Bạch Nga, thời bình là một thành phố xây cất đẹp đẽ,
    với những con lộ thẳng tắp, và 120.000 cư dân, Nhưng nó đã hiện ra như một
    khoảng trống đã bị thiêu rụi, một cảnh đổ nát đã bị san bằng còn rải rác vài
    đám cháy, trước những người đã tìm về nó với nhiều kỳ vọng. Hai giờ sau
    đó, những người này cùng với số còn lại của các Quân đoàn 12 và 27 đã lại
    phải xuất trận. Một lần nữa, sự tấn kích của quân Nga không còn có thể
    chống đỡ được. Cứ mỗi một chiến xa Nga bị tiêu diệt, thì mười chiếc khác
    hình như lại độn thổ chui lên. Sự thất bại ở Minsk đã làm cho Đức thiệt mất
    ước chừng 70.000 bị giết và 35.000 bị bắt làm tù binh.
    Không thể chối cãi được, sau trận Minsk, ngọn gió thất bại đã nổi lên.
    Hàng hàng lớp xe, người cuồn cuộn chạy về phương Tây, dẫm lên nhau,
    chồng chất lên nhau. Nhiều thường dân cũng đã chen lấn vào trong đám đó,
    người ta còn nhìn thấy có cả phụ nữ và trẻ con : Những người Ukraine.
    Những thường dân này tẩu thoát khỏi quê quán của họ vì thừa biết những gì
    sẽ chờ đợi họ đối với sự việc họ đã thích ứng quá dễ dàng với sự chiếm đóng
    của quân Đức.
    Khối xe cộ ầm ĩ tiến tới trên hai con đường từ Minsk đến Vilna và MinskSlonin, rồi dừng lại đôi khi bị kẹt trong suốt ba tiếng đồng hồ. May mắn
    thay, máy bay của Nga đã rất hiếm và vụng về, chúng thường bắn ngang
    đường chứ không dọc theo trục con lộ 1
    Những dấu hiệu đần tiên của sự sống sót của quân Đức đã hiện ra ở biên
    giới Nga - Ba Lan.
    Những bãi đậu xe đã được thiết lập, các trại đã được dựng tên với nhiều sĩ
    quan để tập trung làn sóng người mò mẫm đó.
    Sự thoái quân tiếp diễn ở Ba Lan. Một cuộc rút lui nhanh chóng và xôn
    xao hơn, nhưng không phải là một sự bại trận. Những mảnh vụn của các đại
    đơn vị Bộ binh Đức (Wehrmacht đã rút lui mau chóng trước áp lực nặng nề
    của đoàn Thiết Kỵ Nga, nhưng, thỉnh thoảng, dòng sông người ấy lại chuyển
    sang hướng khác nhường chỗ cho một phân đội hay một liên đội thiết giáp,

    thường thì một liên đội "Waffen SS". Đội quân này ở lại tại chỗ, hay trở
    ngược lại để tung ra một trận đánh cầm chân địch.
    Nhiều đồn Hiến binh được thiết lập dọc theo con đường. Những viên
    Hiến binh Đức được tuyển chọn trong số những quân nhân đanh ác, ham
    thích uy quyền. Các binh sĩ tháo lui nào đã toan xoay sở để chạy nhanh hơn
    đều phải suy nghĩ khi nhìn thấy bọn Hiến binh này. Tốt hơn nên gia nhập
    vào "một đơn vị đã được tổ chức lại", tự giới thiệu và tự đặt dưới quyền của
    vị sĩ quan chỉ huy.
    Những làng mạc hiếm hoi mà người ta chỉ thấy trong các nông trại và các
    isba (isba : một loại nhà nhỏ bằng gỗ thông của dân quê nước Nga vài ông
    già, đôi khi vài trẻ nít. Những người lớn đã đi, mang theo gia sủc, không
    phải đi theo quân đội Đức - Hồi kết cục chưa đến - mà là đi vào rừng ẩn trốn
    để chờ kết quả của biến cố.
    Nhiều đơn vị mới đã bắt đầu đến từ Varsovie và Đông Phổ, ngược dòng
    với đoàn quân đang di tản chiến thuật. Đã cho các đơn vị này thiết bị thành
    lũy, toán quân mà chúng ta vừa đề cập đến, nhận lịnh bổ trí, ngày 20 tháng
    bảy 1944, tại ven một làng (không có tên giữa Wolkowysk và Bialystock,
    cầm chân đội thiết kỵ tiền phương Nga. Đội thiết giáp này không còn đông
    đảo bằng lúc trước và ít hung hãn hơn, có lẽ vì thiếu đạn dược và nhiên liệu.
    Sự tiến quân Sô viết đã như sấm sét. Ngoài đại bác 88 của các chiến xa, toán
    quân hỗn hợp vừa "tập hợp lại" này còn có thêm ba đại bác 37 và hai súng
    cối 80 ly, cộng với vũ khi cá nhân.
    Các chiến xa bố trí hai bên đường, cạnh các ngôi nhà. Một chiếc xe hơi
    Nga hiện ra ở khúc quanh, cách đó bốn trăm thước, một chiếc xe du lịch
    thường mang dấu hiệu ngôi sao. Một thoáng, nó không còn nữa. Hai xe đại
    liên đến đằng sau, trong khoảnh khắc, chúng đã nổ tan tành. Đến lượt một
    chiến xa Nga xuất hiện.
    Bấy giờ, một tuyến ánh sáng chói lọi tóe ra từ mặt đất ở đầu làng. Mặt đất
    rung chuyển, đã có một sự chấn động trong không khí, ngột ngạt và đinh tai,
    và, trong một quãng thời gian dường như vô tận đối với những người không
    bị chết, phân nữa ngôi làng biến mất giữa một cụm khói đen xuyên qua bởi
    những tia chớp đỏ và vàng trong khi nhiều tiếng nổ khác tiếp theo. Một trong
    rất nhiều đạn dược (hoặc hỏa tiễn, hoặc chất nổ đã được chôn dấu dọc theo

    trục lộ Varsovie - Minsk - Smolensk đã nổ tung. Người ta không làm sao
    biết được sự hiện hữu cùng vị trí của các hầm kho dự trữ này từ khi các
    người có trách nhiệm canh giữ chúng bỏ chạy. Cũng không thể biết được có
    phải là sự phát nổ đã do một hỏa tiễn bắn ra từ chiến xa Nga hoặc do một sự
    bất cằn của các người phòng ngự hay một ngẫu nhiên nào. Sự phát nổ đã tiêu
    diệt một trong hai chiến xa và có khoảng năm mươi nạn nhân, chết và bị
    thương.
    Trong số các người bị thương có Trung sĩ Ernst Strobel, đã được nói đến,
    kẻ sống sót từ những trận đánh Orel, Kiev, Mohilev, Bobruisk và Minsk, hắn
    ta đã kể lại các sự việc trên trong nhiều bức thư gửi từ Quân y viện Stettin về
    cho gia đình ở Cologne. Những bức thư này đã được thu nhặt, chỉ có trời
    mới hiểu được bằng cách nào, từ sau sự phá hủy hầu như toàn bộ thành phố
    Cologne bởi những cuộc oanh tạc của không lực Đồng Minh, và chung cuộc
    nằm trong hồ sơ của cơ quan tình báo của Đạo quân thứ I của Mỹ. Còn về
    phần Trung sĩ Strobel, hình như phải kể hắn ta vào số nhiều triệu người Đức
    mất tích.
    Ngày 20-7-1944, nhiều toán quân Đức hay đồng minh của Đức, thường
    cũng tơi tả như toán quân mà chúng ta vừa theo dõi, đã đánh tháo khắp nơi ở
    phòng tuyến Miền Đông, từ biển Baltique (Baltique là biển phụ của Đại tây
    dương ở giữa các nước Suède, Finlande, Russie, Lithuanie, Allemagne, và
    Daneinark đến dãy núi Carpathes. Sự thất bại của Phần Lan ở Carélie đã làm
    Đội quân thứ XX của Đức đóng tại Laponie hoàn toàn bị cô lập bên kia bắc
    cực khuyên (cercle polaire arctique những nước vùng Baltique hầu như bị
    bao vây ; trên hai mặt trận vùng biển Ballique và ba trận tuyến ở Bạch Nga.
    Chiến thuật gia Joukov, điều động một khối người và chiến xa đông đảo phi
    thường nhứt vào cuộc chiến, đã tiến gần năm trăm cây số trong không đầy ba
    tuần lễ.
    Ở Rastenburg, những xếp lớn của O.K.W. (Oberkommando der
    Wehrmacht : Bộ Tổng tư lệnh tối cao Quân lực Đức Quốc Xã không có vẻ gì
    là mất tinh thần vì những biến cố quân sự ở phương Đông cả : "Không có
    một cuộc tấn công nào có thể tiếp diễn mãi mãi, chúng ta biểt rõ điều đó hơn
    ai hết. Sẽ có một lúc mà người ta phải dừng lại để đợi tiếp tế và chấn chỉnh
    lại các hàng ngũ. Lúc đó sẽ là lúc mà chúng ta phản công lại".

    Ý đồ của Bộ Tổng tư lệnh tối cao như sau : "khóa chặt" vùng đồng bằng
    Ba lan bằng cách tập trung quanh Varsovie một đại quân thiết kỵ và tập họp
    bên này và bên kia pháo đài đó những đơn vị đang tháo lui, tăng viện thêm
    vài toán quân mới để giúp bọ trấn giữ phòng tuyến mới. Đại bản doanh đả tự
    về Bộ những huấn lịnh về cách tổ chức và điều động các lực lượng này.
    Kế hoạch của Bộ Tổng tư lệnh tối cao không đủ để làm yên lòng những vị
    chỉ huy Bộ, cũng như những tướng lãnh chỉ huy mặt trận Miền Đông, họ đã
    biết quá nhiều về mặt trận này, Trừ ra, điều ngoại lệ, những quân nhân này
    đã nghĩ đến điều sau : "Có lẽ, dĩ nhiên, cuộc tấn công của Sô viết chẳng bao
    lâu nữa sẽ chậm lại, nhưng chỉ trong chốc lát, vùng đồng bằng Ba lan có thể
    giữ được trong một thời gian nào đó, nhưng mà không phải toàn cả trận
    tuyến, không có một lý do gì để cho thế đông hơn phi thường của Nga về
    quân số cũng như về khí cụ, mà cuộc tấn kích đang tiếp diễn vừa phát lộ với
    chúng ta ngưng hiện hữu ở một lúc nào đó, ngược lại, nó phải tăng trưởng,
    mặt trận Miền Đông không phải là trận tuyến duy nhứt cần xem xét, tình thế
    trở nên nguy ngập ở phía Tây". Một số tướng lãnh nọ đã kết luận : "Sớm
    muộn gì, sự thất trận cũng không thể tránh được. Chỉ có một quyết định về
    phương diện chính trị mới có thể thay đổi được diễn tiến của tình thế".
    ° ° °
    Trong phi cơ trực chỉ Rastenburg, Đại tá Von stauffenberg giữ chặt chiếc
    cặp da trên đùi. Phần nhiều những người tổ chức cuộc mưu sát đã nghĩ là tốt
    hơn nên bắn Hitler, và chính Von Slauffenberg cũng đồng ý với họ. Song vì
    ông ta mang một cánh tay giả và bàn tay kia chỉ còn có ba ngỏn, cho nên ông
    đã phải từ bỏ ý định dùng súng. Vả lại, vài người trong tổ chức đã quả quyết
    là Hitler luôn luôn mang trong người một áo giáp bằng thép để ngừa đạn.
    Von Stauffenberg đã được chọn thi hành cuộc mưu sát mặc dù các vết
    thương của ông chưa được lành hẳn, vì chính ông ta đã tình nguyện với sự
    xác tín và lời nài nỉ nhiệt thành, để được đích thân thanh toán Hiller. Ông đã
    đoán chắc một cách bản vô thức trên giường bịnh rằng ông đã được thiên
    khải ban lệnh giải phóng đất nước. Bởi đó cho nên các người chủ chốt của
    cuộc âm mưu, đã vận động thành công để ông đảm trách nhiều phần vụ cho
    phép ông ta luôn lui tới Đại bản doanh.
    Rất ít người ở Đức quốc được tới gần bên Fuhrer (Fuhrer, từ ngữ Đức, có

    nghĩa là lãnh tụ, biệt danh dùng để gọi nhà Độc tài Đức quốc xã Adolf Hitler
    từ năm 1933 . Sự thực hiện cụ thể một cuộc mưu sát không dễ gì, cả đối với
    người có nhiều kẻ cộng mưu trong hàng cao cấp. Nhiều người chuẩn thực
    hiện khác đã có nhiều kinh nghiệm về vấn đề nầv. Ngay ngày nay, người ta
    không làm sao biết được, với một sự chính xác tuyệt đối là bao nhiêu cuộc
    mưu sát đã được trù hoạch đối với Hitler, bao nhiêu đã thực sự được tổ chức,
    trước cuộc mưu sát ngày 20 tháng bảy 1944. Thế nhưng, vài chứng cứ, dù
    chúng chỉ chứa đựng một phần sự thực, đã cho chúng ta thấy nhiều nỗi khó
    khăn của một việc làm như vậy.
    Cuối năm 1943, một tướng lãnh và một Đại tá thuộc Đại bản doanh đã
    mưu tiêu diệt Hitler trong một buổi lễ trình diện các chiến cụ tân tạo. Phải
    cần đến ba người tình nguyện, mà một mang trong người một trái bom. Khi
    Fuhrer tới, hắn ta sẽ nhảy đến ôm chặt lấy Hitler và bấm ngòi nổ. Xui xẻo
    thay, buổi lễ trình diện đã được hoãn lại nhiều lần, như là chính Hitler hav
    một người hầu cận nào đã dự cảm được tai họa sắp xảy ra, cuối cùng một
    cuộc oanh tạc đã thiêu hủy toàn kho chiến cụ tân tạo ấy.
    Mưu toan nầy tái thực hiện ngày 20 tháng hai 1944 bởi một Đại tá tên
    Josef Hoffmann, tùy viên tại Dinh Tể tướng. Lại một buổi lễ trình diện chiến
    cụ. Người tình nguyện đi vào cõi chết chính là con trai của Đại tá.
    Lần này, Hitler đã chấp thuận đến, người người đang chờ đợi, một sĩ quan
    trong đội cận vệ đến loan báo : "Năm phút nữa Fuhrer sẽ đến nơi". Trung úy
    Hoffmann điều chỉnh cơ chế của ngòi nổ ở vị thế : chậm mười phút - hy
    vọng là Fuhrer sẽ để ít ra cũng năm phút để xem xét. Vài sĩ quan biết chuyện
    đã tìm cách lảng tránh ra xa chừng nào hay chừng ấy, viên trung úy khả nổ.
    Ngay lúc ấy, một sứ giả mới lại đến và loan báo "Buổi thanh tra của Fuhrer
    được triển lại ba tiếng đồng hồ".
    Người ta đã chỉ cố vừa đủ thì giờ để đem cho nổ trái bom ở trong một
    hầm (hay một khoảng đất trống trong Dinh Tể tướng. Chứng cớ thu thập
    được về cuộc mưu sát nầy là của trung úy Hoffmann, đã bị Nga bắt làm tù
    binh. Dường như người ta không quan tâm đến việc kiểm chứng tỉ mỉ tính
    chất chính xác của nó, một sự kiện đích xác, gần như hầu hết các chuyến
    kinh lý và sự xê dịch của Hitler đã bị hủy bỏ hay triển hạn. Người ta đã
    chẳng hề đoán chắc được là sẽ nhìn thấy ông ta ở một nơi nào đó vào một

    thời khắc nào đó. Những người có trách nhiệm về an ninh của những nhân
    vật được suy đoán là có thể bị ám hại đã muốn như vậy.
    Cuộc mưu sát xác thực nhứt và được biết đến nhiều hơn hết, ngoài cuộc
    âm mưu ngày 20-7-1914, có thể cũng là cuộc mưu sát được tổ chức công
    phu hơn hết là cuộc mưu sát ngày 13-3-1913.
    Hitler thân hành đến mặt trận Miền Đông trong vùng Smolensk, tại Bộ
    chỉ huy của von Kluge, Tư lệnh Liên quân Trung bộ. Khi Hitler lên phi cơ
    trở về Đức, Tướng von Tresckow, trong bộ tham mưu của von Kluge đã nhờ
    Đại tá Brandt, trong đoàn tùy tùng của Fuhrer, mang về dùm một gói quà
    gồm hai chai Cognac cho Đại tướng Slitff thuộc Đại bản doanh ở
    Hestenburg.
    - "Rất sẵn sàng" Đại tá Brandt trả lời.
    Sự thực, gói đồ chứa một trái bom, ngòi nổ đã được điều chỉnh : chậm ba
    mươi phút. Hitler ít khi di chuyển bằng phi cơ, máy bay riêng của ông gồm
    một căn buồng bọc thép có thể tháo rời ra và một chiếc dù tự động che chở
    cho cả căn buồng trong trường hợp khẩn cấp. Song trái bom đủ mạnh đề tiêu
    hủy trong nháy mắt toàn thể chiếc máy bay. Sự chậm trễ có thế ấn định trong
    mười phút, ba mươi phút hoặc một giờ. Sự bắt mồi của ngòi nổ làm vỡ một
    ống thủy tinh nhỏ chứa đựng một chất thuốc gậm mòn, chất lỏng nầy sẽ ăn
    mòn từ từ sợi dây kim khí giữ cái lò so kích hỏa. ích lợi của cách thiết bị
    nầy, sáng chế của Anh cát lợi, là tránh việc sử dụng dây dẫn hỏa, mà khi
    cháy sẽ phát ra tiếng sè sè dễ bị phát giác. Các phi công Anh đã thả dù các
    quả bom ấy xuống nước Đức cho các nhân viên của Intelligence Service
    (Trung ương tình báo Anh quốc có nhiệm vụ phá hoại, và quân Đức đã bắt
    được vài quả.
    Những người âm mưu ở Smolensk (von Kluge biết việc này, song không
    muốn xen vào một chuyện gì cả đã nôn nóng chờ đợi tin báo của chiếc phi cơ
    hộ tống về tai nạn xả...
     
    Gửi ý kiến