Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Cầm ca Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 16h:26' 23-02-2024
    Dung lượng: 907.8 KB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    CẦM CA VIỆT NAM (1969)
    Tác giả: Toan Ánh
    Thể loại: Văn hóa, Âm nhạc
    Nhà xuất bản: Xuân Thu
    Tạo ebook: Thế Ninh
    Hoàn thành: tuần 17 năm 2018

    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Tựa
    Tôi mừng rằng công trình sưu tầm biên khảo về Nếp cũ của ông Toan Ánh
    càng ngày càng được quốc dân hoan nghênh. Non ba chục năm trước, đọc
    những bài chép các tục lạ ở thôn quê Bắc Việt và đăng rải rác trên các báo
    Tri Tân, Trung Bắc Chủ Nhật, Tao Đàn tôi đã để ý đến ông liền: khu vực đó
    ít người khai thác mà những chuyện ông kể đều hấp dẫn, dồi dào về chi tiết.
    Kế đó là chiến tranh Pháp Việt. Bẵng đi một thời gian, sau Hiệp định Genève
    một ít lâu, tôi lại thấy ông xuất hiện trên văn đàn với những tác phẩm: Bó
    hoa Bắc Việt, Trong lũy tre xanh. Và trong mấy năm nay, không năm nào
    ông không cho ra vài ba cuốn, có cuốn dày 400-500 trang khổ lớn: Tín
    ngưỡng Việt Nam, Người Việt... Đất Việt, Làng xóm Việt Nam, Miền Bắc
    khai nguyên...Ông đã sớm định một chí hướng từ khi mới ra làm việc, lựa
    một con đường ít người đi mà cũng là con đường đẹp nhất, thích thú nhất: đi
    sâu vào lòng dân tộc, tìm hiểu nếp sống của tổ tiên; và luôn mấy chục năm,
    tập trung mọi hoạt động vào đó, sưu tầm trong các sách báo cũ và mới, đi tới
    từng miền để điều tra, ghi chép, lợi dụng mọi hoàn cảnh để đạt mục đích
    (cuộc di cư 1954 đối với ông chính là một điều may vì nhờ nó mà ông đã
    nghiên cứu được tại chỗ phong tục miền Trung và miền Nam) nên tài liệu
    của ông mỗi ngày một nhiều, sự sáng tác của ông mỗi ngày một phong phú.
    Nghe nói ông dự tính soạn thêm năm sáu cuốn nữa, mỗi cuốn bốn năm trăm
    trang. Và công của ông đến nay đã được quốc dân đền đáp. Đó là điều đáng
    mừng, không phải mừng cho ông mà cho tiền đồ của văn hóa nước nhà.
    Sau Hiệp định Genève, khi ảnh hưởng của Mỹ bắt đầu lan tràn vào Việt
    Nam, trong khoảng mười năm đầu một số người hăng hái tiếp thu văn hóa
    Mỹ vì nó lạ đối với chúng ta, một số khác nhiệt liệt giới thiệu những trào lưu
    tư tưởng mới của Pháp. Dĩ nhiên công việc đó nên làm, nhưng chúng ta đã
    say với cái mới, cái lạ, của người mà cơ hồ quên đi cái đẹp, cái cũ của mình.
    Vài năm nay, có một trào lưu ngược lại: chúng ta đã thấy mặt trái của
    phương Tây: có một lực lượng phi thường chưa từng thấy trong lịch sử nhân
    loại mà họ không ổn định nổi chính xã hội của họ, lại chỉ gây thêm vô số xáo
    trộn trên thế giới, ở Đông Á, Tây Á, Phi Châu, Nam Mỹ. Nên một số học giả
    phương Tây đương muốn tìm hiểu sâu hơn văn minh của phương Đông; ở
    nước ta thì một số nhà văn đã trở lại nghiên cứu Văn hóa cổ truyền của
    mình: triết lý cổ, tuồng cổ, văn thơ cổ, nếp sống cổ... Chúng ta chưa biết
    công trình của các nhà đó có dẫn tới một đường lối nào dung hòa mới với cũ
    không, tạo nên một nhân sinh quan mới, một nếp sống mới nào không,
    nhưng nội một điều quốc dân, nhất là thanh niên, đã hoan nghênh công việc
    của họ, cũng đủ cho ta mừng rồi: có tìm hiểu kỹ dĩ vãng của mình thì mới

    quí nó được, có quí nó thì mới tìm được hướng đi cho tương lai; không một
    dân tộc nào đoạn tuyệt hẳn với dĩ vãng mà cường thịnh được. Lịch sử là một
    sự liên tục: tương lai ở trong hiện tại, mà hiện tại ở trong dĩ vãng. Tôi mong
    mà cũng tin rằng "sự suy đồi của văn hóa vì đụng chạm với những sản phẩm
    ngoại lai lúc này" - lời của ông Toan Ánh - chỉ là một thứ lở lói ngoài da
    phát sinh trong các thành thị, còn đại đa số dân chúng ở thôn quê, ở các
    quận, các tỉnh nhỏ vẫn còn giữ được nếp sống cũ. Tôi có thể dẫn chứng được
    vì đã mục kích nhiều gương hi sinh nhẫn nại tiết tháo.
    Trước sự xâm nhập ồn ào, "man rợ" của các loại nhạc Jazz, Twist, Be-bop
    mấy năm gần đây, ông Toan Ánh âm thầm thu thập tài liệu về Cầm ca Việt
    Nam để chúng ta thấy tính cách nghiêm trang mà hòa nhã, vui mà không
    loạn của ca nhạc cổ, nhất là cái tinh thần "cộng lạc" giữa giai cấp sĩ phu và
    bình dân thời xưa ra sao. Tôi yêu quí các cụ Nguyễn Du và Phan Bội Châu
    quá khi các cụ đêm đêm đi hát dặm với các cô thôn nữ, và tôi thích cái tục
    hát quan họ ở Bắc Ninh làm sao? Thời đó trí thức và bình dân đâu có cách
    biệt như ngày nay, mà không có cách biệt thì làm gì có đấu tranh giai cấp.
    Tác giả không thể đi sâu vào chi tiết được - như vậy thì biết mấy ngàn trang
    cho đủ? Nhưng ông đã ghi hết được những đại cương về cầm ca của ta từ
    thời cổ cho tới đầu thế chiến vừa rồi: nhắc qua "nhạc lý": lục kỵ, thất bất
    đàn; tả mấy chục thứ nhạc khí và không biết bao nhiêu giọng ca hát trí thức
    và bình dân: hát đò đưa, hát chăn trâu, hát ru em, hát ví, hát quan họ, hát
    dặm, hát trống quân, hát phường, hò, vè, hát xẩm, hát ả đào, ca Huế, hát thờ,
    hát tuồng, hát chèo, vân vân, cả ca cải lương nữa, chấm dứt là những bài hát
    đầu tiên chịu ảnh hưởng của Tây phương.
    Đọc tác phẩm của ông tôi bâng khuâng nhớ lại một lúc vui thanh thoát trong
    đời tôi mà nhờ dân ca tôi đã được hưởng. Cách đây non bốn mươi năm, cũng
    vào một đêm Trung thu như đêm nay, nhưng ở làng Thịnh Hào cách Hà Nội
    dăm sáu cây số. Anh em chúng tôi ba bốn người đương chuyện trò trong một
    khu vườn bỗng có tiếng hát văng vẳng đưa lại, và chẳng ai bảo ai, mọi người
    đều im bặt. Tiếng hợp ca mỗi lúc gần và chúng tôi nghe rõ là điệu Ru hời:
    Tay tiên là tay chuốc chén ơi ới đào là rượu đào,
    Đổ đi là đi thời tiếc, ơi ới vào, uống vào, uống vào thời say.
    Ru là ru ru hỡi, ơi ới hỡi là ru hời...
    Giọng ca tới những tiếng chén, tiếc, bay vút lên không, rồi chìm hẳn ở những
    tiếng (rượu) đào, (uống) vào; sau cùng tan lẫn trong cảnh bao la của đồng
    ruộng. Đúng lúc đó nhìn qua bờ ao, chúng tôi thấy một đoàn thợ gặt, cả trai

    và gái khoảng mười mấy người đi hàng hai dưới ánh trăng vằng vặc trên con
    đê (tức đường Quần ngựa). Tiếng hát ngừng một chút rồi lại cất lên, tôi
    nhổm nhổm muốn chạy theo họ, nhưng rồi lại ngồi xuống, vì băng qua được
    cách đồng chiêm tới chân đê thì họ đã đi xa mất rồi. Tôi lắng tai nghe tới khi
    dư âm tắt hẳn, mà tiếc ngơ tiếc ngẩn! Suốt đời tôi, chưa có lần nào giọng ca
    làm cho mê như lần đó: nó du dương, uyển chuyển, bát ngát, tôi biết dùng
    tiếng gì để tả bây giờ? Ca nhạc Tây phương không sao gợi cho tôi được cảm
    xúc thần tiên đó. Ca nhạc của mình quả thật không phong phú, nhiều sắc thái
    bằng phương Tây nhưng có những nét riêng, cái thần riêng thấm thiết với ta,
    như là tiếng gọi của tổ tiên, của dân tộc. Ông Toan Ánh đã có công gợi cho
    ta nhớ lại, nhớ cái hồn của đất nước đó trong cuốn Cầm ca Việt Nam này.
    Chỉ là một "nhất lãm" nhưng rất đủ để hướng dẫn những người muốn đi sâu
    vào chi tiết.
    Một điểm đáng chú nữa là ông đã khéo lựa những câu hát để chúng ta thấy
    tinh thần khả ái của thôn nữ Việt Nam.
    Họ sống thật cực khổ:
    Một ngày hai bận trèo non,
    Lấy gì mà đẹp mà dòn hỡi anh!
    mà họ rất chung tình:
    Ra về chỉ một ngóng theo,
    Ngóng rừng rừng rậm, ngóng đèo đèo cao.
    và rất hiếu thảo với cha mẹ, tận tụy với chồng con:
    Bố kinh thờ mẹ thờ cha,
    Thờ chồng trọn đạo cùng là nuôi con.
    Một số thiếu nữ ngày nay, hạng bận mini-jupe, hút Salem, uống huýt-ky, đọc
    những câu đó tất bĩu môi, cho là cổ hủ; nhưng dân tộc ta - mà dân tộc nào
    cũng vậy - sở dĩ vượt qua được những cơn hỗn loạn, khủng hoảng mà lại
    hiên ngang ngửng đầu lên được, chính là nhờ những người vợ, người mẹ cổ
    hủ như các bà mẹ Sào Nam, Tú Xương, Nguyễn Quang Diêu...
    Sàigòn, Trung Thu Kỷ Dậu
    NGUYỄN HIẾN LÊ

    Thú vui tao nhã
    Người ngoại quốc sống trên đất Việt, tìm hiểu nếp sống của người Việt Nam,
    đều công nhận Việt Nam là một dân tộc chịu khó, không ngã lòng trước mọi
    khó khăn, đã chiến thắng được tất cả mọi trở ngại vật chất và tinh thần trong
    chịu đựng, trong gian lao. Lịch sử Việt Nam trải qua bao nhiêu cuộc hưng
    vong, người Việt Nam như cây tre, gặp gió mạnh thì ngã xuống, qua cơn gió
    lại vươn mình lên. Trong cuộc sống hằng ngày, họ không nề hà vất vả, làm
    lụng sáng chiều, đầu tắt mặt tối, vật lộn với sự sống. Sống trên một dải đất
    khi nắng thì như thiêu đốt, khi lạnh thì như cắt da cắt thịt, đất đai thì núi
    rừng trùng điệp và đồng lầy mênh mông, nếu tổ tiên chúng ta không kiên
    nhẫn phấn đấu, không bền gan chịu đựng, làm sao ngày nay chúng ta có một
    giang sơn gấm vóc. Chúng ta đã chống lại được sự thôn tính của người
    Trung Hoa về phương Bắc, chúng ta lại mở mang được bờ cõi về phương
    Nam, và gần đây, chúng ta lại tự giải thoát được ách nô lệ của người Pháp,
    mặc dầu kẻ địch của chúng ta có đủ khí giới tối tân, đối lại chúng ta chỉ có sự
    đoàn kết dân tộc với lòng bền bỉ kiên cường.
    Ở hoàn cảnh rất khó khăn, về địa lý cũng như về chính trị, dân tộc Việt Nam
    đã phải làm lụng nhiều hơn tiêu khiển, đã phãi đương đầu chiến đấu nhiều
    hơn hưởng thụ, gia dĩ, từ ngày lập quốc tới nay, hết kẻ thù gần tới kẻ thù xa,
    họ luôn luôn muốn thôn tính đất nước chúng ta, cho tới ngày nay tham vọng
    ngoại trên-đất nước vẫn chưa hết, họ muốn sang đoạt hết quyền sống, trách
    chi chúng ta không cực nhọc trong sinh hoạt!
    Nói như vậy không phải là người Việt Nam không có những thú chơi giải trí.
    Có lắm chứ, tuy vất vả, tuy bận rộn, nhưng sau những giờ làm lụng, sau
    những cuộc phấn đấu, chúng ta vẫn có nghỉ ngơi và chơi bời, có như vậy
    chúng ta mới có dịp tự thưởng công cho mình.
    Chúng ta giải trí với những thú vui riêng của dân tộc, và những thú vui này
    là những trò tiêu khiển của mọi tầng lớp, thay đổi tùy theo từng hạng người
    và cũng có khi từng địa phương.
    Và ngay trong các lối chơi tiêu khiển cũng có năm bảy đường "có cách chơi
    nhã, có cách chơi tục, có cách chơi thanh, có cách chơi thô, có cách chơi
    nghĩa lý văn chương, có cách chơi bá láp vô vị, có cách chơi đủ dinh dưỡng
    tính tình, có cách chơi làm hư bại nhân cách"(1)
    Thói thường có làm thì phải có chơi, và chơi bời cũng không phải là có hại,

    "có lao lực phải có tiêu khiển"(1) điều cần thiết là phải chọn lối chơi mà vui,
    vì trong cách chơi hay hoặc dở, nhã hoặc tục, thanh hoặc thô thường do lối
    mà cũng do cả người chơi nữa. "Người chơi phong nhã cao thượng thì cách
    chơi cũng cao thượng phong nhã; người chơi nhả nhớt tục tằn thì cách chơi
    cũng tục tằn nhả nhớt"(1). Người biết chơi thường tìm những thú chơi hợp
    với mình. Có những thú chơi ầm ĩ ồn ào, có những thú chơi yên tĩnh trầm
    lặng, có thú chơi cần tới sức vóc, có thú chơi cần sự suy nghĩ, lại có thú chơi
    cần cả trí lẫn lực. Có thú chơi, người chơi chỉ một mình cũng thấy thú, lại có
    những thú chơi phải có đồng bạn mới hào hứng; có thú chơi không cần sự
    ganh đua, có thú chơi phải ganh đua mới thỏa thích.
    Thú chơi thay đổi tùy người, thay đổi tùy địa phương, nhưng cũng lại thay
    đổi tùy thời đại. Tôi không nói tới những thú chơi mới ngày nay do ảnh
    hưởng của Tây phương mà có, tôi chỉ hạn chế trong những thú cổ xưa của
    người mình, và tôi cũng không đề cập tới những thú chơi ồn ào rầm rĩ,
    những thú chơi mạnh mẽ cần tới sức vóc, chỉ muốn nhắc tới những Thú vui
    tao nhã của người xưa.
    Những thú tao nhã này, trước hết phải kể tứ thứ phong lưu là cầm, kỳ, thi,
    họa, rồi đến những thú tiêu khiển khác như ca hát, chơi cây cảnh, uống trà,
    chơi chim, chơi hòn non bộ, chơi diều v.v...
    "Xét trong cách chơi bời, cách nào cũng có một cái thú tiêu nhàn, cũng di
    dưỡng được tính tình, cũng khoan khoái được thần trí"(2).
    Những thú chơi tao nhã của tổ tiên chúng tôi trải qua bao nhiêu cuộc hưng
    vong của đất nước, ngày nay nhiều thứ vẫn còn tồn tại và đương thời cũng
    có nhiều người thích thú. Còn hay mất, những thú chơi này đã từng làm cho
    ông cha chúng ta say mê, chúng ta phải tìm hiểu, tìm hiểu để thưởng thức
    cũng như để so sánh với một vài thú chơi ngày nay.
    Nếu chúng ta được nghe những cụ già đứng trước những cây tùng của hòn
    non bộ thân bằng cổ tay lá bằng mũi kim vào giữa mùa nóng rực mà nói rằng
    thấy mát cả người như đã bước chân vào rừng tùng; nếu chúng ta được thấy
    một người đứng tuổi vào bực đàn anh trong làng cặm cụi ngồi vót từng cái
    khung diều, uốn đôi cánh diều quên cả ăn, quên cả mệt; nếu chúng ta được
    nhìn một cụ già khác cặm cụi với nghiên mực, với ngọn bút nho để vẽ một
    bức tranh thủy mạc, chú ý tới nét vẽ của mình như quên hẳn cuộc đời bên
    ngoài; nếu chúng ta lại chứng kiến các cụ pha một ấm chè tàu buổi sáng,
    được tự tay đun lấy bình nước, tự tay tráng chiếc ấm và những chiếc chén, từ
    chén tống tới chén quân; và nếu... còn nhiều nữa, chúng ta sẽ cảm thấy cái

    thanh thú của những thú chơi lịch sự thanh tao của người mình và chừng đó
    chúng ta ắt phải say những cái say mê của tổ tiên.
    Viết về những thú vui tao nhã trong nếp sống cũ của dân tộc, tôi tự biết rằng
    sẽ không làm thỏa mãn được nhiều độc giả vì sự hiểu biết quá nông cạn của
    tôi, vì tôi chỉ nhắc lại một cách quá giản lược, chính tôi không phải là một tài
    tử trong một thú chơi, không lột hết được những điều phải trình bày, nhưng
    tôi vẫn viết, viết để ghi lại một vài cái gì của ông cha để hoặc có người lưu ý
    tới sẽ đào sâu bới kỹ hơn, trình bày rõ ràng và đầy đủ với một sự tham bác
    rộng rãi hơn.
    Trước khi đề cập tới những thú vui tao nhã khác, trong tập sách nhỏ này,
    trước hết tôi xin trình bày về hai thú Cầm, Ca.
    Tôi sẽ rất thỏa mãn nếu những trang sách nhỏ này có người đọc tới và sẽ chỉ
    bảo cho những điều thiếu xót để bổ khuyết về sau.
    Tháng giêng năm Kỷ Dậu - 1969


    Chú thích
    Lời tựa

    Thú vui tao nhã

    I/ Cầm
    Bát âm
    Lục kỵ
    Thất bất đàn
    Sự tích Bá Nha, Tử Kỳ
    Bát tuyệt

    II/ Nhạc khí
    Các loại đàn
    Các loại sáo
    Kèn
    Sinh tiền
    Phách
    Bát
    Trống

    Một số loại khác

    III/ Nhạc ở Việt Nam
    III.1/ Nhạc lễ
    III.2/ Nhạc tiêu khiển
    III.2.a/ Nhạc cung Bắc
    III.2.b/ Nhạc cung Nam

    IV/ Ca hát
    IV.1/ Các giọng ca hát bình dân
    IV.2/ Nội dung câu hát
    IV.3/ Những câu hát trong khi làm việc
    IV.3.a/ Hát đò đưa
    IV.3.b/ Hò kéo gỗ
    IV.3.c/ Hò tát nước
    IV.3.d/ Hát ru em
    IV.3.e/ Hát chăn trâu
    IV.4/ Những giọng hát trao tình
    IV.4.a/ Hát ví
    - Hát ví Nghệ, Tĩnh
    IV.4.b/ Hát quan họ
    - Năm giọng trên

    - Nguồn gốc của tục hát quan họ
    - Mùa quan họ
    - Tại sao lại gọi hát quan họ
    - Một bọn quan họ
    - Mời hát ở hội
    - Hát ở hội
    - Mời bạn hát tới nhà hát trắng đêm
    - Hát giải
    - Kết bạn
    IV.4.c/ Hát trống quân
    - Những lối hát trống quân
    - Hát vận
    - Hát đố
    - Nguồn gốc tục hát trống quân
    - Hát cò lả
    IV.5/ Hát các phường
    IV.5.a/ Hát phường củi
    IV.5.b/ Hát phường cấy
    IV.5.c/ Hát phường vải
    IV.5.d/ Hát phường buôn
    IV.6/ Hát giặm


    IV.6.a/ Hát giặm ứng khẩu

    IV.6.b/ Hát giặm thời sự
    IV.6.c/ Hát giặm vè
    IV.7/ Hò Huế
    IV.7.a/ Hò mái đẩy
    IV.7.b/ Hò mái nhì
    IV.7.c/ Hò giã gạo
    IV.8/ Ca Huế
    Cổ bản
    Kim tiền
    Lưu thủy
    Hành vân
    Nam ai
    Nam thương
    Nam bình
    Tứ đại cảnh
    Bình bán
    Tẩu mã
    Nam xuân
    Phú lục
    IV.9/ Hò miền Nam
    IV.9.a/ Hò cấy
    IV.9.b/ Hò chèo thuyền

    IV.10/ Hát vè
    IV.10.a/ Vè trái cây
    IV.10.b/ Vè các loại cá
    IV.10.c/ Vè các loại bánh
    IV.10.d/ Vè dạy trẻ
    IV.11/ Hát tôn giáo
    IV.11.a/ Hát chầu văn
    IV.11.b/ Hát sai bảo, lệnh, truyền
    IV.11.c/ Những câu hát thờ
    IV.11.d/ Các giọng hát tôn giáo khác
    IV.12/ Những giọng hát về nghề nghiệp
    IV.12.a/ Hát xẩm
    IV.12.b/ Hát tuồng
    IV.12.c/ Hát chèo
    IV.12.d/ Hát cải lương
    IV.12.e/ Ca vọng cổ
    IV.13/ Những lối ca hát trí thức
    IV.13.a/ Ngâm thơ
    IV.13.b/ Ca trù
    - Bắc phản
    - Hát mưỡu
    - Hát nói

    - Hát gửi thư
    IV.14/ Hát trẻ em
    IV.14.a/ Chi chi chành chành
    IV.14.b/ Thả đĩa ba ba
    IV.15/ Hát Tân nhạc
    Thời kỳ sáng tác
    IV.16/ Kết luận

    V/ Đọc thêm
    V.1/ Âm nhạc xứ Thượng
    V.2/ Tục hát trống quân giữa giai Xuân Cầu, gái Khúc Lộng
    V.3/ Hát phường vải

    Chú thích

    Cầm
    Trong những thú vui tao nhã của ta, người xưa xếp tứ thứ phong lưu lên đầu,
    mà đứng đầu tứ thứ này là cầm, nghĩa là chơi đàn.
    Gảy đàn (cầm) là một lối chơi thanh nhã, hoặc gảy một mình, hoặc hợp tấu
    với bạn bè(3)
    Cầm tuy nói là đàn, nhưng ta phải hiểu đây là nhạc, vì ngoài đàn ra, trong
    thú tiêu khiển này người xưa còn thổi sáo, kéo nhị, đánh trống, chơi sinh tiền
    v.v...
    Những lúc thư nhàn, những khi đêm khuya thanh vắng với một nỗi tâm tư
    vui buồn riêng, dạo một khúc đàn, thổi một bản sáo để tự tỏ nỗi vui hoặc giải
    nỗi buồn, quả thật là thú vị. Sự trầm lặng yên tĩnh càng tăng vẻ tao nhã của
    thú chơi. Tiếng đàn thánh tha thánh thót như những cung bực của niềm vui,
    mà cũng có thể như những tiếng nói để thổ lộ nỗi buồn u uất.
    Đàn tuy là một thứ tiêu khiển, nhưng trong đạo trị dân của người xưa, đàn,
    hay đúng hơn, nhạc cũng là một trong những điều quan trọng, vì điệu đàn là
    tự lòng người mà hiện ra. Qua điệu đàn của một địa phương, có thể biết được
    phong hóa thịnh suy, chính trị mờ tỏ.
    Sách Lễ ký có nói rằng: Nhạc giả thông luân lý giả dã, nghĩa là nhạc thông
    với luân lý. Tiếng nhạc thanh tao êm ái có thể biến thành khêu gợi dâm đãng.
    Người xưa chơi đàn gìn giữ chánh thanh, cố giữ điệu đàn không có âm thanh
    biến thể để chánh thanh hóa dâm thanh.
    Đàn tuy tao nhã, nhưng chỉ tao nhã với khách phong lưu; với những con
    người đạo đức kém, người xưa cho là gia hữu cầm, nữ tử dâm.
    Đàn hay dở lợi hại là do người, người học đàn phải biết tự điều khiển mình,
    tiếng đàn mới hữu ích và không di hại.
    Người xưa thường dùng đàn để chính tâm dưỡng tính, để khuyến thiện, răn
    ác với mục đích sửa cho ngay lòng người. Vua Thuấn xưa gảy đàn năm dây,
    ca bài Nam Phong đem lại sự đại trị lại cho thiên hạ, đức Khổng Tử khi ở
    nước Tề, nghe nhạc Thiều mà quên ăn.
    Tại nước ta, đàn nhạc đã có từ lâu và vua Lê Thánh Tôn đã quy luật âm nhạc

    bằng cách đặt ra bộ Đồng Văn và bộ Nhã Nhạc để hòa nhạc và xướng hát.
    Trong các cuộc tế lễ từ Triều đình đến dân gian, bao giờ đàn nhạc cũng điều
    hòa nghi lễ.
    Đàn đã ăn sâu vào phong tục của ta, đàn đã là một thú tiêu khiển thanh tao,
    và đàn cũng đã gắn liền với một phần đời sống của nhiều người, từ nơi dân
    giả tới hàng quý tộc.

    Bát âm
    Đàn hay dở do âm thanh, khéo điều hòa âm thanh thì tiếng đàn thánh thót
    thanh cao êm ái, điều hòa vụng, âm thanh rối loạn và và như vậy tiếng đàn
    cũng biến theo.
    Để phát ra âm thanh, ta dùng tám thứ tiếng phát ra bởi tám vật liệu khác
    nhau, gọi là bát âm, do đó các phường nhạc của ta xưa còn được gọi là
    phường bát âm.
    Bát âm gồm:
    Kim: tiếng loại kim khí, thường là tiếng đồng như tiếng chuông, tiếng
    bạt (loại chuông nhỏ), tiếng chiêng, tiếng nao (loại chiêng nhỏ), tiếng
    nạo bạt, tiếng sinh tiền v.v...
    Thạch: tiếng đá, thường là tiếng khánh.
    Thổ: tiếng đất sét nung, thường là tiếng huân, một thứ nhạc dùng để
    thổi, tiếng còi và có khi tiếng bát
    Ti: tiếng phát ra do dây tơ, thường là tiếng các thứ đàn: cầm, sắt, tỳ bà,
    tranh, nguyệt, v.v...
    Trúc: tiếng các loại tre, thường là tiếng các loại sáo, loại tiêu v.v...
    Bào: tiếng trái bầu, trái bí, thường là tiếng kèn. Cổ nhân thường dùng
    các trái bầu bí làm kèn.
    Cách: tiếng da thuộc căng thẳng, thường là tiếng trống.

    Mộc: tiếng gỗ, thường là tiếng mõ, tiếng phách.
    Những nhạc khí chế tạo bởi các nguyên liệu trên phát ra mỗi loại một thứ
    tiếng khác nhau, nhiều âm thanh có thể đi đơn độc trong các bản độc tấu,
    nhưng thường trong một buổi hòa nhạc, phải có sự hòa hợp pha trộn giữa
    nhiều âm thanh của nhiều nhạc khí. Tiếng gọi là bát âm, nhưng trên thực tế
    rất ít khi phường bát âm dùng đủ các nhạc cụ với đủ tám âm thanh của tám
    nguyên liệu nói trên, nhứt là tiếng gỗ, thiệt ít khi được dùng đến. Thường
    trong những buổi đàn hát, các âm thanh của ti, trúc, cách và kim được dùng
    đến nhiều, và những nhạc khí cũng được thay đổi tùy từng trường hợp, nhiều
    nhạc khí như kèn trống đám táng không đem dùng trong buổi tế lễ, mặc dầu
    các bản nhạc không giống nhau.
    Trong trường hợp có một bản nhạc hòa nên bởi cả tám nhạc khí, bản nhạc
    gọi là bát âm nhã nhạc. Thường phường bát âm xưa chỉ chơi những điệu sẵn
    có, lưu thủy, ngũ đối, tứ đại, nam ai, nam bình, tẩu mã v.v... rất ít có bản
    mới.

    Lục kỵ
    (Những điều kỵ)
    Người xưa chơi nhạc có sáu điều kỵ gọi là lục kỵ, những điều kỵ này đều về
    thời tiết. Các nhạc cụ là những đồ lúc làm cần tỉ mỉ để giữ cho cung điệu
    được đúng, sai một chút là lạc âm thanh. Kỹ thuật chế tạo nhạc cụ của ta xưa
    dù sao cũng chưa hoàn toàn tinh vi, nhất là thân nhiều nhạc cụ đều bằng gỗ
    hoặc tre, rất dễ chịu ảnh hưởng của thời tiết.
    Lục kỵ của ta là:
    Kỵ đại hàn - Trời lạnh thường làm mọi vật se lại, co lại, và trong lúc
    đó khí trời cũng khô hanh. Gặp kỳ đại hàn, nước còn đông lại, đàn
    không thể hay được.
    Kỵ đại thử - Trái với lạnh, gặp nóng vật gì cũng nở ra, lúc đàn nắn dây
    so phím không được như lúc tiết trời mát mẻ, ấm áp.
    Kỵ đại phong - Gió lớn làm rung bầu không khí, những âm thanh phát

    ra cũng bị rung động theo, đàn trong cơn đại phong cũng không lột hết
    được ý đàn.
    Kỵ đại vũ - Mưa to, nước đổ như trút, tiếng nước đổ át tiếng đàn, đàn
    không hay. Đây là chưa nói, không khí có nước làm âm thanh có thể
    sai lạc và dây đàn cũng chịu ảnh hưởng sự ẩm thấp của khí trời.
    Kỵ sấm sét - Khi sấm sét vang trời, đàn không hay, tiếng sấm sét át
    tiếng đàn.
    Kỵ đại tuyết - Khi tuyết phủ đầy đường, đàn không hay. Nước ta
    không có tuyết, nếu có cũng rất hạn hữu và cũng chỉ có ở các tỉnh biên
    giới miền Bắc nơi có núi cao.
    Sáu điều kỵ trên của các tài tử phương Đông thời xưa, các cụ ta vẫn hằng
    theo. Xét cho kỹ những điều kỵ đó cũng đúng, nhất là đối với các nhạc khí
    của người mình chế tạo, tuy có tinh vi nhưng cũng không hoàn toàn thoát
    khỏi được ảnh hưởng của thời tiết.
    Ngày nay với những nhạc khí Tây phương của nền tân nhạc, chế tạo bởi
    những nguyên liệu chọn lọc qua một kỹ thuật tân kỳ, không hiểu lục kỵ trên
    có còn chăng? Và các nhạc sĩ cổ điển ngày nay có còn giữ những điều kỵ của
    người xưa?

    Thất bất đàn
    (Những trường hợp không đàn)
    Gặp những khi thời tiết kỵ với tiếng đàn, người ta không đàn, nhưng ngoài
    những trường hợp đại kỵ nêu trên, cũng còn những trường hợp khác người
    tao nhã không đàn. Những trường hợp này có bảy và người xưa gọi là Thất
    bất đàn. Bảy trường hợp này hoặc nằm trong khuôn phép xử thế của người
    lịch sự thanh cao, người chơi đàn thường cố giữ gìn để tránh tiếng chê trách
    của bậc trí thức thượng lưu, hoặc vì tôn trọng ngón chơi, nâng cao nghệ
    thuật.
    Thất bất đàn là:

    1 - Tang tóc không đàn,
    2 - Khi nhạc có chuông trống ồn ào không đàn,
    3 - Khi tâm trạng bối rối không đàn,
    4 - Khăn áo không chỉnh tề không đàn,
    5 - Không xông trầm không đàn,
    6 - Trong mình không sạch sẽ không đàn,
    7 - Không gặp tri âm không đàn.
    Qua bảy điều trên, người chơi đàn đã có lý do chính đáng để không đàn
    trong mỗi trường hợp.
    Tang tóc không đàn vì sự buồn rầu; chơi đàn là để giải trí, giải trí trong lúc
    có tang không hợp với đạo đức của phương Đông. Các cụ còn nói nghe tang
    không đàn, tang đây có thể là tang của người khác, như được một tin buồn
    của người khác, người lịch sự không có quyền vui với đàn địch trong khi
    người khác đau xót.
    Khi nhạc có chuông trống không đàn vì tiếng chuông tiếng trống sẽ át hẳn
    tiếng đàn, đàn dù có hay mấy cũng không ai biết thưởng thức và chính mình
    cũng không tự thưởng thức được tài nghệ của mình, lại khi tâm trạng rối bời,
    đàn làm sao mà hay được?
    Khăn áo không tề chỉnh, trong người không sạch sẽ, không xông trầm không
    đàn chính vì lý do nâng cao nghệ thuật.
    Không gặp tri âm cũng không đàn, vì đàn lên ai là người nghe, ai là người
    thấu được tâm trạng của mình qua tiếng đàn.
    Nhân đây, tôi xin được phép nhắc lại sự tích Bá Nha, Tử Kỳ, mặc dầu tích
    này bạn đọc đều thừa biết, nhưng nhắc lại để chứng tỏ đàn mà có tri âm,
    người chơi đàn mới thật là mãn nguyện.

    Sự tích Bá Nha, Tử Kỳ

    Bá Nha người nước Tống làm quan đến chức Thượng Đại Phu, chơi đàn rất
    giỏi, nhưng chưa gặp người hiểu đàn để thưởng thức ngón đàn tuyệt diệu của
    mình. Một ngày kia Ông đi Sứ nước Sở trở về, qua một quãng sông, gặp đêm
    trăng thanh, gió mát, lại thêm cảnh vật nên thơ, Ông cho ghé thuyền vào bờ
    sông Hàm Dương lấy đàn ra gảy. Lúc ấy ở bên bờ sông có Tử Kỳ vừa đốn
    củi về, nghe tiếng đàn dừng lại nghe trộm. Bá Nha đang gảy đàn, đàn bỗng
    đứt dây. Bá Nha đoán có người nghe trộm tiếng đàn của mình, và Ông nghĩ,
    quãng sông vắng vẻ, rừng núi chập chùng, kẻ nghe trộm đàn ắt không phải
    thiện nhân. Ông cho quân sĩ lên bờ tìm bắt. Tử Kỳ lên tiếng nói:
    - Tôi là người đốn củi, qua đây, thấy đại nhân gảy khúc đàn hay nên lắng tai
    nghe, tôi thật không phải kẻ bất lương.
    Bá Nha không tin một gã tiều phu lại thưởng thức nổi tiếng đàn của mình,
    hỏi lại:
    - Vừa rồi ta đàn bản gì?
    Tử Kỳ đáp ngay:
    - Ngài đàn bài Đức Khổng Tử thương tiếc thầy Nhan Hồi.
    Thấy Tử Kỳ am hiểu tiếng đàn của mình, Bá Nha có lòng trọng, mời xuống
    thuyền, rồi lên dây gảy một bản đàn khác. Trong lúc đàn, Bá Nha nghĩ đến
    non cao, Tử Kỳ khen hay và nói:
    - Tiếng đàn cao vút, chí của Ngài vòi vọi ở chốn non cao.
    Bá Nha lại đàn một bản khác, tâm trí nghĩ đến giòng nước chảy, Tử Kỳ lại
    khen hay:
    - Chí của Ngài cuồn cuộn như giòng nước chảy.
    Thấy Tử Kỳ biết thưởng thức ngón đàn của mình, Bá Nha nhận thấy thiệt là
    tri âm và quý mến lắm. Hai người cùng nhau đàm đạo về đàn, về nhạc thân
    mật và tương đắc.
    Bá Nha muốn mời Tử Kỳ cùng về Kinh đô nước Tống với mình để cùng
    chung hưởng sang giàu, nhưng Tử Kỳ từ chối vì còn cha mẹ già phải phụng
    dưỡng, không thể bỏ cha mẹ ra đi, trái đạo làm cao.
    Hai người hẹn nhau đến năm sau cùng hội ngộ ở nơi này.

    Năm sau, y hẹn, Bá Nha xin phép vua Tống trở về thăm nhà, đi qua chỗ cũ,
    đem đàn ra gảy. Đàn gảy lên, Bá Nha không thấy Tử Kỳ, tiếng đàn lại nghe
    như sầu não oán than. Bá Nha nghi hoặc, tìm đến nhà Tử Kỳ, hỏi ra mới biết
    Tử Kỳ đã chết. Bá Nha buồn rầu thương tiếc, xin đến mả để thăm người bạn
    tri âm lần chót.
    Đến mộ Tử Kỳ, Bá Nha đem đàn ra gảy một bản đàn ai điếu nghe bi thảm
    não nuột sau khi đã bày đồ lễ trước nơi an nghỉ cuối cùng của người tri kỷ.
    Bá Nha khóc than thảm thiết và khi đàn xong, Bá Nha đập vỡ đàn, thề trọn
    đời không đàn nữa, vì người duy nhất biết thưởng thức đàn của mình là Tử
    Kỳ đã chết.
    Qua sự tích trên, phải nhận rằng, chơi đàn đã là một cái thú, gặp người biết
    thưởng thức ngón đàn của mình lại càng thú hơn.

    Bát tuyệt
    Đàn hay, khách chơi đàn cần phải có tri âm và khi đã đạt tới mức của Bá
    Nha, ngón đàn thật là tuyệt diệu.
    Theo người xưa, cái tuyệt trong đàn có tám điều gọi là Bát tuyệt, và tám điều
    này, đạt được thực ra rất hiếm người.
    Bát tuyệt là:
    Thanh: đàn hay, người chơi đàn khiến được tiếng đàn. Gặp cây đàn
    tiếng đục, lúc chơi tiếng cũng hóa trong.
    Kỳ: đàn hay thật là huyền ảo, biến hóa vô cùng, trong đục rõ rệt và
    nghĩ tới đâu, tiếng đàn như theo tới đó, như khi Bá Nha đàn cho Tử
    Kỳ nghe, lúc lên non cao, lúc theo giòng nước.
    U: Tâm hồn người chơi đàn nằm trong tiếng đàn nếu có chuyện gì u
    trầm, trong tiếng đàn có thể hiện ra. Sách xưa ghi lại truyện Đức
    Khổng Tử đánh đàn. Lúc Ngài đang đàn, có thầy Tăng Tử và thầy Tử
    Cống đứng bên cửa nghe. Khi Ngài đàn xong, thầy Tăng Tử nói rằng:
    "Trong tiếng đàn dường như có tham ý, sao mà bất nhân thế!"
    Thầy Tử Cống nhắc lại lời thầy Tăng Tử với Đức Khổng Tử. Ngài bảo

    rằng:
    - Sâm (tên húy của thầy Tăng Tử) thật là người hiền trong thiên hạ, đã
    quen thẩm âm rồi. Khi ta đang đàn có một con chuột chạy ra, con mèo
    thấy, mắt lăm le, chân nhẹ nhẹ rình bắt con chuột, ta muốn cho bắt
    được, điều muốn của ta đã hiện trong tiếng đàn.
    Nhã: tiếng đàn vui vẻ mà hòa nhã, không hấp tấp, lụp chụp.
    Bi: trong tâm có điều gì bất như ý, tiếng đàn nghe sầu não ai oán.
    Tráng: gặp việc đắc ý, tiếng đàn nghe mạnh mẽ hùng hào.
    Du: ý người đánh đàn ở non cao hay vực thẳm, tiếng đàn biểu hiện
    được nơi đó hoặc cao xa hoặc thăm thẳm.
    Trường: ý người đánh đàn tại chỗ sâu xa, tiếng đàn nghe dài dặc, cuồn
    cuộn như giòng nước.
    Chơi đàn đạt được bát tuyệt, ngón đàn thật là tinh vi, và người sành đàn
    được thưởng thức tài nghệ tuyệt diệu này cũng lấy làm thú vị.

    Nhạc khí
    Chơi nhạc, người sử dụng nhạc khí này, người sành nhạc khí khác, mỗi cây
    đàn, cây sáo, cây nhị, âm thanh mỗi khác. Tình cảm của người chơi nhạc
    biểu lộ qua cung đàn, điệu sáo, nhưng mỗi ngón đàn nhạc lại nói lên một
    cách tâm hồn của người chơi cũng như diễn tả lại một tính tình khác nhau?
    Có tiếng đàn gảy lên những khúc hùng tráng mạnh mẽ, có tiếng đàn tạo nên
    những điệu êm đềm mơ mộng nhẹ nhàng. Có người chỉ giỏi về một cây đàn,
    có người tài nghệ có thể diễn hiển trên đôi ba nhạc khí.
    Nhạc khí của ta rất nhiều từ đàn đến sáo, từ sáo đến nhị - ở đây tôi không nói
    đến những loại thanh la, nạo bạt, chuông, trống, chiêng, khánh, thường chỉ
    được sử dụng trong những cuộc tế lễ.
    Dưới đây xin nói qua về mấy nhạc khí chính tôi được biết hoặc qua sách vở
    hoặc được thấy bạn bè đã từng dùng trong những buổi hòa nhạc.

    Các loại đàn
    Ta chơi nhiều loại đàn, có thứ hoàn toàn Việt Nam, có thứ do nước ngoài du
    nhập vào.
    ĐÀN BẦU - Cây đàn hoàn toàn Việt Nam, nặng tính chất Việt Nam nhất
    phải kể đến cây đàn bầu. Đàn bầu được chế hóa một cách hết sức giản dị, và
    chỉ có một dây, do đó đàn còn có tên độc huyền cầm.
    Dây đàn căng thẳng trên trống đàn, một đầu dây buộc chặt vào trống
    đàn, còn một đầu buộc vào cây trụ bằng tre. Cây trụ dùng để nhấn âm
    thanh khi nhạc sĩ gảy đàn. Đàn không ngựa, không phím, và trên mặt
    trống đàn chỉ có ba vạch trắng, chia đàn làm bốn cung thay vì năm
    cung như các đàn khác. Các nhạc sĩ thành thạo, không cần đến các
    vạch trắng, họ đã hiểu cung nào ở chỗ nào.
    Trống đàn làm bằng một thứ gỗ đục rỗng thường cỡ 1.20m x 0.12m x
    0.16m.
    Tuy đàn chỉ có bốn cung, nhưng mỗi cung có thể tạo ra rất nhiều âm
    thanh và tiếng đàn nghe tha thiết buồn buồn , một thứ buồn êm ái

    quyến rũ, đôi khi đến não nùng để thấm lặng vào tâm hồn con người.
    Người xưa cho những bản nhạc của đàn bầu là tục nhạc, là dâm thanh
    vì tiếng đàn dễ gợi u hoài và tạo niềm sầu cảm.
    Ca dao có câu: Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu.
    Đàn bà con gái bị cấm nghe đàn bầu chính vì sức quyến rũ của những
    bản đàn.
    Những lúc đêm khuya thanh vắng, tiếng đàn như rót vào tâm hồn con
    người và có một sức khêu gợi mãnh liệt, người có tâm sự buồn nghe
    càng buồn thấm thía, trách chi những thiếu phụ, nữ lang sống cô độc
    trong khuê phòng làm sao tránh khỏi ảnh hưởng của âm thanh sầu man
    má...
     
    Gửi ý kiến