Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Cú huých - Cuốn sách tạo lên sự khác biệt

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 16h:55' 18-03-2024
    Dung lượng: 1.5 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    GIỚI THIỆU
    PHẦN I CON NGƯỜI VÀ ECON
    Chương 2 CHỐNG LẠI CÁM DỖ
    Chương 3 TÂM LÝ BẦY ĐÀN
    Chương 4 KHI NÀO CHÚNG TA CẦN MỘT CÚ HÍCH?
    Chương 5 KIẾN TRÚC LỰA CHỌN
    PHẦN II TIỀN BẠC
    Chương 7 ĐẦU TƯ CHẤT PHÁC
    PHẦN III SỨC KHỎE
    Chương 9 CÁCH NÀO ĐỂ TĂNG SỐ LƯỢNG NGƯỜI HIẾN
    TẠNG?
    Chương 10 HÃY CỨU LẤY HÀNH TINH CHÚNG TA!
    PHẦN IV QUYỀN TỰ DO
    Chương 12 NÊN CHĂNG BUỘC BỆNH NHÂN MUA VÉ SỐ?
    PHẦN V SỰ MỞ RỘNG VÀ NHỮNG Ý KIẾN TRÁI CHIỀU
    Chương 14 NHỮNG Ý KIẾN TRÁI CHIỀU
    Chương 15 LỰA CHỌN TỐI ƯU

    GIỚI THIỆU
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Quán ăn tự phục vụ
    Carolyn là giám đốc của một công ty chuyên cung cấp thực phẩm
    cho một chuỗi trường học tại một thành phố lớn. Cô chịu trách
    nhiệm cung cấp thức ăn tại hàng trăm ngôi trường với hàng ngàn cô
    cậu học trò nhỏ ăn uống trong các tiệm ăn của cô mỗi ngày. Carolyn
    thường xuyên tổ chức những buổi huấn luyện về kiến thức dinh
    dưỡng (cô có bằng thạc sĩ của một trường đại học công lập) cho nhân
    viên của mình. Cô thuộc loại người năng động sáng tạo và thích nghĩ
    về mọi thứ theo phong cách phi truyền thống.
    Một buổi chiều nọ, bên chai rượu vang hảo hạng, cô và anh bạn
    Adam, một nhà tư vấn quản trị định hướng thống kê bỗng nảy ra một
    ý tưởng mới lạ: Không cần thay đổi thực đơn hàng ngày, liệu bọn trẻ
    trong các trường học mà cô phục vụ có bị tác động và thay đổi quyết
    định chọn món ăn qua cách trưng bày hay không? Rồi cô chọn một số
    trường làm thí nghiệm. Nơi thì cô bày món tráng miệng ra trước các
    món chính, nơi lại dọn ra cuối cùng, có nơi lại xếp thành một dãy
    riêng. Vị trí bày các món ăn cũng khác nhau giữa các trường: nơi thì
    món khoai tây chiên được bày ở đầu bàn, nơi thì những thanh cà-rốt
    được trưng bày trước và ngang tầm mắt của các em.
    Qua kinh nghiệm thiết kế trưng bày sản phẩm cho các siêu thị,
    Adam cho rằng kết quả thu được sẽ rất ngoạn mục. Và anh đã đúng.
    Chỉ đơn giản thiết kế lại tiệm ăn, Carolyn có thể làm tăng hoặc giảm
    số lượng thức ăn bán ra đến 25%! Từ đó, cô rút ra được bài học lớn:
    học sinh tiểu học, cũng giống như người lớn, có thể bị tác động lớn
    bởi những thay đổi nhỏ của hoàn cảnh. Sự ảnh hưởng đó có thể tốt
    hoặc xấu. Chẳng hạn, Carolyn biết rõ cô có thể tăng lượng tiêu thụ các
    loại thức ăn có lợi cho sức khỏe và giảm những món không tốt cho
    sức khỏe.
    Giờ đây, Carolyn tin rằng cô đang nắm trong tay một “quyền lực”

    lớn để tác động đến những thứ mà bọn trẻ ăn hàng ngày. Carolyn
    đang cân nhắc về những việc cô có thể làm với quyền lực mới này.
    Dưới đây là một vài đề nghị từ phía bạn bè và cả những người làm
    việc cùng cô:
    1. Bày các món ăn sao cho học sinh được hưởng lợi ích cao nhất.
    2. Giúp việc chọn thức ăn được thực hiện một cách ngẫu nhiên.
    3. Cố sắp xếp các món ăn theo đúng cách bọn trẻ tự chọn khi
    không có sự can thiệp nào.
    4. Tối đa hóa doanh số bán hàng đối với các nhà cung cấp muốn
    đề nghị những khoản hoa hồng cao nhất.
    5. Tối đa hóa lợi nhuận, và chấm hết.
    Phương án 1 rõ ràng hấp dẫn, nhưng có phần áp đặt, thậm chí
    mang tính gia trưởng. Phương án 2 có thể xem là công bằng, hợp lý
    và trung lập. Phương án 3 dường như là một nỗ lực đáng khen khi cố
    tránh lối tiếp cận áp đặt: bắt chước cách chọn món ăn của bọn trẻ.
    Nếu chịu khó suy nghĩ một chút thì phương án này cũng không dễ
    thực hiện, vì theo Adam, bọn trẻ chọn món ăn theo thứ tự trưng bày.
    Vậy đâu là tiêu chí lựa chọn của các học sinh tiểu học? Liệu có ý nghĩa
    gì không khi nói rằng Carolyn phải tìm hiểu trước xem bọn trẻ
    thường chọn những gì? Ngoài ra, trong một tiệm ăn tự phục vụ,
    chúng ta không thể tránh một số kiểu trưng bày nào đó.
    Phương án 4 có thể thu hút sự chú ý của những người thích lợi
    dụng công việc của Carolyn và dùng mánh khóe để đảo lộn thứ tự các
    món ăn nhằm đạt mục tiêu kinh tế. Nhưng Carolyn là người uy tín và
    trung thực nên cô không để ý đến phương án này. Cuối cùng, phương
    án 5, giống phương án 2 và 3, cho thấy có sức hấp dẫn riêng của nó,
    đặc biệt nếu Carolyn nghĩ rằng một tiệm ăn hiệu quả nhất là tiệm làm
    ra nhiều tiền nhất. Nhưng Carolyn có thật sự muốn tối đa hóa lợi
    nhuận, trong khi lại làm cho sức khỏe của các em học sinh sút kém đi
    bởi những loại thực phẩm không lành mạnh?
    Carolyn là người mà chúng tôi gọi là nhà kiến trúc lựa chọn. Công
    việc của nhà kiến trúc lựa chọn là thiết lập các phạm vi hay hành lang
    để người khác ra quyết định. Ở góc độ này, hầu như tất cả chúng ta

    đều là những nhà kiến trúc lựa chọn, nhưng đa phần chúng ta không
    nhận ra điều đó. Nếu bạn là bác sĩ và bạn phải mô tả các phương án
    điều trị khác nhau cho một bệnh nhân, khi đó bạn đã là một nhà kiến
    trúc lựa chọn rồi đó. Nếu bạn thiết kế một biểu mẫu để nhân viên của
    bạn đánh dấu chọn phương án tiết kiệm hưu bổng hay bảo hiểm y tế,
    bạn là nhà kiến trúc lựa chọn. Nếu bạn là một bậc phụ huynh đang
    trao đổi với con cái các phương án chọn trường, bạn là nhà kiến trúc
    lựa chọn. Nếu bạn là người bán hàng, bạn đương nhiên là một nhà
    kiến trúc lựa chọn.
    Có những điểm tương đồng giữa kiến trúc lựa chọn và các hình
    thức truyền thống hơn của kiến trúc. Một trong những điểm tương
    đồng đó là không có cái gọi là “trung lập” trong kiến trúc. Ví dụ, một
    kiến trúc sư được mời thiết kế một tòa nhà để làm học viện với 120
    phòng làm việc, 12 phòng họp nhỏ, 8 giảng đường… tại một địa điểm
    cho trước, cùng với hàng trăm quy tắc về chuẩn xây dựng, thẩm mỹ
    và tính tiện dụng. Sau khi tập hợp đủ thông tin, vị kiến trúc sư nọ sẽ
    trình bản vẽ tòa nhà với đầy đủ cửa chính, cửa sổ, cầu thang, hành
    lang, phòng vệ sinh… Một kiến trúc sư giỏi sẽ biết rõ phòng nào đặt ở
    đâu để tạo phong thủy tốt nhất cho tòa nhà, cũng như những người
    sử dụng nó. Một tòa nhà đẹp không chỉ đạt các yêu cầu về thẩm mỹ,
    mà còn đạt cả yêu cầu về công năng.
    Như chúng ta sẽ nhìn thấy, những chi tiết nhỏ và dường như
    không đáng kể lại có tác động lớn đến sự lựa chọn của con người. Quy
    tắc phổ quát là “mọi thứ đều có nguyên do hay duyên cớ của nó”.
    Trong nhiều trường hợp, sức mạnh của những chi tiết nhỏ lại xuất
    phát từ sự tập trung chú ý của người sử dụng theo các hướng dẫn cụ
    thể. Hệ thống phòng vệ sinh dành cho quý ông ở Phi trường Schiphol,
    Amsterdam, Hà Lan, là một ví dụ tiêu biểu. Ở đó, người ta cho khắc
    hình một con ruồi đen vào từng bồn tiểu. Dường như các ông thường
    không chú ý lắm mỗi khi sử dụng phòng vệ sinh nên các bồn tiểu
    thường khá dơ bẩn. Nhưng nếu nhìn thấy “mục tiêu” thì họ sẽ chú ý
    hơn và hành động chính xác hơn nhiều. Theo Aad Kieboom, nhà kinh
    tế học, người đề ra ý tưởng này, kết quả thật là kỳ diệu. “Nếu các quý
    ông nhìn thấy con ruồi, họ sẽ “nhắm” thẳng vào nó!”. Các cộng sự của
    Kieboom đã tiến hành nhiều thí nghiệm tương tự và khám phá ra
    rằng lượng nước tiểu vương vãi ra ngoài giảm đến 80%!
    Sự hiểu biết sâu sắc rằng “mọi thứ đều có nguyên do của nó” vừa
    làm ta lạnh cả người, vừa làm ta nhận ra được một quyền năng tiềm

    ẩn lớn lao. Những kiến trúc sư giỏi đều biết rằng họ có thể không
    thiết kế được những tòa nhà hoàn hảo, nhưng họ có thể tạo ra những
    lựa chọn mang lại lợi ích cho người sử dụng. Chẳng hạn, các chiếu
    nghỉ giữa cầu thang giúp người ta có cơ hội dừng lại nghỉ chân và trò
    chuyện với nhau - cả hai mục đích này đều rất được hoan nghênh. Và
    giống hệt như các nhà kiến trúc xây dựng với những công trình cụ
    thể, Carolyn cũng có những cách trưng bày món ăn đặc biệt sao cho
    các học sinh nhỏ tuổi của chúng ta có sự lựa chọn tốt nhất cho sức
    khỏe của chúng. Chúng ta nói rằng Carolyn đã tác động đến hành vi
    lựa chọn của học sinh. Cô đã hích vào các em.

    Chủ nghĩa gia trưởng tự do(1)
    Nếu mọi thứ đều có ý nghĩa riêng của nó thì bạn có nghĩ rằng
    Carolyn nên tận dụng mọi cơ hội để hích các em học sinh lựa chọn
    những món ăn có lợi cho chúng không? Nếu bạn chọn Phương án 1,
    chúc mừng bạn đã đến với một khái niệm mới: Chủ nghĩa gia trưởng
    tự do.
    Chúng tôi rất ý thức rằng thuật ngữ này sẽ không được bạn đọc
    đón nhận ngay vì dường như hai từ này khi kết hợp với nhau lại gây
    ra một sự mâu thuẫn: gia trưởng nhưng tự do. Tuy nhiên, chúng tôi
    cho rằng nếu được hiểu đúng, khái niệm này sẽ phản ánh một cách
    chính xác những hiểu biết chung nhất của con người, và từ ghép này
    có sức hấp dẫn lớn hơn nhiều so với khi các thành phần của chúng
    đứng riêng lẻ. Có lẽ rắc rối duy nhất mà thuật ngữ này gặp phải là nó
    bị những kẻ giáo điều “làm khó”!
    Nghĩa tự do trong khái niệm mới của chúng ta nằm ở sự khẳng
    định rằng con người phải được tự do làm điều họ muốn và tự do từ
    chối những thứ họ không muốn. Ở đây, chúng tôi xin mượn lời của
    nhà kinh tế học vĩ đại Milton Friedman (1912 – 2006) để nói rằng
    những người theo chủ nghĩa gia trưởng tự do luôn kêu gọi trao quyền
    tự do lựa chọn cho con người. Chúng tôi cố gắng thiết kế các chính
    sách có khả năng duy trì hoặc tăng cường quyền tự do lựa chọn cho
    mọi người. Khi sử dụng từ tự do để bổ nghĩa cho chủ nghĩa gia
    trưởng, chúng tôi chỉ đơn giản muốn đề cập đến vấn đề giữ gìn quyền
    tự do, và chúng tôi thực sự đã làm điều đó. Những người theo chủ
    nghĩa gia trưởng tự do luôn muốn tạo điều kiện dễ dàng hơn cho

    người khác thực hiện những gì họ muốn theo cách của họ, cũng như
    không bao giờ gây trở ngại đối với những người muốn thực hiện
    quyền tự do của mình.
    Chủ nghĩa gia trưởng nói rằng việc các nhà kiến trúc lựa chọn tác
    động đến hành vi của người khác để họ có thể sống thọ hơn, lành
    mạnh hơn và giàu có hơn là hoàn toàn hợp pháp. Theo chúng tôi, một
    chính sách được gọi là “có tính gia trưởng” nếu nó tác động đến quyết
    định của người lựa chọn nhằm giúp họ (hay cuộc sống của họ) trở
    nên tốt đẹp hơn, theo cách họ tự phán đoán. Xem xét kết quả từ
    nhiều cuộc nghiên cứu khoa học, chúng tôi nhận thấy cá nhân mỗi
    con người thường có những quyết định kém cỏi - những quyết định
    mà họ sẽ không bao giờ làm nếu họ thực sự chú ý và nắm trong tay
    đầy đủ thông tin.
    Chủ nghĩa gia trưởng tự do là một hình thái khác tương đối
    mềm dẻo và không xâm phạm. Nó thuộc chủ nghĩa gia trưởng vì các
    lựa chọn không bị ngăn cản, che chắn hoặc tạo thành gánh nặng. Nếu
    ai đó thích hút thuốc, ăn kẹo hay chọn một gói bảo hiểm sức khỏe
    không phù hợp với họ thì các nhà chủ nghĩa gia trưởng tự do cũng
    không bắt họ phải làm ngược lại.
    Cú hích, như các bạn sẽ thấy chúng tôi sử dụng thường xuyên
    trong suốt quyển sách này, là bất kỳ phương diện nào của kiến trúc
    lựa chọn có thể thay đổi hành vi con người nhưng không thay đổi sâu
    sắc các lợi ích kinh tế của họ. Để được xem là một cú hích, sự can
    thiệp phải dễ thực hiện và không tốn kém. Cú hích không mang tính
    ép buộc. Đặt trái cây ngang tầm mắt bọn trẻ là một cú hích, nhưng
    cấm ăn quà vặt chắc chắn không phải là một cú hích.

    Con người và Econ: Tại sao những cú
    hích có thể mang lại lợi ích?
    Những người phản đối chủ nghĩa gia trưởng cho rằng con người
    luôn thực hiện xuất sắc các lựa chọn của mình, hoặc nếu không muốn
    nói xuất sắc thì họ cũng làm điều đó tốt hơn bất cứ sinh vật nào khác.
    Không rõ họ đã từng nghiên cứu về kinh tế học hay chưa, nhưng
    nhiều người dường như cứ bám vào ý nghĩ về homo economicus, hay

    con người kinh tế - một khái niệm mà từng người trong chúng ta
    thường nghĩ và chọn đúng như thế, và thế là nó phù hợp với hình ảnh
    giáo khoa của con người được các nhà kinh tế học định nghĩa.
    Nếu bạn đọc các sách giáo khoa về kinh tế học, bạn sẽ thấy con
    người kinh tế có cách tư duy giống như Einstein, có khả năng lưu trữ
    thông tin như máy chủ Big Blue của IBM và thể hiện sức mạnh ý chí
    của họ như Mahatma Gandhi. Nhưng con người chúng tôi đề cập ở
    đây không phải thế. Con người của chúng tôi hay bị bối rối trước một
    phép chia có nhiều chữ số, nếu lúc đó họ không có một cái máy tính
    cầm tay, đôi khi họ còn quên cả ngày sinh của vợ/chồng mình và
    thường say túy lúy vào ngày đầu năm mới. Họ không phải là homo
    economicus - con người kinh tế, mà họ là homo sapiens - con người
    tiến hóa, hay con người thông minh. Để việc sử dụng các từ La-tinh ở
    mức ngắn gọn tối thiểu, từ đây chúng ta thống nhất gọi hai đối tượng
    nghiên cứu ảo và thật này là Econ và Con người.
    Nguồn thông tin cơ bản của chúng ta ở đây chính là khoa học về
    sự lựa chọn, bao gồm những nghiên cứu thận trọng của các nhà khoa
    học xã hội trong hơn bốn thập kỷ vừa qua. Những nghiên cứu đó đã
    nêu lên nhiều vấn đề nghiêm trọng về tính hợp lý của rất nhiều kiểu
    phán đoán và quyết định mà con người thực hiện hàng ngày. Để được
    xem là Econ, con người không cần phải đưa ra những nhận định hoàn
    hảo (điều này đòi hỏi sự toàn tri(2)), nhưng họ cần đưa ra những ước
    đoán không định kiến. Có nghĩa là, ước đoán có thể sai, nhưng họ
    không thể sai một cách có hệ thống theo một chiều hướng có thể dự
    đoán được. Không như Econ, Con người, như bạn có thể đoán ra,
    thường phạm sai lầm. Ví dụ, “ảo tưởng hoạch định” tức là khuynh
    hướng lạc quan phi thực tế về thời gian cần thiết để hoàn thành một
    dự án nào đó. Những ai từng thuê nhà thầu phụ đều có trải nghiệm
    này: Mọi việc đều kéo dài hơn dự định ban đầu, dù rằng họ đã dự trù
    trước vấn đề vỡ kế hoạch.
    Hàng trăm công trình nghiên cứu đã xác nhận rằng những dự
    đoán của con người là không hoàn thiện và đầy định kiến. Quá trình
    ra quyết định của họ cũng không hoàn hảo. Một lần nữa hãy xem ví
    dụ về cái được gọi là định kiến nguyên trạng - một tên gọi hoa mỹ cho
    tính ỳ tâm lý của chúng ta. Vì một tá lý do khác nhau, mà chúng ta sắp
    sửa tìm hiểu trong phần sau của quyển sách này, con người có xu
    hướng ngả theo định kiến hay các lựa chọn đã được định sẵn.

    Chẳng hạn, khi mua một chiếc điện thoại mới, bạn sẽ có một
    chuỗi lựa chọn. Chiếc điện thoại càng thời thượng thì bạn càng đối
    mặt với nhiều lựa chọn hơn, từ hình nền cho đến nhạc chuông, rồi số
    lần đổ chuông trước khi chuyển sang tín hiệu hộp thư thoại hay từ
    chối nhận cuộc gọi một cách lịch sự… Trong mỗi lựa chọn như thế,
    nhà sản xuất đều thiết lập một mặc định và thường thì khách hàng
    luôn chọn các mặc định ấy, dù rằng tiếng chuông mặc định có âm độ
    lớn hơn nhiều so với kỳ vọng của bạn.
    Từ đây, có hai bài học được rút ra: Một là đừng bao giờ đánh giá
    thấp sức mạnh của tính ỳ tâm lý. Thứ hai, sức mạnh đó có thể được
    khai thác theo hướng có lợi. Nếu các công ty tư nhân và các định chế
    nhà nước cho rằng một chính sách nào đó mang lại kết quả tốt hơn,
    họ có thể tác động đến kết quả bằng cách thiết lập một mặc định,
    chẳng hạn để những người làm công ăn lương có những lựa chọn tốt
    hơn cho kế hoạch tiết kiệm hưu bổng hay gói bảo hiểm y tế của họ, kể
    cả vấn đề hiến tạng và cấy ghép nội tạng đang trong tình trạng đầy
    tranh cãi hiện nay.
    Kết quả của những phương án mặc định được cân nhắc kỹ lưỡng
    chỉ là một minh họa cho quyền lực nhẹ nhàng của những cú hích.
    Theo định nghĩa của chúng tôi, cú hích là bất cứ nhân tố nào làm thay
    đổi một cách có ý nghĩa hành vi của Con người, dù có thể bị các Econ
    bỏ qua. Econ hành động theo lợi ích kinh tế. Với họ, nếu chính phủ
    tăng thuế bánh kẹo thì họ sẽ mua ít bánh kẹo đi, chứ họ không bị chi
    phối bởi thứ tự các mặc định được thiết kế trong kiến trúc lựa chọn.
    Con người cũng bị tác động bởi lợi ích kinh tế, nhưng họ lại bị chi
    phối bởi cả những cú hích. Vậy, bằng cách áp dụng cả lợi ích kinh tế
    và những cú hích, chúng ta có thể cải thiện khả năng thay đổi cuộc
    sống của con người và góp phần giải quyết nhiều vấn đề lớn của xã
    hội. Và điều quan trọng là chúng ta có thể làm điều đó trong khi vẫn
    bảo đảm được quyền tự do lựa chọn của mọi người.

    Một giả thiết sai và hai khái niệm nhầm
    lẫn
    Rất nhiều người bảo vệ quyền tự do lựa chọn phản đối gay gắt
    mọi hình thức của chủ nghĩa gia trưởng. Họ muốn nhà nước phải

    trao cho công dân quyền tự do lựa chọn tuyệt đối. Một chính sách tiêu
    chuẩn phải cung cấp đủ số lượng lựa chọn như có thể và tạo điều kiện
    để người dân chọn phương án họ cho là tốt nhất. Ý nghĩa tốt đẹp của
    cách nghĩ này là đưa ra một giải pháp đơn giản trước nhiều vấn đề
    phức tạp: TỐI ĐA HÓA (số lượng phương án khác nhau) CÁC LỰA
    CHỌN. Chấm hết! Trong nhiều lĩnh vực, tối đa hóa lựa chọn trở
    thành một câu thần chú trong hoạch định chính sách. Đôi khi phương
    án thay thế duy nhất cho câu thần chú này là một quy định bắt buộc
    của chính phủ vốn có nguồn gốc từ câu "Một Cỡ Cho Mọi Người”(3).
    Những người ủng hộ tối đa hóa các lựa chọn không nhận ra có một
    khoảng cách lớn giữa chính sách của họ và quy định bắt buộc của nhà
    nước. Họ phản đối chủ nghĩa gia trưởng và họ hoài nghi sức mạnh
    của những cú hích. Chúng tôi tin rằng sự ngờ vực của họ đã dựa vào
    một giả thiết sai và hai khái niệm nhầm lẫn.
    Giả thiết sai là nói rằng hầu hết mọi người, hầu như mọi lúc, đều
    có những lựa chọn phù hợp nhất với lợi ích của họ, hoặc chí it cũng
    tốt hơn lựa chọn của những người khác. Chúng tôi khẳng định giả
    thiết này là sai, thực ra, phải nói là hiển nhiên sai.
    Giả sử có một người mới biết chơi cờ và anh ta đấu với một tay
    cờ lão luyện. Chắc chắn là người mới biết chơi sẽ thua ngay vì những
    nước đi (lựa chọn) hạ sách của mình. Trong nhiều lĩnh vực, đa phần
    khách hàng là những “tay cờ non nớt”, nhưng lại phải đương đầu với
    những bộ óc chuyên nghiệp trong việc thiết kế sản phẩm và bán hàng.
    Việc khách hàng lựa chọn tốt, xấu thế nào là vấn đề thuộc về kinh
    nghiệm. Nhưng có thể nói rằng người ta sẽ có những lựa chọn xuất
    sắc trong những lĩnh vực mà họ có kinh nghiệm, có đầy đủ thông tin
    và nhận được những phản hồi kịp thời. Như khi chọn hương vị kem
    chẳng hạn. Người ta luôn biết mình thích kem sô- cô-la, va-ni, cà-phê
    hay cam thảo… Ngược lại, họ sẽ chọn kém hơn trong những lĩnh vực
    họ không có kinh nghiệm, không có thông tin đầy đủ và chỉ nhận
    được những phản hồi chậm chạp hoặc không thường xuyên, chẳng
    hạn khi chọn giữa trái cây và kem, giữa gói bảo hiểm y tế phù hợp hay
    một danh mục đầu tư đa dạng và hiệu quả... Nếu bạn được trao cho
    50 phương án điều trị khác nhau, bạn sẽ chọn phương án nào? Vì
    vậy, cho tới khi nào con người còn không có những lựa chọn hoàn
    hảo thì một vài thay đổi trong kiến trúc lựa chọn còn có thể làm cho
    cuộc sống của họ trở nên tốt đẹp hơn.
    Tiếp theo, khái niệm nhầm lẫn đầu tiên là ý kiến cho rằng có thể

    tránh được việc gây ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người khác.
    Trong nhiều tình huống, một tổ chức hay một người nào đó phải có
    một lựa chọn làm ảnh hưởng đến hành vi của người khác. Có nghĩa là
    không thể tránh việc hích vào họ từ một hướng nào đó, và bất kể có
    chủ đích hay không, những cú hích như thế chắc chắn sẽ tác động đến
    những gì họ lựa chọn. Một số cú hích không chủ đích nhưng lại cho
    những kết quả đáng ngạc nhiên. Ví dụ, các chủ công ty có thể quyết
    định trả lương hàng tháng hay mỗi hai tuần mà không có ý định tạo
    ra một cú hích nào, nhưng họ rất ngạc nhiên khi biết rằng nhân viên
    sẽ tiết kiệm được nhiều hơn, nếu họ được nhận lương mỗi hai tuần,
    vì sẽ có hai lần trong năm họ sẽ được nhận lương ba lần trong một
    tháng!
    Khái niệm nhầm lẫn thứ hai là chủ nghĩa gia trưởng luôn gắn liền
    với sự ép buộc. Trong ví dụ về tiệm ăn ở trên, việc lựa chọn thứ tự sắp
    xếp các món ăn không hề ép một học sinh bất kỳ phải nhận một khẩu
    phần cụ thể nào cả. Liệu có người nào phản đối việc bày trái cây và
    rau trộn trước món tráng miệng nhằm khuyến khích bọn trẻ ăn nhiều
    táo hơn và ăn ít bánh ngọt hơn? Câu hỏi này có gì khác không, nếu
    đối tượng là những học sinh lớn tuổi hơn, các em thiếu niên, thậm
    chí cả người lớn? Bởi không có sự cưỡng ép nào ở đây nên chúng tôi
    nghĩ rằng một vài hình thức của chủ nghĩa gia trưởng là có thể chấp
    nhận được, ngay cả đối với những người trung thành nhất với quyền
    tự do lựa chọn.
    Trong các lĩnh vực khác nhau như tiết kiệm, hiến tạng, và chăm
    sóc sức khỏe, chúng tôi sẽ đưa ra một số đề nghị cụ thể nhằm bám sát
    phương pháp chung của mình. Do các lựa chọn hoàn toàn không bị
    hạn chế, nên nguy cơ từ những thiết kế vớ vẩn hay sai lầm sẽ được
    giảm thiểu.
    Quyền tự do lựa chọn chính là lá chắn bảo vệ tốt nhất trước
    những kiến trúc lựa chọn tồi.

    Thực hành kiến trúc lựa chọn
    Các nhà kiến trúc lựa chọn có thể cải thiện đáng kể cuộc sống con
    người bằng cách thiết kế những môi trường thân thiện với người
    dùng. Nhiều công ty thành công thường giúp đỡ người khác, hoặc

    chính họ thành công trên thương trường là nhờ lý do này. Đôi khi
    kiến trúc lựa chọn rất dễ nhìn thấy và cả người chủ lẫn người tiêu
    dùng đều hài lòng với kiến trúc đó. (iPod và iPhone là những ví dụ
    điển hình, không chỉ vì chúng được thiết kế tao nhã, mà còn có những
    tính năng rất dễ sử dụng và thân thiện với người dùng). Cũng có lúc
    kiến trúc lựa chọn tự nhiên xuất hiện và có thể hưởng lợi từ sự chú ý
    cẩn thận.
    Lấy ví dụ ngay chính trường Đại học Chicago của chúng tôi. Như
    nhiều nhà sử dụng lao động quy mô lớn khác, trường chúng tôi thực
    hiện một chương trình tiết kiệm hưu bổng và bảo hiểm y tế “đăng ký
    mở” vào tháng 11 hàng năm, khi đó nhân viên có quyền thay đổi các
    lựa chọn của họ và đăng ký lại. Toàn thể nhân viên được yêu cầu đăng
    ký trực tuyến trên trang web của trường. Tuy nhiên, họ cũng nhận
    được thư giới thiệu về chương trình và thư nhắc nhở được gửi qua
    đường bưu điện và qua email.
    Vì nhân viên cũng là con người nên một số trong họ quên đăng
    nhập vào mạng để đăng ký lại. Vì thế, cần phải quyết định một
    phương án mặc định cho những người bận rộn và hay quên. Để đơn
    giản, giả sử có hai phương án có thể thay thế nhau: một mặc định là
    “không thay đổi” và mặc định kia là “thay đổi”. Nhà kiến trúc lựa chọn
    sẽ quyết định như thế nào?
    Giả sử Janet có khoản đóng góp vào quỹ tiết kiệm lương hưu năm
    trước là 1.000 đô-la và cô có hai lựa chọn trong năm nay: hoặc tiếp
    tục đóng 1.000 đô-la như năm ngoái, hoặc không đóng đồng nào cả.
    Những người theo chủ nghĩa gia trưởng tự do sẽ thiết lập mặc định
    bằng cách hỏi Janet xem cô thích chọn phương án nào. Dù cách này
    không phải lúc nào cũng dẫn đến một lựa chọn rõ ràng, nhưng nó
    chắc chắn tốt hơn việc chọn một mặc định ngẫu nhiên, hay nói cách
    khác tạo một mặc định “nguyên trạng” hay “trở về số 0” cho tất cả
    mọi thứ.
    Chúng tôi từng có một cuộc họp với ba đại diện cao nhất của các
    phòng ban có liên quan trong trường để bàn về vấn đề thiết lập các
    mặc định. Vô tình hôm ấy là ngày cuối của thời hạn đăng ký lại theo
    chương trình mở đã nói ở trên. Tôi đã hỏi các vị đại diện xem họ có
    nhắc nhở nhân viên của mình về hạn chót này hay không. Một người
    đáp anh ta sẽ làm chuyện này ngay sau cuộc họp và bảo anh ta rất vui
    vì được nhắc nhở. Một người khác nói rằng anh ta hoàn toàn quên

    bẵng vụ này và người thứ ba trả lời anh ta hy vọng vợ mình đã gửi
    thông báo nhắc nhở đến nhân viên! Trở lại vấn đề lập mặc định.
    Đầu tiên, chúng tôi chọn mặc định “trở về số không”, tuy nhiên
    nghĩ lại chúng tôi nhận thấy các khoản đóng góp vào chương trình có
    thể dừng lại bất cứ lúc nào nên cuối cùng chúng tôi thống nhất tốt
    hơn hết là chuyển sang mặc định nguyên trạng “giống như năm
    trước”. Chúng tôi tự tin rằng nhiều vị giáo sư đãng trí sẽ được hưởng
    một quỹ hưu bổng cá nhân thoải mái hơn với mặc định này.
    Ví dụ trên minh họa cho các nguyên tắc cơ bản của một kiến trúc
    lựa chọn tốt. Người lựa chọn là con người, vì vậy, các nhà thiết kế nên
    làm sao để cuộc sống càng dễ dàng càng tốt. Gửi thông báo nhắc nhở
    và sau đó cố gắng tối thiểu hóa chi phí đối với những người vẫn chọn
    quyết định thoát ra khỏi chương trình bất chấp nỗ lực kêu gọi của bạn
    (và của họ). Rồi bạn sẽ thấy những nguyên tắc này (cùng nhiều
    nguyên tắc khác nữa) có thể được áp dụng trong cả khu vực tư nhân
    lẫn nhà nước, và còn rất nhiều điều có thể làm ngoài những gì đang
    được thực hiện hôm nay.

    Mời bạn nhìn hai chiếc bàn trong hình dưới đây:

    Hình 1.1 – Hai cái bàn (phỏng theo Shepard, 1990)

    Giả sử bạn đang tìm một cái bàn thích hợp hơn để làm bàn uống
    trà trong phòng khách nhà bạn, bạn sẽ nói gì về kích thước của hai cái
    bàn này? Bạn thử đoán tỉ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của từng cái
    bàn xem sao. Hãy sử dụng đôi mắt tinh tường của bạn!
    Nếu bạn giống như đa số người khác thì bạn sẽ nói rằng bàn bên
    trái dài hơn nhiều so với bàn bên phải. Và, tỉ lệ giữa chiều dài so với
    chiều rộng của bàn bên trái vào khoảng 3:1, trong khi bàn bên phải là
    1,5:1. Nào, mời bạn lấy thước ra và đo thử từng cái bàn. Bạn thấy thế
    nào? Kích thước hai mặt bàn là giống hệt nhau. Hãy đo lại, nếu bạn

    muốn, cho đến khi bạn hoàn toàn bị thuyết phục, bởi đây là một ví dụ
    về việc “thấy mà không tin”. Khi Thaler đưa ra ví dụ này cho Sunstein
    vào một bữa ăn trưa chỉ có hai người, Sunstein, lúc đó có lẽ cũng có ý
    nghĩ giống bạn, đã vơ ngay một chiếc đũa để đo!
    Chúng ta có thể kết luận gì qua bài trắc nghiệm này? Nếu bạn
    “thấy” bàn bên trái dài hơn và hẹp hơn bàn bên phải, bạn chắc chắn là
    một người bình thường. Bạn không có gì sai cả (vâng, ngoại trừ điều
    chúng ta vừa khám phá ở trên). Tuy nhiên, phán đoán của bạn rõ
    ràng đầy định kiến, nhưng có thể hiểu được. Không ai nói rằng bàn
    bên phải hẹp hơn cả! Không những bạn đã nhận định sai, mà bạn còn
    tự tin nói rằng mình đúng. Nếu muốn, bạn có thể kiểm chứng điều
    này với những người bình thường khác, hoặc thậm chí lấy ví dụ này
    ra mà cá cược với những người có máu cờ bạc trong một quán rượu
    nào đó.

    Hình 1.2 – Mặt bàn (phỏng theo Shepard, 1990)

    Bây giờ bạn hãy nhìn vào Hình 1.2. Hai hình này giống hay khác
    nhau? Một lần nữa, nếu bạn là người bình thường và có thị lực bình
    thường, bạn sẽ nói hai hình này giống nhau như hai giọt nước. Thực
    ra chúng là hai mặt bàn được lấy ra từ Hình 1.1. Chính những cái
    chân bàn và cách đặt bàn làm cho chúng ta có cảm giác hai mặt bàn
    khác nhau. Như vậy, việc bỏ bớt những chi tiết “đánh lừa” thị giác sẽ
    mang lại ước đoán chính xác cho chúng ta.
    Hai hình này cho thấy sự thấu hiểu sâu sắc mà các nhà kinh tế học
    hành vi vay mượn từ các nhà tâm lý học. Thông thường, đầu óc con
    người hoạt động rất hiệu quả. Chúng ta có thể nhận ra những người
    quen sau nhiều năm không gặp, hiểu được những cung bậc phức tạp

    của ngôn ngữ và nhắm mắt chạy một mạch xuống cầu thang mà
    không bị ngã. Vài người trong chúng ta có thể nói 12 thứ tiếng, cải
    thiện công suất làm việc của một chiếc máy vi tính hay thậm chí phát
    minh ra cả thuyết tương đối!
    Tuy nhiên, ngay cả Einstein có lẽ cũng bị đánh lừa bởi hai cái bàn
    này. Điều đó không có nghĩa là đầu óc chúng ta đang gặp trục trặc, mà
    chỉ cho thấy sự hiểu biết của chúng ta về hành vi con người có thể
    được cải thiện qua sự đánh giá đúng việc họ thường phạm sai lầm
    một cách hệ thống.
    Để có được nhận thức đó, chúng ta cần có những hiểu biết cơ bản
    về một vài khía cạnh tư duy. Chính sự hiểu biết về cơ chế nhận thức
    hình ảnh của não bộ đã giúp Roger Shepard, một nhà tâm lý học và
    họa sĩ, vẽ ra những cái bàn đánh lừa thị giác nói trên. Ông có thể vẽ
    những thứ làm cho đầu óc chúng ta lẫn lộn. Vì vậy, hiểu biết về hệ
    thống nhận thức cho phép người khác khai thác những định kiến
    mang nặng tính hệ thống trong cách nghĩ của chúng ta.

    Các cơ chế vận hành của não bộ không hơn sự ngớ ngẩn chút nào
    cả. Tại sao có lúc chúng ta thực hiện một nhiệm vụ vô cùng khó khăn
    một cách hết sức tài tình, trong khi lúc khác đầu óc chúng ta lại quá
    tăm tối đến mụ mẫm? Sau khi bị điếc, Beethoven từng viết Bản Giao
    hưởng số 9 xuất thần đến mức không thể tin được, nhưng chúng ta sẽ
    không ngạc nhiên lắm nếu biết rằng ông thường không nhớ mình đã
    cất chìa khóa nhà ở đâu.
    Tại sao một người vừa thông minh lại vừa ngớ ngẩn? Rất nhiều
    nhà tâm lý học và thần kinh học đã đồng ý với nhau trong việc diễn
    giải chức năng của não bộ, vốn giúp chúng ta lý giải được những
    chuyện dường như hết sức trái ngược này. Đó là sự khác biệt giữa hai
    phương thức tư duy: tư duy trực giác mang tính tự động và tư duy
    phản xạ mang tính lý trí (trong ngành tâm lý học, hai phương thức tư
    duy này đôi khi được gọi là Phương thức I và Phương thức II).
    Những đặc điểm chính của từng phương thức được minh họa qua

    Bảng 1.1.
    Bảng 1.1
    Hai phương thức tư duy
    Tư duy trực giác

    Tư duy phản xạ

    Không kiểm soát

    Không cần cố gắng

    Liên tưởng

    Nhanh Tiềm thức

    Cần có kỹ năng

    Có kiểm soát

    Cần sự nỗ lực

    Suy diễn

    Chậm Tự nhận thức

    Theo quy tắc

    Tư duy trực giác diễn ra rất nhanh, mang tính bản năng và không
    liên quan gì đến điều chúng ta thường nghĩ về tư duy. Khi bạn tránh
    một quả bóng bất ngờ bay thẳng về phía bạn, hay bạn căng thẳng khi
    máy bay của bạn rơi vào vùng áp suất không khí nhiễu động, hoặc bạn
    mỉm cười khi nhìn thấy một chú cún con dễ thương, lúc đó bạn sử
    dụng tư duy trực giác. Các nhà não học nói rằng các hoạt động của tư
    duy trực giác có liên quan đến những vùng có từ rất sớm của não bộ,
    giống những vùng não của loài thằn lằn và chó.
    Tư duy phản xạ, ngược lại, diễn ra từ từ và thể hiện tính tự nhận
    thức. Chúng ta sử dụng tư duy phản xạ trước những câu hỏi như “411
    nhân với 37 bằng bao nhiêu?”. Hầu hết mọi người sử dụng tư duy
    phản xạ khi cân nhắc lộ trình của một chuyến đi, khi họ chọn vào
    trường luật hay trường kinh doanh. Trong khi viết quyển sách này,
    chúng tôi gần như chỉ sử dụng tư duy phản xạ, nhưng thỉnh thoảng
    vẫn có những ý tưởng mới nảy ra trong đầu khi đang tắm dưới vòi
    sen hoặc đang đi dạo, dù lúc đó chúng tôi không hề nghĩ gì tới cuốn
    sách mình đang viết.
    Có lẽ những ý tưởng đó đến từ tư duy trực giác. Nhân đây xin nói
    một chút về vấn đề bầu cử. Các cử tri dường như chỉ dựa vào tư duy
    trực giác khi thực hiện quyền công dân của mình. Vì vậy, các ứng viên
    tạo ấn tượng ban đầu không tốt đẹp hoặc cố thắng được nhiều phiếu
    bằng những luận điểm phức tạp hay các con số rối rắm thường là
    những người thất bại.(4)

    Hầu hết người Mỹ đều có kiểu phản ứng theo tư duy trực giác khi
    đọc nhiệt kế theo độ Fahrenheit (độ F), nhưng lại sử dụng tư duy
    phản xạ khi họ nghe nhiệt độ theo độ Celsius (độ C hay bách phân);
    còn người châu Âu thì ngược lại. Người nói tiếng bản ngữ luôn sử
    dụng tư duy trực giác, nhưng thường chật vật nói một ngôn ngữ khác
    thông qua tư duy phản xạ. Khi bạn nói cùng lúc hai thứ tiếng là bạn
    đang sử dụng tư duy trực giác. Những kỳ thủ xuất sắc và các vận động
    viên chuyên nghiệp là những người có trực giác vô cùng nhạy bén.
    Nói ngắn gọn, tư duy trực giác là phản ứng sâu thẳm (hay linh
    tính, tiềm thức, bạn muốn gọi thế nào cũng được) trong bạn và tư duy
    phản xạ là những suy nghĩ có ý thức của bạn. Những cảm nhận bên
    trong có thể rất chính xác, nhưng chúng ta thường phạm sai lầm vì
    quá tin tưởng vào tư duy trực giác. Tư duy trực giác nói rằng “máy
    bay đang rung lắc, mình sắp chết đến nơi rồi!”, trong khi tư duy phản
    xạ bảo “máy bay là phương tiện vận chuyển rất an toàn!”. Tư duy trực
    giác nói “con chó to lớn ấy định cắn mình”, trong khi tư duy phản xạ
    cho rằng “hầu hết thú cưng đều rất dễ thương!”. ...
     
    Gửi ý kiến