Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1
CHÂM NGÔN HAY
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Dứt tình

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 08h:52' 19-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 08h:52' 19-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
DỨT TÌNH
—★—
Tác giả: Vũ Trọng Phụng
Nhà xuất bản Văn học - 2004
ebook©vctvegroup
06-11-2018
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới Thiệu
Vũ Trọng Phụng là một nhà văn tài năng nhưng bạc mệnh. Ông
xuất hiện trên văn đàn rất sớm (khi mới 18 tuổi), nhưng cũng từ
biệt văn đàn quá sớm (27 tuổi). Chỉ trong 10 năm mang nghiệp
văn chương, nhưng những đóng góp của ông đối với nền văn học
nước nhà quả là lớn lao (Không một tiếng vang - bi kịch 3 hồi,
1931; Cạm bẫy người - phóng sự, 1933; Kỹ nghệ lấy Tây - phóng
sự, 1934; Dứt tình - tiểu thuyết, 1934; Giông tố - truyện dài, 1936;
Số đỏ - tiểu thuyết, 1936; Vỡ đê - tiểu thuyết, 1936; Làm đĩ - tiểu
thuyết, 1936; Dân biểu và dân biểu - phóng sự, 1935; Trúng số độc
đắc - truyện dài, 1938; Một truyện ăn Tết - phóng sự, 1938; Lấy
nhau vì tình, Quý phái, Cơm thầy cơm cô, Giết mẹ, Người tù được
tha - di cảo…)
Là cây bút tiểu thuyết và phóng sự có một phong cách độc đáo,
Vũ Trọng Phụng có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của
văn xuôi Việt Nam hiện đại đương thời. Ông đã làm tròn bổn phận
một người thư ký của thời đại…
Dứt tình là cuốn tiểu thuyết mang tư tưởng định mệnh siêu
hình, được sáng tác năm 1934.
Chương 1
Ánh trời tà đã hết nhuộm vàng bãi bể. Bên trên dãy núi tím,
vàng, xanh, xám mấy màu pha lộn nhau như nét bay miết dài của
nhà họa sĩ, mây lồng thành hình vạn vật, cỏ cây. Giữa khoảng vô
cùng, đó là một đàn voi… dần dần dồn nhau lên một cái cánh
phượng, rồi, sau hết, lại bị gió dãi ra tản mạn thành chỗ này thì eo
bể, vịnh, bán đảo, chỗ kia, cù lao, sông, núi - một bức địa đồ!
Bức tranh vân cẩu tuy lạ mắt nhưng không để cho người có đủ
thời giờ ngắm nghía, cứ thay đổi hoài, vì từ phía bể, gió đã bắt đầu
rít lên. Thoạt đầu, chân trời chỉ thấy chấm đen. Mới một lúc đã
không biết bao nhiêu là mây đen ở đâu kéo về, nhanh chóng lạ
thường, hình như ở bể đùn lên nặng nề bao phủ, đè ép cả mặt đất.
Bể, mới lúc nãy còn lăn tăn sóng gợn, vô nghĩa lý như cô gái buồn
tiu nghỉu thì bây giờ có bộ mặt của một bà mẹ chồng hành nàng
dâu. Những làn sóng rờn nhau, đuổi nhau vào bờ, làm lùi cả bãi
cát, làm những tảng đá như khóc lướt mướt.
Phía kia, tây phương, dãy Núi Đèo, mất mặt trời, mất cả những
áng mây lồng, đã hiện nguyên hình đá đen, cỏ xác, hết khoe
khoang.
Đám người đương nô đùa dưới nước mặn hoặc đương ung dung
dạo chơi trên cát, lúc đó cũng tất tả rủ nhau ra về.
Một vài hạt mưa ném xuống lác đác… vài cơn gió, thế là cả vòm
trời là một thác nước dữ dội.
Đồ Sơn giữa mùa hạ, và buổi bão rớt này đã hóa vắng vẻ chẳng
khác gì ở cảnh chiều đông.
– Đấy nhé tôi đã biết mà! Nếu tắm hôm nay thì có phải khổ
chạy mưa không? Ngồi nhà nghỉ ngơi trò chuyện với nhau thế này
vẫn hơn chứ…
Tiết Hằng nói xong lim dim mắt nhìn Yvonne mỉm cười một
cách đắc chí, đoạn ngửa cổ kề đầu vào thành chiếc ghế mây.
Hấp tấp Yvonne thêm:
– Phải lắm, chị ạ. Có phải ở nhà ngồi nói chuyện hơn là đi tắm
không, me nhỉ?
Đương ngửa cổ uống bia, “me” bỗng cau mặt, đặt mạnh cốc
xuống bàn…
– Đồ hỗn láo! Sao mày dám gọi bà ấy là chị? Hở! Ai cho phép
mày thế? Bà ấy ngang hàng với tao, nghĩa là với mẹ mày, biết
không?
Tức khắc Tiết Hằng ngồi ngay ngắn lên, nghiêm trang trách:
– Ồ ồ! Sao lại thế, bà Năm? Vẫn hay là tôi được cái hân hạnh
ngang hàng với bà, nhưng bà bốn mươi mà tôi mới hai nhăm, tôi
kém bà những mười lăm tuổi! Tôi chả thích được ngang hàng với
bà vì tôi chỉ hơn Yvonne có sáu năm. Tôi mong bà để Yvonne và
tôi, coi nhau như chị em, hạng trẻ trung với nhau, chúng tôi phải
tự do mới được!
Rồi nàng quay lại, ái ngại nhìn Yvonne, lúc đó mặt cúi gằm. Bà
Năm không đáp, lại điềm nhiên tu nốt cốc bia khiến Hằng cứ ngồi
chờ, tay gõ cái quạt xuống bàn và đủ thời giờ nhìn bà ta một cách
tinh quái.
Đó là một người đàn bà to béo, có tướng đàn ông. Phấn không
xóa nhòa những đường răn reo ở mặt. Sáp đáng lẽ phải tăng vẻ
tươi cho cặp môi, lại chỉ khiến nó thêm có vẻ khôi hài. Đã thế, lúc
nào cũng kèm bên mình một cái ví da nho nhỏ, một cái dù Nhật
sặc sỡ và xinh xinh. Những cái tô điểm lặt vặt bé nhỏ đó khiến bà
Năm đã to nhớn lại đẫy đà thêm độ mười phần. Trông đến bà rồi so
sánh những đồ… phụ tòng, thiên hạ phải tưởng tượng đến một con
voi đeo nhạc của miu con!
Mẹ thế nhưng con khác hẳn. Yvonne có trong huyết quản ba
phần máu Pháp và bảy phần máu Việt Nam, bộ mặt xinh đẹp một
cách ngây thơ; cử chỉ ngôn ngữ rất ôn tồn. Không hỗng hợm, không
“đầm” một tí nào cả. Trong nàng, tạo hóa đã dung nạp cái đẹp
phương Tây với cái đẹp phương Đông để kết nên cái đẹp hoàn mỹ.
Mũi nàng là mũi dọc dừa, không tẹt, cũng không nhọn. Tóc màu
hạt dẻ và cặp mắt phơn phớt xanh lúc sáng sớm, đen đen lúc chiều.
Khi bà Năm đẻ Yvonne được vài tháng thì ông chồng, đại tá De.
S, phải về nước cầm quân. Chết trận, đại tá cũng đã để lại cho vợ
con ở đây một chục nóc nhà. Sẵn tiền cho thuê nhà, lại thêm được
tiền tuất quả rất hậu, bà Năm đã… thủ tiết nuôi con. Mấy phen
đem bạc vạn góp vốn vào việc khai mỏ, xuất cảng gạo với Đào
Quân chồng Tiết Hằng - bà đã thành giàu lớn. Tháng trước, bà mời
vợ chồng Đào Quân lên nghỉ tại biệt thự của bà tại Chapa. Nay,
Tiết Hằng cũng dùng cái biệt thự của mình tại Đồ Sơn để trả cái
nợ lịch thiệp đó.
Trời mưa bão, nhưng vì hiên rộng, cả bọn vẫn ngồi ở hành lang.
Tiết Hằng gặng một lần nữa:
– Thế nào, bà Năm? Bà có ưng cho chúng tôi tự do với nhau
không, thưa bà?
Nghĩ hồi lâu bà Năm đáp:
– Bà tuy trẻ nhưng cái trẻ của bà là trẻ của người lớn. Nó cũng
trẻ nhưng cái trẻ của nó là cái trẻ của trẻ con. Bà dễ dãi quá thế.
Nếu Yvonne nó hư là tại bà, tôi chả biết đâu cả!
Nước đã muốn ngập lụt mặt đường. Những cây thông bị gió lay
như tuốt cả về một chiều, hiện thành hình những cái roi tiên cầm
ngược. Từ những biệt thự chung quanh đó, thỉnh thoảng lại có
chiếc xe hơi mui buông kín mít chui ra, chạy hộc tốc về Hải Phòng,
bốn bánh phun tóe nước ra hai bên đường đi.
Tiết Hằng để quạt lên mồm, ngáp và hỏi Yvonne:
– Xem hộ xem mấy giờ rồi?
– Sáu giờ năm.
– Bữa cơm chiều, ta ăn vào 8 giờ tối thì vừa vặn. Sáng sớm tôi
đã đánh dây thép cho nhà tôi ở cảng ra cho vui. Có lẽ có cả mấy
ông bạn ở Hà Nội xuống nữa.
– Thế thì vui lắm nhỉ? Cô rất thích được giao thiệp với nhiều
người An Nam!
– Thích vì…? - Yvonne ngẩn ngơ, lúng túng: - Thích vì…
Hằng cười tinh quái và nói luôn:
– Vì thích?
Yvonne cũng cười khanh khách mà rằng:
– Vì thích? Phải rồi, thế lại gọn. Thích vì thích…
Thốt nhiên bà Năm nhăn mặt, đứng lên:
– Ta vào chứ? Trời mưa thế này mà cứ ngồi mãi đấy làm gì?
– Muốn chừng bà say…
Bà Năm bưng một tay lên trán, lắc đầu:
– Không, tôi có say đâu… Gió lạnh quá, tôi chóng mặt một tí.
Hằng vồn vã:
– Mời bà lên phòng nghỉ tạm, 8 giờ tôi xin đánh thức dậy xơi
cơm.
Bà mẹ vào rồi, Yvonne xem ra có phần được dễ chịu hơn: mặt
nàng nhẹ nhàng khác trước. Nàng kể hết cho Hằng nghe cái lối
giáo dục không có phương pháp của mẹ nàng…
– Năm tôi đã 17, me tôi vẫn không quên đánh tôi như đánh đứa
trẻ con. Buổi chiều hôm ấy đi học về, ăn cơm xong tôi toan lên
phòng riêng học bài thi thì me tôi bắt tôi quét điện thờ để các bà ấy
đồng bóng! Tôi còn ngần ngừ chứ cũng chưa phản đối, thì bà ấy đã
vội làm một thôi một hồi thế này này: “A, con này mày cậy mày là
Tây, mày gan với bà, không muốn bà cúng vái gì nữa chứ?” Thế là
me tôi tiện tay cốc luôn vào trán tôi hàng chục cái, trước mặt một
đám đông người! Gớm nghĩ rõ bực quá!
Tiết Hằng cả cười, cho rằng bất cứ vào trường hợp nào cái cười
cũng vẫn an ủi được người ta. Yvonne thêm:
– Đến ngay bây giờ, tôi đã có vô số những ông danh giá hẳn hoi
định lấy tôi rồi mà me tôi cũng vẫn mắng tôi như mắng một đứa
trẻ! Lắm lúc lại thêu dệt ra những là: “Cái quân lai chúng nó bạc.
Có đứa cầm búa đánh trả lại mẹ, có đứa đuổi mẹ đi ăn mày, mắt
tao trông thấy luôn. Tử tế ôn tồn với chúng bay cũng vô ích!”. Chị
bảo phải một người mẹ vô lý áp chế đến thế có tức không? Lắm lúc
nghĩ giá tôi tìm cách gì lôi phăng bà ấy về Tây thì hay quá. Khốn
nỗi, ở bên này như me tôi đã là giàu, nhưng mà về Pháp thì rồi ăn
hết vốn, sẽ chết đói mất!
– Chị xem xét cái xã hội Việt Nam này thấy nó hay dở thế nào?
– Tôi có xem xét bao giờ! Tôi sinh trưởng ở đây, việc gì cũng
quen mắt quen tai rồi, làm gì còn có con mắt quan sát của một
người ngoại quốc mới đến đây.
– Lúc nãy chị bảo thích được giao thiệp với người Nam?
– Vâng, sự đó đối với một người lai là sự thường. Nghĩ đến đồng
bào của bố được thì nghĩ đến đồng bào của mẹ cũng được. Có gì là
lạ đâu? Tôi còn thích mặc quần áo ta nữa.
Lững thững Yvonne đến gần Hằng. Hằng ngửa cổ, say đắm nhìn
lên, rồi đứng dậy khoác lấy vai Yvonne:
– Hôm nào tốt trời, ta sẽ cùng đi chụp ảnh…
– Thế còn gì bằng! Được chụp ảnh chung với Tiết Hằng là người
đàn bà xinh đẹp nhất nước Nam!
– Nỡm, cứ chế nhạo mãi…
Hằng đỏ bừng hai má chữa thẹn, nhưng chưa chi Yvonne đã
nghiêm nghị mà rằng:
– Thật đó chị ạ. Tôi chưa thấy người đàn bà nào đẹp như chị
đâu. Chị hơn người ở chỗ không phấn sáp bao giờ. Chị không phấn
sáp bao giờ mà bất cứ bao giờ, bất cứ ở đâu, chị cũng là người đẹp
nhất!
Trong phòng khách, đồng hồ từ từ đánh bảy tiếng. Tiết Hằng
kéo Yvonne vào, cả hai vừa chạy vừa nhảy, tung tăng như đôi trẻ
ngây thơ. Đoạn Hằng ngồi phịch xuống, gọi:
– Bếp! Bếp!
– Dạ.
– Sắp xong chưa?
– Con đương dọn bàn rồi.
– Đúng như lời tôi dặn anh đấy chứ? Có đến nỗi thiếu món nào
không?
– Bẩm… không thiếu món nào cả. Tôm tươi, cua, sò, cá song, cá
chim, mực tươi, con đã về cảng mua được hết; mấy món đồ hộp với
rượu cũng dư dật cả.
Yvonne nói len vào:
– Nhiều đồ bể quá!
Tiết Hằng cười:
– Ở bể thì phải ăn đồ bể chứ… Tôi chả như Yvonne, mời tôi lên
núi mà không thết tôi bằng đồ rừng…
– Chị bảo gì?
– Đồ rừng… nghĩa là thịt những giống vật trên rừng… Sao khi ở
Chapa không mời tôi những món thịt nai, thịt vượn, thịt rắn, thịt
hổ, vân vân… vân vân?
Cả hai cười khanh khách. Vừa lúc đó, bà Năm cũng lững thững
từ phòng rửa mặt đi sang. Bà dừng chân ngắm kỹ gian phòng có
cái bài trí nên thơ: những đồ gỗ tối tân, mấy bức tranh vẽ sơn to
lồng vào khung kim nhũ, mấy bức tượng và chỗ này mấy cái lọ
Nhật, góc kia cái đôn, - vừa đưa mắt quan sát vừa gật đầu.
– Bà Hằng hiểu mỹ thuật lắm. Bày sơ sài mà trông đẹp làm
sao?
Còi ô tô rúc vang lên, cả bọn nhìn qua cửa chớp. Giữa khoảng
đất trời đen kịt, hai đường ánh sáng chói lọi chiếu qua những dây
hạt mưa lóng lánh như kim cương, từ cổng biệt thự tiến vào thềm.
Một câu nói oang oang như giọng lệnh: “Bonsoir les amies!” rồi hai
người phủ áo tơi từ xe nhảy ra. Một người béo lùn với một người
cao lênh khênh, cả hai lên đến hành lang thì cái xe hòm cũng vòng
cái sân, vào nằm nhà chứa xe nhắm mắt, hết thở hồng hộc.
Nhẹ nhàng, Tiết Hằng đã để tay vào khuy bấm điện khiến cho
khi hai người vừa kịp để mũi giày lên tấm thảm thì ở cả tám góc
phòng khác, tám chùm bóng điện đều bật sáng quắc lên. Đào Quân
bắt tay một lượt, hôn vào trán vợ một cái, đoạn quay lại giới thiệu
người cao cao với mọi người:
– Madame de S… Mademoisell Yvonne de S… Je vous présente
le Directeur du journal L'Indé Pendance, Monsieur Phan Việt Anh,
mon ami.
Đào Quân nói xong đứng nghiêm trang hưởng cái hân hạnh
được dịp khoe với bà vợ Tây và cô đầm lai một ông bạn thân của
mình làm chủ báo, mà lại một tờ báo viết tiếng Pháp. Những câu
khách sáo đã dùng rồi, mọi người ngồi xuống ghế, rồi câu chuyện
bằng tiếng Pháp bắt đầu câu có vị giữa Yvonne và Việt Anh.
– Tôi thích đọc tờ báo của ngài chủ trương lắm. Cũng đôi khi
báo có giọng công kích một cách quá đáng thật, nhưng cũng lắm
khi có những lời bàn rất có lý. Ngài có nhớ một bài xã thuyết đề
mục là “Hai thái độ” ký tên Chiêu Quân không?
– Có. Đó là thiên đại luận rất có giá trị của người đọc báo gửi
đến tặng chúng tôi. Văn hay, ý sâu sắc lắm mà lại ký hiệu là Chiêu
Quân, không rõ người viết ấy là người Pháp hay người Nam, đàn
ông hay đàn bà…
– Chiêu Quân là tôi đó!
– A!
Việt Anh rộ một tiếng rồi ngơ ngác nhìn cô đầm lai ẻo lả, đẹp
nõn, dịu dàng, một người có văn tài, thi tài sẽ hợp với việc làm thơ,
chớ không hợp với việc bàn chính trị. Đối lại, Yvonne cũng chăm
chú nhìn chàng, một người đứng tuổi, mặt xương xương mắt đeo
kính, tóc để bù, dáng điệu mạnh bạo quá, có cái tinh thần một nhà
làm báo… du côn.
– Nếu quả vậy thì hạnh phúc cho tôi biết bao! Mong rằng những
lúc thư nhàn, cô nên nghĩ đến độc giả của báo đó.
– Trước kia, chưa biết đến người giám đốc tờ báo mà tôi còn sẵn
cảm tình với báo, nữa là bây giờ…
– Tôi xin có lời cảm ơn trước.
Nói xong, Việt Anh chợt sờ lên cổ, rồi ngượng nghịu, nhìn Đào
Quân. Quân bô bô:
– Không đeo ca vát rồi! Đáng kiếp lắm! Ai bảo anh cái gì cũng
coi thường…?
Tiết Hằng chữa:
– Được, không hề gì. Nội nhà này có mấy người đây thì đã là bà
con cả.
Giữa cái phòng khách sáng trưng mà tường hoa, mọi đồ mỹ
thuật phô ra cảnh nghìn tía muôn hồng, Hằng với cái áo lam, bà
Năm với cái áo đỏ thẫm, Yvonne với cái áo da trời, ba người đều
như ba con chim lông cánh khác màu trong một bụi hoa.
– Ồ, quên khuấy đi mất! Thưa các ngài… tôi có làm quà cho bà
đầm tôi một con vật rất ngộ, biết làm xiếc và thích trang điểm như
một người đàn bà!
– Con gì thế?
– Con khỉ! Một con khỉ thông minh y như người… Ta ra xem đi…
Cả bọn hí hởn theo Đào Quân ra hành lang. Việt Anh và Tiết
Hằng ngồi lại. Thấy vợ không theo. Quân quay lại giục thì Hằng
cau mày… Mẹ con bà Năm đã bước ra rồi. Quân so vai, mà phải ra
theo.
Thấy Việt Anh cứ đăm đăm nhìn mình, Hằng đưa mắt mơ màng
ra phía khác. Anh sẽ gọi:
– Hằng!… Em Hằng!
Hằng nguẩy đầu một cái, lườm Anh rồi lại quay đi.
Việt Anh đứng lên thở dài rồi hỏi:
– Hằng có vẻ khó chịu lắm nhỉ? Hay bởi lẽ có mặt tôi tại đây?
– Có lẽ…
– Hằng không bao giờ muốn nhìn mặt tôi nữa chăng?
Hằng gật đầu. Tức khắc Anh đến gần nàng trừng mắt thất
thanh mắng:
– Khốn nạn! Đồ khốn nạn!
Hằng cũng đứng lên, lạnh lùng:
– Ô! Ngài nói ai?
Chương 2
Buổi sáng thấy Tiết Hằng ngủ li bì trên cái giường mà những
nếp xô lệch ở tấm vải phủ nệm đã nói rõ tới một đêm trằn trọc,
nghĩ ngợi ủ ê. Xiên qua lần màn phủ cửa kính, những tia nắng dịu
soi lộng lẫy cái phòng ngủ quét vôi xanh, tăng vẻ đẹp cho hết thảy
những đồ bày trong phòng.
Nàng nằm nghiêng mình, mảnh chăn đơn phủ đến ngực, tay bắc
ngang trán, đôi môi mím chặt, lông mày cau, đủ hiểu dù đã ngủ
nàng cũng vẫn không được tĩnh trí và còn phải chiến đấu với cả
những giấc chiêm bao, có lẽ vẫn giày vò nàng.
Việt Anh cầm tay nàng và nhìn nàng trừng trừng, ai oán, giận
dữ, đoạn vồ lấy hai vai nàng mà lay… Đó là một người mà lòng
trông đợi, sự thất vọng đã khiến cho hóa ra rồ dại. Thoạt đầu, nàng
còn nhìn trộm cái mặt gân guốc nhưng đau đớn đó một cách sợ hãi,
nhưng dần dần, lòng thương đến thắng được lòng cương quyết,
nàng cúi đầu nhắm nghiền mắt, rồi ngả đầu vào ngực Việt Anh.
Ái tình đã một lần đắc thắng…
Mà đó là lần đầu Tiết Hằng sa vào tội lỗi, đã chịu nhận sự âu
yếm ở miệng một kẻ không là chồng, cả hai đều sa ngã nhưng đều
sung sướng cực điểm. Thốt nhiên, một tiếng gót giày nện mạnh,
cánh cửa phòng bật tung ra. Cặp nhân tình vội buông nhau, quay
lại nhìn thì, đó là Đào Quân, đó là người chồng đứng trước cái tang
chứng là vợ ngoại tình, nhưng mà chỉ đứng thừ người ra, mặt dần
dần tái đi chứ không nói gì cả…
– Trời ơi!
Tiết Hằng tung chăn, chống tay ngồi dậy nhìn quanh, bàng
hoàng. Nàng không tin cái phòng vắng vẻ, bình tĩnh, dụi mắt hai
ba lần, vẫn còn hốt hoảng, vẫn còn ngơ ngác tìm cái tôi ở lúc nằm
mê. Sau cùng, đã định thần rồi, nàng uể oải bước xuống dép. Mớ
tóc mun xõa xuống kín lưng, nàng thong thả vấn thành búi trên
đầu, rồi đẩy cửa và tươi cười, lấy đôi hàm răng ngà ngọc ra đón
chào buổi bình minh. Hạnh phúc, mãi đến nay nàng mới hiểu
nghĩa nó. Nàng sung sướng quá, vì như người đã để xuống đất
được một gánh nặng…
Chứ gì? Trận bão qua, một đêm… bây giờ là cảnh trời yên tĩnh,
là cảnh lòng lâng lâng, không hối hận… Đến tiếng thông reo lúc đó
cũng hết đem sự muốn hứng đến cho nàng, một người vốn vẫn giàu
cảm tình.
Tiết Hằng tươi cười ngắm vạn cỏ cây. Những cảnh chung quanh
xưa vẫn quen mắt nàng mà bữa nay lại cảm nàng như những cảnh
nàng chưa hề bao giờ thấy trước cả. Mặt trời còn đỏ, trên không
gian sán lạn không một tí mây nào vẩn màu xanh…
Gió mát thổi từng cơn làm bay quần, bay áo, làm tung tóc, dễ
chịu như một sự trêu đùa. Và sóng bể rập rờn cũng như khe khẽ
ngâm cái bài thơ của những kẻ chân mây góc biển.
– Thưa bà…
Tiết Hằng quay vào, mặc vội cái áo dài rồi mở cửa ra. Người bếp
kính cẩn thưa:
– Mơnuy bữa nay thế nào ạ?
– Sao không hỏi ông.
– Ông con vặn xe đi với bà Năm từ nẫy…
– Đi từ nẫy? Thế bây giờ mấy giờ?
– Bẩm gần 6 giờ…
– Thế còn những ai ở nhà?
– Không còn ai cả. Cô Yvonne với ông Việt Anh cũng vừa đi
chơi, không kịp điểm tâm.
– Thôi, không phải về cảng mua bán nữa. Liệu mua ngay tại
đây rồi làm những món ăn xoàng, tùy ý anh.
Rồi nàng đẩy cửa, lại quay vào ngồi thừ trên giường.
Tối hôm qua, khi nàng gắt với Việt Anh câu: “Ồ, ngài nói ai?” thì
chàng ngẩn người ra, không hiểu, tuy không dám nói gì nữa nhưng
bụng phân vân như kẻ giữ lái một chiếc tàu bể đã mất địa bàn.
Việt Anh là người si tình nhưng si tình một cách khác đời, nghĩa là
có cái tâm hồn của một bạo chúa, với lòng yêu một cách gắt gỏng
chứ không chịu ăn mày lòng yêu. Cho nên cử chỉ bất phục ngẫu
nhiên đó đã bịt miệng chàng.
Đến bữa cơm, Yvonne lại càng như xoắn lấy Việt Anh, mỗi phút
ngồi gần nhau lại như đem cho cả hai bên thêm ít nhiều cảm tình
về sự tâm đầu ý hợp. Cơm xong, trò chuyện ít lâu đến cuộc khiêu
vũ mà Tiết Hằng chỉ ngồi nhìn một cách bàng quan. Vì không rõ
chuyện chi cả, Yvonne khiêu vũ một cách có hứng thú, khi làm nữ
kỵ binh của Đào Quân cũng như khi của Việt Anh, lúc nào nàng
cũng vừa nhảy vừa ngửa cổ ra cười. Nhưng Việt Anh có một thái độ
khác hẳn: muốn trêu gan Hằng, chàng đã đóng vai cái người say
đắm Yvonne.
Thản nhiên, Hằng ngồi vặn kèn, giữ nhịp cầm cung trong buổi
khiêu vũ. Nàng đã muốn tránh mặt ái tình thì còn vạ gì mà ghen
ai? Hai nữa, những cử chỉ chướng mắt của Việt Anh bên cạnh
Yvonne chỉ khiến nàng cười thầm và tự nhủ rằng không khi nào
lại mắc mưu sự trả thù của một anh hề. Nàng chỉ thương chớ
không hề giận.
Nhưng việc đó là việc trước mắt, còn hai người đi chơi mát buổi
sáng lại là việc sau lưng. Hằng còn ngủ thì họ đã đi, cũng không
thèm lên đánh thức nàng, không thèm bảo qua cho nàng biết, cử
chỉ đó có nghĩa na ná với một sự rủ nhau cùng đi trốn chẳng biết
nàng có cần để tâm?
Tiết Hằng chợt nghĩ đến cơn ác mộng vừa rồi. Nàng cười, nhìn
lên ảnh mình rồi tự nhủ: “May thật, chỉ là một giấc mê!”. Nhưng
đàn chim sẻ trên hiên cứ ồn ào cãi nhau, chiêm chiếp luôn hồi
khiến nàng đã bâng khuâng lại càng thêm sốt ruột.
Trong mười phút, nàng cứ ngồi ngây người ra nghĩ ngợi quẩn
quanh. Thốt nhiên đứng lên như cái máy có người vặn, hấp tấp vào
buồng rửa mặt, thay quần áo, đoạn xuống nhà vớ lấy một cái dù
Nhật mở cửa ra đi một mạch, không ngửng đầu.
Sau một đêm bão, mặt đường nhựa sạch như lau, bóng nhoáng
đến có thể soi gương được, cỏ cây mơn mởn tốt tươi như sau một
buổi tắm gội. Những mái ngói, tường vôi, lá cây đám cuội, hết thảy
mọi vật đều sạch sẽ, ướt át, lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời. Chỗ
nào cũng là trăm nghìn mảnh gương.
Lững thững Hằng đi, có ý tìm kiếm khắp nơi đều không gặp.
Trên bãi bể, trên núi, trên các mỏm đá đều không thấy bóng dáng
hai người. Những chỗ đẹp, đáng ngồi hóng gió với hứng thi vị của
tạo vật mà không ngồi hưởng, vậy họ đi đâu? Chót vót đứng trên
mũi bể, Hằng để một tay lên mặt che, quay khắp bốn phương tìm
những mỏm đá trước đền Bà Đế cũng vắng tanh vắng ngắt.
Hằng quay về, cũng đã nhọc mệt, lử thử đi. Nàng đi những con
đường nhỏ quanh co bao bọc ruộng làng, đi tắt.
Đến một gốc đề bèn cụp dù, ngồi xuống nghỉ chân. Gió bể hây
hây, những cây dâu tốt lá, cao chấm đầu người… Hằng ngồi ít lâu,
tầm mắt bỗng đặt tới một vật tròn tròn, xám xám. Lấy dù hẩy một
cái, vật đó lật ngửa, phô ra màu trắng hếu: bụng một con chim
sâu. Con vật khốn nạn chắc chết vì bão; bởi lẽ mình nó chỉ đét đi
chớ không có tí thương tích nào. Hai chân quặp chặt, đôi mắt
nhắm nghiền, còn mỏ há rộng. Tức khắc Hằng buồn rầu ngay.
Nàng rùng mình nghĩ đến mọi sự tang thương biến cải của đời.
Đẹp, trẻ, khỏe mạnh, lấy chồng giàu, sống một cuộc đời mà người
ta cho là sung sướng tột bực, cái địa vị nàng bao nhiêu kẻ mầy mò
không xong!… Nhưng nói cho cùng ra, hỏi nàng có sướng? Dù sướng
thật đi nữa, ngày nay đã vậy ai biết ngày mai thế nào? Đó là sự
bất trắc của hạnh phúc.
Tiết Hằng liên miên hồi tưởng lại quãng đời từ thuở còn là cô
học trò ngây thơ. Cái tuổi chứa chan hi vọng, cái tuổi sung sướng
vô cùng, nhưng thời gian chỉ đi chứ không trở lại… Nàng chợt nhớ
một buổi tan học, từ trường trung học Sa Lộ ra về, nàng ngồi xe
nhà ở giữa cho Việt Anh với Đào Quân đạp xe đạp kèm hai bên…
Hồi đó, nàng còn có tên Tây: Mathide Tiết Hằng.
– Mathide! Tôi sẽ đem đến biếu mình một bộ sách rất đẹp…
– Mathide! Cứ lấy máy ảnh của tôi mà dùng…
Trong ba khối óc còn ngây thơ, óc của Đào Quân là của kẻ
trưởng giả hợm đời và óc Việt Anh là của hạng si tình quá sớm.
Trong khi Đào Quân chỉ biết nói tới câu: “Tôi cho tài xế đánh xe
đến đón mình nhé?” thì Việt Anh đã khai chiến: “Hằng ạ, sau này
tất chúng mình phải lấy được nhau”.
Một hôm, Tiết Hằng đỏ mặt ngỏ ý riêng với mẹ trong một phút
điên rồ. Tức thì bà mẹ tỉ tê nói: “Con nhầm. Khi nào thầy con lại có
thể thuận gả con cho Việt Anh được! Vẫn biết hai bên xưa kia có đi
lại với nhau, ông bà ấy cũng dòng dõi thế gia quý tộc, nhưng phải
cái tội nghèo. Thời buổi này mà không có tiền thì làm gì được? Hai
nữa, ba mày lại đang là người góp vốn với ba anh Quân… Nhân
tiện con đã động đến, nên mẹ bảo con biết trước: ba con ngỏ ý với
mẹ định gả con cho anh Quân đã lâu rồi. Về phần bên ấy, ai cũng
ưng, nhưng vì chúng bay còn đi học nên bảo nhau giấu cả hai, chưa
cho đứa nào biết vội”.
Đó là vết thương thứ nhất có thể làm ngừng đập trái tim cô gái
ngây thơ. Hằng nghe xong tái mặt, không nói gì. Cả đêm hôm ấy
ngồi thức để khóc lóc vật vã. Không thể lấy Việt Anh được, vì lẽ bố
Đào Quân là một nhà tư bản doanh nghiệp, chủ mấy cái mỏ kẽm
và cái gia tài đó sẽ về phần Đào Quân! Nàng thấy nàng là một thứ
hàng hóa, trong cuộc nhân duyên sắp bén đó.
Một hôm, Hằng nói với bố rằng khinh bỉ sự làm giàu. Người bố
hiểu ngay, biết rằng con gái muốn phản đối việc trăm năm, bèn nói
lưỡng: “Tao hiểu mày rồi! Con không màng tưởng sự lấy chồng
giàu phải không? Được, để tao liệu…”. Một cô gái trẻ tuổi, còn dại
dột nữa, liệu có thể thấu rõ được tâm địa một người cha, mà lại
một người cha đã lăn lóc việc đời? Hằng được lời nói đó thì vội tin
ngay.
Nàng nói qua cho Anh rõ, để chàng liệu mà sửa soạn. Ồ, mà
Việt Anh sửa soạn cuộc tóc tơ kia ra làm sao thì có trời biết. Đối lại
mấy cái mỏ, mấy xưởng máy phần gia tài của Đào Quân là những
khí giới lợi hại trong việc đi chinh phục Tiết Hằng, thì chàng hình
như đã vững tâm ở số mệnh, cứ mặc lòng mê mệt về một ý tưởng
riêng. Ít lâu, xảy ra sự chủ trương việc bãi khóa sau cái tang Phan
Chu Trinh. Rồi đến thôi học, vào Nam Kỳ làm báo. Một năm tờ báo
bị đóng mà ông chủ bị 6 tháng tù án treo, đuổi ra Bắc Kỳ.
Những tai biến ấy Hằng phải trông thấy một cách đau lòng
trong khoảng hai năm. Trong khi đó, phụ thân của Đào Quân lập
thêm được một nhà máy chai, tậu thêm được một cái mỏ than nữa.
Trước sự thay đổi lớn, Hằng còn biết nói thế nào! Cả nhà đều thì
thầm một cách sợ hãi, mỗi khi nhắc đến một hành tung của Việt
Anh. Giữa thời kỳ này mà ai lại đả động tới việc trăm năm giữa
Hằng với Anh thì đích xác rồi, đó là một người hóa dại.
Lẽ tất nhiên, ít lâu Đào Quân cưới được Tiết Hằng. Đó là sự nảy
nở thịnh vượng của một gia đình này, bên cạnh sự sụp đổ của một
gia đình kia.
Lấy tư cách là bạn cũ cả vợ lẫn chồng. Việt Anh năng tới lui cái
tiểu gia đình mới lập. Người vợ hơi e ngại sự thân mật trong tình
bạn hữu đó, nhưng người chồng lại coi là việc rất tự nhiên. Lại
thêm Đào Quân cho Việt Anh là kẻ có cái số phận ngang tàng, sinh
ra đời không phải để hưởng mọi hạnh phúc êm đềm mà chỉ để tự
hoại mọi đường công danh bởi một chí hướng riêng, nên cũng
không đề phòng cho lắm.
Việc đề phòng là việc riêng của Hằng.
Đã bao lâu nay, người chồng thì vô tình không biết, người vợ thì
giữ gìn, cự tuyệt, để người tình thân cứ việc chạy theo cái duyên đã
đi thì không trở lại.
– Ơ hay! Chị Hằng ngồi đây đấy à?
Tiết Hằng giật mình quay lại, Yvonne và Việt Anh. Cả hai đứng
dừng, ngạc nhiên không hiểu sao mới tinh sương Hằng đã ra ngồi
làm gì đấy. Anh hỏi:
– Sao bà lại ngồi đây?
– À, tôi… tôi đang đi tìm hai người đấy mà.
– Tìm chúng tôi ấy à?
– Phải.
– Tìm chúng tôi ở một gốc cây?
– Chưa thấy đã mỏi chân, cấm không cho người ta ngồi à?
– Thế khỏi mỏi chân chưa thì đứng lên, đi chơi một thể…
Hằng đứng dậy oằn mình mấy cái rồi cầm lấy dù:
– Khỏi mỏi rồi nhưng chả đi chơi. Ta quay về.
– Ừ, về thì về.
Cả ba lững thững quay về; tình cờ Hằng lại đi giữa. Dân quê tò
mò đều dừng gánh đứng ngắm cái đám kỳ lạ; một người đầm đẹp,
khoác tay một thiếu nữ đẹp, đi với một người đàn ông mặc tây - cả
ba có ý thân thiết với nhau quá chừng.
Tiết Hằng hỏi Yvonne:
– Nhà tôi đã cùng với bà đi đâu từ sáng?
– A, đi về Hải Phòng, hình như về để ký giấy tờ quan hệ gì đó.
Có bảo đến chiều lại ra ăn cơm.
– Chứ buổi trưa thì thôi?
– Có lẽ…
Tự nhiên Việt Anh kêu:
– Mai tôi cũng về Hà thành!
Hằng chỉ nhìn nhưng không hỏi, còn Yvonne có ý tiếc:
– Sao ông lại về ngay thế? Thế mà dám gọi là nghỉ hè.
– Ấy làm nghề viết báo thì chỉ có quyền được nghỉ độ một vài
ngày đã là nhiều.
– Thôi được, ông cứ về Hà Nội. Rồi khi về, nếu có dịp, tôi sẽ đến
thăm tòa báo của ông.
Tới nhà, vào phòng khách, ba người uống trà mạn sen. Tiết
Hằng lướt qua mặt Anh, giơ cho chàng một mảnh giấy. Chàng bỏ
vội vào túi áo, lại ngồi nghiêm trang một lúc lâu.
Nửa giờ sau đó. Việt Anh làm ra bộ vô tình mà bước ra hành
lang. Đứng nấp bên một cái cột tròn to hai ôm, chàng nhìn trước
nhìn sau rồi giở mẩu giấy ra đọc:
Anh,
Nếu mai mình đã về Hà Nội thật thì tôi có một chuyện nói ngay
hôm nay. Ta để Yvonne ngủ trưa, ta lẻn đi Pagodon, sẽ tiện nhất.
Nên khéo cho đến bữa trưa nay.
Chương 3
Con đường đi Hòn Đâu lúc đó vắng vẻ, mặc lòng trời tạnh mây
quang. Kể từ khách sạn Pagodon đi, dần dần chỉ thấy dân quê, vì
du khách mỗi lúc một ít bớt. Lúc đó mới quá 12 giờ. Nếu không có
nhiều tầng mây do thỉnh thoảng bay qua che lấp mặt trời thì Việt
Anh và Tiết Hằng đã chẳng lững thững đấy, đã vào ngồi một bàn
trong khách sạn Pagodon.
Hai người lững thững đi cạnh nhau như một cặp vợ chồng,
nhưng không năng chuyện trò với nhau mấy. Vì rằng Tiết Hằng
chưa biết nên nói ra sao cả, còn Việt Anh thì, vào cái trường hợp
cần phải suy nghĩ ấy, chàng cũng phải dè dặt chứ chẳng dại gì mà
cứ mải coi thường cái bụng đàn bà như xưa. Đã mang mãi sự thất
vọng trong lòng, hôm nay chàng lại còn phải lo vơ vẩn…
Mấy dòng trong mảnh thư trao vụng ban nãy tới tay chàng sẽ
dắt đến sự cự tuyệt giữa hai người cùng đau đớn hay sẽ là sự hẹn
hò của một cuộc ái ân? Khó đoán. Hằng đã bất mãn vì mọi cử chỉ
gai mắt của Anh chăng? Điều đó rất có thể, đối với bụng dạ đàn bà.
Nhưng nếu nó thật thì nó là một sự vô lý, rất vô lý.
Việt Anh chất vấn ký ức, gợi đống gio tàn, hồi tưởng lại cái ngày
đau khổ nhất đời của chàng là ngày chàng đem sự chúc mừng đến
cho cặp vợ chồng mới cưới: Đào Quân, Tiết Hằng. Sau hôm đó trở
đi, đến mấy tháng trời chàng không hề quay lại nhà bạn và, đó là
Đào Quân phải đến tìm chàng một cách thành thực để giúp đỡ
chàng ra khỏi cái cảnh túng thiếu, do sự từ Nam Kỳ bị đuổi ra đây.
Một lần, Anh nói với Hằng một cách chua cay: “Không! Tôi chẳng
phải là hạng giận thân giận đời! Việt Anh có đâu lại hèn như vậy.
Yêu ai thì cầu cho người ấy được hưởng hạnh phúc trên đời còn bao
nhiêu điều đắng cay, điều bất hạnh, điều vô phúc, thì cứ việc đổ
vào đầu tôi”. Lần ấy, Hằng ngồi nhịn thở nghe câu nói đó một cách
căm tức chớ không đáp lời.
Hai người yêu chẳng được, dần dần hầu như ghét nhau. Nhưng
cả hai đều thấy thi vị trong cái sự căm hờn chung đó, bởi lẽ chính
đó là một bộ mặt của ái tình. Không yêu còn đâu ghen, không ghen
còn đâu oán hận.
Một hôm, Hằng nói: “Thôi chẳng qua chúng ta không chung
duyên kiếp. Sự xảy ra rồi, đã không còn cách gì chữa lại được nữa,
mình chỉ nên coi tôi là một người bạn gái trung thành là hơn. Mình
đã nói với tôi một cách chua cay rằng tôi là người được hưởng hạnh
phúc. Tôi đã cam lòng nhận lời mai mỉa ấy thì tôi cũng có phận sự
tìm hạnh phúc giúp mình. Việt Anh nên nhận tôi là một người bạn
gái trung thành có một không hai. Hằng xin nguyện với quỉ thần
như vậy. Tôi xin tìm hộ một người bạn trăm năm rất đáng hưởng
cái lòng yêu của mình, vả lại, Hằng cũng thường vấn tâm và rất
lấy làm lạ rằng một người như Hằng thì không biết có phương diện
nào đáng để cho một người như Việt Anh dành cho một chỗ trong
tâm…”.
Chàng đã nghe câu nói đó rất kỹ lưỡng, nhưng cũng không đáp.
Mà về phần Hằng, nàng cũng cho sự...
—★—
Tác giả: Vũ Trọng Phụng
Nhà xuất bản Văn học - 2004
ebook©vctvegroup
06-11-2018
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới Thiệu
Vũ Trọng Phụng là một nhà văn tài năng nhưng bạc mệnh. Ông
xuất hiện trên văn đàn rất sớm (khi mới 18 tuổi), nhưng cũng từ
biệt văn đàn quá sớm (27 tuổi). Chỉ trong 10 năm mang nghiệp
văn chương, nhưng những đóng góp của ông đối với nền văn học
nước nhà quả là lớn lao (Không một tiếng vang - bi kịch 3 hồi,
1931; Cạm bẫy người - phóng sự, 1933; Kỹ nghệ lấy Tây - phóng
sự, 1934; Dứt tình - tiểu thuyết, 1934; Giông tố - truyện dài, 1936;
Số đỏ - tiểu thuyết, 1936; Vỡ đê - tiểu thuyết, 1936; Làm đĩ - tiểu
thuyết, 1936; Dân biểu và dân biểu - phóng sự, 1935; Trúng số độc
đắc - truyện dài, 1938; Một truyện ăn Tết - phóng sự, 1938; Lấy
nhau vì tình, Quý phái, Cơm thầy cơm cô, Giết mẹ, Người tù được
tha - di cảo…)
Là cây bút tiểu thuyết và phóng sự có một phong cách độc đáo,
Vũ Trọng Phụng có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của
văn xuôi Việt Nam hiện đại đương thời. Ông đã làm tròn bổn phận
một người thư ký của thời đại…
Dứt tình là cuốn tiểu thuyết mang tư tưởng định mệnh siêu
hình, được sáng tác năm 1934.
Chương 1
Ánh trời tà đã hết nhuộm vàng bãi bể. Bên trên dãy núi tím,
vàng, xanh, xám mấy màu pha lộn nhau như nét bay miết dài của
nhà họa sĩ, mây lồng thành hình vạn vật, cỏ cây. Giữa khoảng vô
cùng, đó là một đàn voi… dần dần dồn nhau lên một cái cánh
phượng, rồi, sau hết, lại bị gió dãi ra tản mạn thành chỗ này thì eo
bể, vịnh, bán đảo, chỗ kia, cù lao, sông, núi - một bức địa đồ!
Bức tranh vân cẩu tuy lạ mắt nhưng không để cho người có đủ
thời giờ ngắm nghía, cứ thay đổi hoài, vì từ phía bể, gió đã bắt đầu
rít lên. Thoạt đầu, chân trời chỉ thấy chấm đen. Mới một lúc đã
không biết bao nhiêu là mây đen ở đâu kéo về, nhanh chóng lạ
thường, hình như ở bể đùn lên nặng nề bao phủ, đè ép cả mặt đất.
Bể, mới lúc nãy còn lăn tăn sóng gợn, vô nghĩa lý như cô gái buồn
tiu nghỉu thì bây giờ có bộ mặt của một bà mẹ chồng hành nàng
dâu. Những làn sóng rờn nhau, đuổi nhau vào bờ, làm lùi cả bãi
cát, làm những tảng đá như khóc lướt mướt.
Phía kia, tây phương, dãy Núi Đèo, mất mặt trời, mất cả những
áng mây lồng, đã hiện nguyên hình đá đen, cỏ xác, hết khoe
khoang.
Đám người đương nô đùa dưới nước mặn hoặc đương ung dung
dạo chơi trên cát, lúc đó cũng tất tả rủ nhau ra về.
Một vài hạt mưa ném xuống lác đác… vài cơn gió, thế là cả vòm
trời là một thác nước dữ dội.
Đồ Sơn giữa mùa hạ, và buổi bão rớt này đã hóa vắng vẻ chẳng
khác gì ở cảnh chiều đông.
– Đấy nhé tôi đã biết mà! Nếu tắm hôm nay thì có phải khổ
chạy mưa không? Ngồi nhà nghỉ ngơi trò chuyện với nhau thế này
vẫn hơn chứ…
Tiết Hằng nói xong lim dim mắt nhìn Yvonne mỉm cười một
cách đắc chí, đoạn ngửa cổ kề đầu vào thành chiếc ghế mây.
Hấp tấp Yvonne thêm:
– Phải lắm, chị ạ. Có phải ở nhà ngồi nói chuyện hơn là đi tắm
không, me nhỉ?
Đương ngửa cổ uống bia, “me” bỗng cau mặt, đặt mạnh cốc
xuống bàn…
– Đồ hỗn láo! Sao mày dám gọi bà ấy là chị? Hở! Ai cho phép
mày thế? Bà ấy ngang hàng với tao, nghĩa là với mẹ mày, biết
không?
Tức khắc Tiết Hằng ngồi ngay ngắn lên, nghiêm trang trách:
– Ồ ồ! Sao lại thế, bà Năm? Vẫn hay là tôi được cái hân hạnh
ngang hàng với bà, nhưng bà bốn mươi mà tôi mới hai nhăm, tôi
kém bà những mười lăm tuổi! Tôi chả thích được ngang hàng với
bà vì tôi chỉ hơn Yvonne có sáu năm. Tôi mong bà để Yvonne và
tôi, coi nhau như chị em, hạng trẻ trung với nhau, chúng tôi phải
tự do mới được!
Rồi nàng quay lại, ái ngại nhìn Yvonne, lúc đó mặt cúi gằm. Bà
Năm không đáp, lại điềm nhiên tu nốt cốc bia khiến Hằng cứ ngồi
chờ, tay gõ cái quạt xuống bàn và đủ thời giờ nhìn bà ta một cách
tinh quái.
Đó là một người đàn bà to béo, có tướng đàn ông. Phấn không
xóa nhòa những đường răn reo ở mặt. Sáp đáng lẽ phải tăng vẻ
tươi cho cặp môi, lại chỉ khiến nó thêm có vẻ khôi hài. Đã thế, lúc
nào cũng kèm bên mình một cái ví da nho nhỏ, một cái dù Nhật
sặc sỡ và xinh xinh. Những cái tô điểm lặt vặt bé nhỏ đó khiến bà
Năm đã to nhớn lại đẫy đà thêm độ mười phần. Trông đến bà rồi so
sánh những đồ… phụ tòng, thiên hạ phải tưởng tượng đến một con
voi đeo nhạc của miu con!
Mẹ thế nhưng con khác hẳn. Yvonne có trong huyết quản ba
phần máu Pháp và bảy phần máu Việt Nam, bộ mặt xinh đẹp một
cách ngây thơ; cử chỉ ngôn ngữ rất ôn tồn. Không hỗng hợm, không
“đầm” một tí nào cả. Trong nàng, tạo hóa đã dung nạp cái đẹp
phương Tây với cái đẹp phương Đông để kết nên cái đẹp hoàn mỹ.
Mũi nàng là mũi dọc dừa, không tẹt, cũng không nhọn. Tóc màu
hạt dẻ và cặp mắt phơn phớt xanh lúc sáng sớm, đen đen lúc chiều.
Khi bà Năm đẻ Yvonne được vài tháng thì ông chồng, đại tá De.
S, phải về nước cầm quân. Chết trận, đại tá cũng đã để lại cho vợ
con ở đây một chục nóc nhà. Sẵn tiền cho thuê nhà, lại thêm được
tiền tuất quả rất hậu, bà Năm đã… thủ tiết nuôi con. Mấy phen
đem bạc vạn góp vốn vào việc khai mỏ, xuất cảng gạo với Đào
Quân chồng Tiết Hằng - bà đã thành giàu lớn. Tháng trước, bà mời
vợ chồng Đào Quân lên nghỉ tại biệt thự của bà tại Chapa. Nay,
Tiết Hằng cũng dùng cái biệt thự của mình tại Đồ Sơn để trả cái
nợ lịch thiệp đó.
Trời mưa bão, nhưng vì hiên rộng, cả bọn vẫn ngồi ở hành lang.
Tiết Hằng gặng một lần nữa:
– Thế nào, bà Năm? Bà có ưng cho chúng tôi tự do với nhau
không, thưa bà?
Nghĩ hồi lâu bà Năm đáp:
– Bà tuy trẻ nhưng cái trẻ của bà là trẻ của người lớn. Nó cũng
trẻ nhưng cái trẻ của nó là cái trẻ của trẻ con. Bà dễ dãi quá thế.
Nếu Yvonne nó hư là tại bà, tôi chả biết đâu cả!
Nước đã muốn ngập lụt mặt đường. Những cây thông bị gió lay
như tuốt cả về một chiều, hiện thành hình những cái roi tiên cầm
ngược. Từ những biệt thự chung quanh đó, thỉnh thoảng lại có
chiếc xe hơi mui buông kín mít chui ra, chạy hộc tốc về Hải Phòng,
bốn bánh phun tóe nước ra hai bên đường đi.
Tiết Hằng để quạt lên mồm, ngáp và hỏi Yvonne:
– Xem hộ xem mấy giờ rồi?
– Sáu giờ năm.
– Bữa cơm chiều, ta ăn vào 8 giờ tối thì vừa vặn. Sáng sớm tôi
đã đánh dây thép cho nhà tôi ở cảng ra cho vui. Có lẽ có cả mấy
ông bạn ở Hà Nội xuống nữa.
– Thế thì vui lắm nhỉ? Cô rất thích được giao thiệp với nhiều
người An Nam!
– Thích vì…? - Yvonne ngẩn ngơ, lúng túng: - Thích vì…
Hằng cười tinh quái và nói luôn:
– Vì thích?
Yvonne cũng cười khanh khách mà rằng:
– Vì thích? Phải rồi, thế lại gọn. Thích vì thích…
Thốt nhiên bà Năm nhăn mặt, đứng lên:
– Ta vào chứ? Trời mưa thế này mà cứ ngồi mãi đấy làm gì?
– Muốn chừng bà say…
Bà Năm bưng một tay lên trán, lắc đầu:
– Không, tôi có say đâu… Gió lạnh quá, tôi chóng mặt một tí.
Hằng vồn vã:
– Mời bà lên phòng nghỉ tạm, 8 giờ tôi xin đánh thức dậy xơi
cơm.
Bà mẹ vào rồi, Yvonne xem ra có phần được dễ chịu hơn: mặt
nàng nhẹ nhàng khác trước. Nàng kể hết cho Hằng nghe cái lối
giáo dục không có phương pháp của mẹ nàng…
– Năm tôi đã 17, me tôi vẫn không quên đánh tôi như đánh đứa
trẻ con. Buổi chiều hôm ấy đi học về, ăn cơm xong tôi toan lên
phòng riêng học bài thi thì me tôi bắt tôi quét điện thờ để các bà ấy
đồng bóng! Tôi còn ngần ngừ chứ cũng chưa phản đối, thì bà ấy đã
vội làm một thôi một hồi thế này này: “A, con này mày cậy mày là
Tây, mày gan với bà, không muốn bà cúng vái gì nữa chứ?” Thế là
me tôi tiện tay cốc luôn vào trán tôi hàng chục cái, trước mặt một
đám đông người! Gớm nghĩ rõ bực quá!
Tiết Hằng cả cười, cho rằng bất cứ vào trường hợp nào cái cười
cũng vẫn an ủi được người ta. Yvonne thêm:
– Đến ngay bây giờ, tôi đã có vô số những ông danh giá hẳn hoi
định lấy tôi rồi mà me tôi cũng vẫn mắng tôi như mắng một đứa
trẻ! Lắm lúc lại thêu dệt ra những là: “Cái quân lai chúng nó bạc.
Có đứa cầm búa đánh trả lại mẹ, có đứa đuổi mẹ đi ăn mày, mắt
tao trông thấy luôn. Tử tế ôn tồn với chúng bay cũng vô ích!”. Chị
bảo phải một người mẹ vô lý áp chế đến thế có tức không? Lắm lúc
nghĩ giá tôi tìm cách gì lôi phăng bà ấy về Tây thì hay quá. Khốn
nỗi, ở bên này như me tôi đã là giàu, nhưng mà về Pháp thì rồi ăn
hết vốn, sẽ chết đói mất!
– Chị xem xét cái xã hội Việt Nam này thấy nó hay dở thế nào?
– Tôi có xem xét bao giờ! Tôi sinh trưởng ở đây, việc gì cũng
quen mắt quen tai rồi, làm gì còn có con mắt quan sát của một
người ngoại quốc mới đến đây.
– Lúc nãy chị bảo thích được giao thiệp với người Nam?
– Vâng, sự đó đối với một người lai là sự thường. Nghĩ đến đồng
bào của bố được thì nghĩ đến đồng bào của mẹ cũng được. Có gì là
lạ đâu? Tôi còn thích mặc quần áo ta nữa.
Lững thững Yvonne đến gần Hằng. Hằng ngửa cổ, say đắm nhìn
lên, rồi đứng dậy khoác lấy vai Yvonne:
– Hôm nào tốt trời, ta sẽ cùng đi chụp ảnh…
– Thế còn gì bằng! Được chụp ảnh chung với Tiết Hằng là người
đàn bà xinh đẹp nhất nước Nam!
– Nỡm, cứ chế nhạo mãi…
Hằng đỏ bừng hai má chữa thẹn, nhưng chưa chi Yvonne đã
nghiêm nghị mà rằng:
– Thật đó chị ạ. Tôi chưa thấy người đàn bà nào đẹp như chị
đâu. Chị hơn người ở chỗ không phấn sáp bao giờ. Chị không phấn
sáp bao giờ mà bất cứ bao giờ, bất cứ ở đâu, chị cũng là người đẹp
nhất!
Trong phòng khách, đồng hồ từ từ đánh bảy tiếng. Tiết Hằng
kéo Yvonne vào, cả hai vừa chạy vừa nhảy, tung tăng như đôi trẻ
ngây thơ. Đoạn Hằng ngồi phịch xuống, gọi:
– Bếp! Bếp!
– Dạ.
– Sắp xong chưa?
– Con đương dọn bàn rồi.
– Đúng như lời tôi dặn anh đấy chứ? Có đến nỗi thiếu món nào
không?
– Bẩm… không thiếu món nào cả. Tôm tươi, cua, sò, cá song, cá
chim, mực tươi, con đã về cảng mua được hết; mấy món đồ hộp với
rượu cũng dư dật cả.
Yvonne nói len vào:
– Nhiều đồ bể quá!
Tiết Hằng cười:
– Ở bể thì phải ăn đồ bể chứ… Tôi chả như Yvonne, mời tôi lên
núi mà không thết tôi bằng đồ rừng…
– Chị bảo gì?
– Đồ rừng… nghĩa là thịt những giống vật trên rừng… Sao khi ở
Chapa không mời tôi những món thịt nai, thịt vượn, thịt rắn, thịt
hổ, vân vân… vân vân?
Cả hai cười khanh khách. Vừa lúc đó, bà Năm cũng lững thững
từ phòng rửa mặt đi sang. Bà dừng chân ngắm kỹ gian phòng có
cái bài trí nên thơ: những đồ gỗ tối tân, mấy bức tranh vẽ sơn to
lồng vào khung kim nhũ, mấy bức tượng và chỗ này mấy cái lọ
Nhật, góc kia cái đôn, - vừa đưa mắt quan sát vừa gật đầu.
– Bà Hằng hiểu mỹ thuật lắm. Bày sơ sài mà trông đẹp làm
sao?
Còi ô tô rúc vang lên, cả bọn nhìn qua cửa chớp. Giữa khoảng
đất trời đen kịt, hai đường ánh sáng chói lọi chiếu qua những dây
hạt mưa lóng lánh như kim cương, từ cổng biệt thự tiến vào thềm.
Một câu nói oang oang như giọng lệnh: “Bonsoir les amies!” rồi hai
người phủ áo tơi từ xe nhảy ra. Một người béo lùn với một người
cao lênh khênh, cả hai lên đến hành lang thì cái xe hòm cũng vòng
cái sân, vào nằm nhà chứa xe nhắm mắt, hết thở hồng hộc.
Nhẹ nhàng, Tiết Hằng đã để tay vào khuy bấm điện khiến cho
khi hai người vừa kịp để mũi giày lên tấm thảm thì ở cả tám góc
phòng khác, tám chùm bóng điện đều bật sáng quắc lên. Đào Quân
bắt tay một lượt, hôn vào trán vợ một cái, đoạn quay lại giới thiệu
người cao cao với mọi người:
– Madame de S… Mademoisell Yvonne de S… Je vous présente
le Directeur du journal L'Indé Pendance, Monsieur Phan Việt Anh,
mon ami.
Đào Quân nói xong đứng nghiêm trang hưởng cái hân hạnh
được dịp khoe với bà vợ Tây và cô đầm lai một ông bạn thân của
mình làm chủ báo, mà lại một tờ báo viết tiếng Pháp. Những câu
khách sáo đã dùng rồi, mọi người ngồi xuống ghế, rồi câu chuyện
bằng tiếng Pháp bắt đầu câu có vị giữa Yvonne và Việt Anh.
– Tôi thích đọc tờ báo của ngài chủ trương lắm. Cũng đôi khi
báo có giọng công kích một cách quá đáng thật, nhưng cũng lắm
khi có những lời bàn rất có lý. Ngài có nhớ một bài xã thuyết đề
mục là “Hai thái độ” ký tên Chiêu Quân không?
– Có. Đó là thiên đại luận rất có giá trị của người đọc báo gửi
đến tặng chúng tôi. Văn hay, ý sâu sắc lắm mà lại ký hiệu là Chiêu
Quân, không rõ người viết ấy là người Pháp hay người Nam, đàn
ông hay đàn bà…
– Chiêu Quân là tôi đó!
– A!
Việt Anh rộ một tiếng rồi ngơ ngác nhìn cô đầm lai ẻo lả, đẹp
nõn, dịu dàng, một người có văn tài, thi tài sẽ hợp với việc làm thơ,
chớ không hợp với việc bàn chính trị. Đối lại, Yvonne cũng chăm
chú nhìn chàng, một người đứng tuổi, mặt xương xương mắt đeo
kính, tóc để bù, dáng điệu mạnh bạo quá, có cái tinh thần một nhà
làm báo… du côn.
– Nếu quả vậy thì hạnh phúc cho tôi biết bao! Mong rằng những
lúc thư nhàn, cô nên nghĩ đến độc giả của báo đó.
– Trước kia, chưa biết đến người giám đốc tờ báo mà tôi còn sẵn
cảm tình với báo, nữa là bây giờ…
– Tôi xin có lời cảm ơn trước.
Nói xong, Việt Anh chợt sờ lên cổ, rồi ngượng nghịu, nhìn Đào
Quân. Quân bô bô:
– Không đeo ca vát rồi! Đáng kiếp lắm! Ai bảo anh cái gì cũng
coi thường…?
Tiết Hằng chữa:
– Được, không hề gì. Nội nhà này có mấy người đây thì đã là bà
con cả.
Giữa cái phòng khách sáng trưng mà tường hoa, mọi đồ mỹ
thuật phô ra cảnh nghìn tía muôn hồng, Hằng với cái áo lam, bà
Năm với cái áo đỏ thẫm, Yvonne với cái áo da trời, ba người đều
như ba con chim lông cánh khác màu trong một bụi hoa.
– Ồ, quên khuấy đi mất! Thưa các ngài… tôi có làm quà cho bà
đầm tôi một con vật rất ngộ, biết làm xiếc và thích trang điểm như
một người đàn bà!
– Con gì thế?
– Con khỉ! Một con khỉ thông minh y như người… Ta ra xem đi…
Cả bọn hí hởn theo Đào Quân ra hành lang. Việt Anh và Tiết
Hằng ngồi lại. Thấy vợ không theo. Quân quay lại giục thì Hằng
cau mày… Mẹ con bà Năm đã bước ra rồi. Quân so vai, mà phải ra
theo.
Thấy Việt Anh cứ đăm đăm nhìn mình, Hằng đưa mắt mơ màng
ra phía khác. Anh sẽ gọi:
– Hằng!… Em Hằng!
Hằng nguẩy đầu một cái, lườm Anh rồi lại quay đi.
Việt Anh đứng lên thở dài rồi hỏi:
– Hằng có vẻ khó chịu lắm nhỉ? Hay bởi lẽ có mặt tôi tại đây?
– Có lẽ…
– Hằng không bao giờ muốn nhìn mặt tôi nữa chăng?
Hằng gật đầu. Tức khắc Anh đến gần nàng trừng mắt thất
thanh mắng:
– Khốn nạn! Đồ khốn nạn!
Hằng cũng đứng lên, lạnh lùng:
– Ô! Ngài nói ai?
Chương 2
Buổi sáng thấy Tiết Hằng ngủ li bì trên cái giường mà những
nếp xô lệch ở tấm vải phủ nệm đã nói rõ tới một đêm trằn trọc,
nghĩ ngợi ủ ê. Xiên qua lần màn phủ cửa kính, những tia nắng dịu
soi lộng lẫy cái phòng ngủ quét vôi xanh, tăng vẻ đẹp cho hết thảy
những đồ bày trong phòng.
Nàng nằm nghiêng mình, mảnh chăn đơn phủ đến ngực, tay bắc
ngang trán, đôi môi mím chặt, lông mày cau, đủ hiểu dù đã ngủ
nàng cũng vẫn không được tĩnh trí và còn phải chiến đấu với cả
những giấc chiêm bao, có lẽ vẫn giày vò nàng.
Việt Anh cầm tay nàng và nhìn nàng trừng trừng, ai oán, giận
dữ, đoạn vồ lấy hai vai nàng mà lay… Đó là một người mà lòng
trông đợi, sự thất vọng đã khiến cho hóa ra rồ dại. Thoạt đầu, nàng
còn nhìn trộm cái mặt gân guốc nhưng đau đớn đó một cách sợ hãi,
nhưng dần dần, lòng thương đến thắng được lòng cương quyết,
nàng cúi đầu nhắm nghiền mắt, rồi ngả đầu vào ngực Việt Anh.
Ái tình đã một lần đắc thắng…
Mà đó là lần đầu Tiết Hằng sa vào tội lỗi, đã chịu nhận sự âu
yếm ở miệng một kẻ không là chồng, cả hai đều sa ngã nhưng đều
sung sướng cực điểm. Thốt nhiên, một tiếng gót giày nện mạnh,
cánh cửa phòng bật tung ra. Cặp nhân tình vội buông nhau, quay
lại nhìn thì, đó là Đào Quân, đó là người chồng đứng trước cái tang
chứng là vợ ngoại tình, nhưng mà chỉ đứng thừ người ra, mặt dần
dần tái đi chứ không nói gì cả…
– Trời ơi!
Tiết Hằng tung chăn, chống tay ngồi dậy nhìn quanh, bàng
hoàng. Nàng không tin cái phòng vắng vẻ, bình tĩnh, dụi mắt hai
ba lần, vẫn còn hốt hoảng, vẫn còn ngơ ngác tìm cái tôi ở lúc nằm
mê. Sau cùng, đã định thần rồi, nàng uể oải bước xuống dép. Mớ
tóc mun xõa xuống kín lưng, nàng thong thả vấn thành búi trên
đầu, rồi đẩy cửa và tươi cười, lấy đôi hàm răng ngà ngọc ra đón
chào buổi bình minh. Hạnh phúc, mãi đến nay nàng mới hiểu
nghĩa nó. Nàng sung sướng quá, vì như người đã để xuống đất
được một gánh nặng…
Chứ gì? Trận bão qua, một đêm… bây giờ là cảnh trời yên tĩnh,
là cảnh lòng lâng lâng, không hối hận… Đến tiếng thông reo lúc đó
cũng hết đem sự muốn hứng đến cho nàng, một người vốn vẫn giàu
cảm tình.
Tiết Hằng tươi cười ngắm vạn cỏ cây. Những cảnh chung quanh
xưa vẫn quen mắt nàng mà bữa nay lại cảm nàng như những cảnh
nàng chưa hề bao giờ thấy trước cả. Mặt trời còn đỏ, trên không
gian sán lạn không một tí mây nào vẩn màu xanh…
Gió mát thổi từng cơn làm bay quần, bay áo, làm tung tóc, dễ
chịu như một sự trêu đùa. Và sóng bể rập rờn cũng như khe khẽ
ngâm cái bài thơ của những kẻ chân mây góc biển.
– Thưa bà…
Tiết Hằng quay vào, mặc vội cái áo dài rồi mở cửa ra. Người bếp
kính cẩn thưa:
– Mơnuy bữa nay thế nào ạ?
– Sao không hỏi ông.
– Ông con vặn xe đi với bà Năm từ nẫy…
– Đi từ nẫy? Thế bây giờ mấy giờ?
– Bẩm gần 6 giờ…
– Thế còn những ai ở nhà?
– Không còn ai cả. Cô Yvonne với ông Việt Anh cũng vừa đi
chơi, không kịp điểm tâm.
– Thôi, không phải về cảng mua bán nữa. Liệu mua ngay tại
đây rồi làm những món ăn xoàng, tùy ý anh.
Rồi nàng đẩy cửa, lại quay vào ngồi thừ trên giường.
Tối hôm qua, khi nàng gắt với Việt Anh câu: “Ồ, ngài nói ai?” thì
chàng ngẩn người ra, không hiểu, tuy không dám nói gì nữa nhưng
bụng phân vân như kẻ giữ lái một chiếc tàu bể đã mất địa bàn.
Việt Anh là người si tình nhưng si tình một cách khác đời, nghĩa là
có cái tâm hồn của một bạo chúa, với lòng yêu một cách gắt gỏng
chứ không chịu ăn mày lòng yêu. Cho nên cử chỉ bất phục ngẫu
nhiên đó đã bịt miệng chàng.
Đến bữa cơm, Yvonne lại càng như xoắn lấy Việt Anh, mỗi phút
ngồi gần nhau lại như đem cho cả hai bên thêm ít nhiều cảm tình
về sự tâm đầu ý hợp. Cơm xong, trò chuyện ít lâu đến cuộc khiêu
vũ mà Tiết Hằng chỉ ngồi nhìn một cách bàng quan. Vì không rõ
chuyện chi cả, Yvonne khiêu vũ một cách có hứng thú, khi làm nữ
kỵ binh của Đào Quân cũng như khi của Việt Anh, lúc nào nàng
cũng vừa nhảy vừa ngửa cổ ra cười. Nhưng Việt Anh có một thái độ
khác hẳn: muốn trêu gan Hằng, chàng đã đóng vai cái người say
đắm Yvonne.
Thản nhiên, Hằng ngồi vặn kèn, giữ nhịp cầm cung trong buổi
khiêu vũ. Nàng đã muốn tránh mặt ái tình thì còn vạ gì mà ghen
ai? Hai nữa, những cử chỉ chướng mắt của Việt Anh bên cạnh
Yvonne chỉ khiến nàng cười thầm và tự nhủ rằng không khi nào
lại mắc mưu sự trả thù của một anh hề. Nàng chỉ thương chớ
không hề giận.
Nhưng việc đó là việc trước mắt, còn hai người đi chơi mát buổi
sáng lại là việc sau lưng. Hằng còn ngủ thì họ đã đi, cũng không
thèm lên đánh thức nàng, không thèm bảo qua cho nàng biết, cử
chỉ đó có nghĩa na ná với một sự rủ nhau cùng đi trốn chẳng biết
nàng có cần để tâm?
Tiết Hằng chợt nghĩ đến cơn ác mộng vừa rồi. Nàng cười, nhìn
lên ảnh mình rồi tự nhủ: “May thật, chỉ là một giấc mê!”. Nhưng
đàn chim sẻ trên hiên cứ ồn ào cãi nhau, chiêm chiếp luôn hồi
khiến nàng đã bâng khuâng lại càng thêm sốt ruột.
Trong mười phút, nàng cứ ngồi ngây người ra nghĩ ngợi quẩn
quanh. Thốt nhiên đứng lên như cái máy có người vặn, hấp tấp vào
buồng rửa mặt, thay quần áo, đoạn xuống nhà vớ lấy một cái dù
Nhật mở cửa ra đi một mạch, không ngửng đầu.
Sau một đêm bão, mặt đường nhựa sạch như lau, bóng nhoáng
đến có thể soi gương được, cỏ cây mơn mởn tốt tươi như sau một
buổi tắm gội. Những mái ngói, tường vôi, lá cây đám cuội, hết thảy
mọi vật đều sạch sẽ, ướt át, lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời. Chỗ
nào cũng là trăm nghìn mảnh gương.
Lững thững Hằng đi, có ý tìm kiếm khắp nơi đều không gặp.
Trên bãi bể, trên núi, trên các mỏm đá đều không thấy bóng dáng
hai người. Những chỗ đẹp, đáng ngồi hóng gió với hứng thi vị của
tạo vật mà không ngồi hưởng, vậy họ đi đâu? Chót vót đứng trên
mũi bể, Hằng để một tay lên mặt che, quay khắp bốn phương tìm
những mỏm đá trước đền Bà Đế cũng vắng tanh vắng ngắt.
Hằng quay về, cũng đã nhọc mệt, lử thử đi. Nàng đi những con
đường nhỏ quanh co bao bọc ruộng làng, đi tắt.
Đến một gốc đề bèn cụp dù, ngồi xuống nghỉ chân. Gió bể hây
hây, những cây dâu tốt lá, cao chấm đầu người… Hằng ngồi ít lâu,
tầm mắt bỗng đặt tới một vật tròn tròn, xám xám. Lấy dù hẩy một
cái, vật đó lật ngửa, phô ra màu trắng hếu: bụng một con chim
sâu. Con vật khốn nạn chắc chết vì bão; bởi lẽ mình nó chỉ đét đi
chớ không có tí thương tích nào. Hai chân quặp chặt, đôi mắt
nhắm nghiền, còn mỏ há rộng. Tức khắc Hằng buồn rầu ngay.
Nàng rùng mình nghĩ đến mọi sự tang thương biến cải của đời.
Đẹp, trẻ, khỏe mạnh, lấy chồng giàu, sống một cuộc đời mà người
ta cho là sung sướng tột bực, cái địa vị nàng bao nhiêu kẻ mầy mò
không xong!… Nhưng nói cho cùng ra, hỏi nàng có sướng? Dù sướng
thật đi nữa, ngày nay đã vậy ai biết ngày mai thế nào? Đó là sự
bất trắc của hạnh phúc.
Tiết Hằng liên miên hồi tưởng lại quãng đời từ thuở còn là cô
học trò ngây thơ. Cái tuổi chứa chan hi vọng, cái tuổi sung sướng
vô cùng, nhưng thời gian chỉ đi chứ không trở lại… Nàng chợt nhớ
một buổi tan học, từ trường trung học Sa Lộ ra về, nàng ngồi xe
nhà ở giữa cho Việt Anh với Đào Quân đạp xe đạp kèm hai bên…
Hồi đó, nàng còn có tên Tây: Mathide Tiết Hằng.
– Mathide! Tôi sẽ đem đến biếu mình một bộ sách rất đẹp…
– Mathide! Cứ lấy máy ảnh của tôi mà dùng…
Trong ba khối óc còn ngây thơ, óc của Đào Quân là của kẻ
trưởng giả hợm đời và óc Việt Anh là của hạng si tình quá sớm.
Trong khi Đào Quân chỉ biết nói tới câu: “Tôi cho tài xế đánh xe
đến đón mình nhé?” thì Việt Anh đã khai chiến: “Hằng ạ, sau này
tất chúng mình phải lấy được nhau”.
Một hôm, Tiết Hằng đỏ mặt ngỏ ý riêng với mẹ trong một phút
điên rồ. Tức thì bà mẹ tỉ tê nói: “Con nhầm. Khi nào thầy con lại có
thể thuận gả con cho Việt Anh được! Vẫn biết hai bên xưa kia có đi
lại với nhau, ông bà ấy cũng dòng dõi thế gia quý tộc, nhưng phải
cái tội nghèo. Thời buổi này mà không có tiền thì làm gì được? Hai
nữa, ba mày lại đang là người góp vốn với ba anh Quân… Nhân
tiện con đã động đến, nên mẹ bảo con biết trước: ba con ngỏ ý với
mẹ định gả con cho anh Quân đã lâu rồi. Về phần bên ấy, ai cũng
ưng, nhưng vì chúng bay còn đi học nên bảo nhau giấu cả hai, chưa
cho đứa nào biết vội”.
Đó là vết thương thứ nhất có thể làm ngừng đập trái tim cô gái
ngây thơ. Hằng nghe xong tái mặt, không nói gì. Cả đêm hôm ấy
ngồi thức để khóc lóc vật vã. Không thể lấy Việt Anh được, vì lẽ bố
Đào Quân là một nhà tư bản doanh nghiệp, chủ mấy cái mỏ kẽm
và cái gia tài đó sẽ về phần Đào Quân! Nàng thấy nàng là một thứ
hàng hóa, trong cuộc nhân duyên sắp bén đó.
Một hôm, Hằng nói với bố rằng khinh bỉ sự làm giàu. Người bố
hiểu ngay, biết rằng con gái muốn phản đối việc trăm năm, bèn nói
lưỡng: “Tao hiểu mày rồi! Con không màng tưởng sự lấy chồng
giàu phải không? Được, để tao liệu…”. Một cô gái trẻ tuổi, còn dại
dột nữa, liệu có thể thấu rõ được tâm địa một người cha, mà lại
một người cha đã lăn lóc việc đời? Hằng được lời nói đó thì vội tin
ngay.
Nàng nói qua cho Anh rõ, để chàng liệu mà sửa soạn. Ồ, mà
Việt Anh sửa soạn cuộc tóc tơ kia ra làm sao thì có trời biết. Đối lại
mấy cái mỏ, mấy xưởng máy phần gia tài của Đào Quân là những
khí giới lợi hại trong việc đi chinh phục Tiết Hằng, thì chàng hình
như đã vững tâm ở số mệnh, cứ mặc lòng mê mệt về một ý tưởng
riêng. Ít lâu, xảy ra sự chủ trương việc bãi khóa sau cái tang Phan
Chu Trinh. Rồi đến thôi học, vào Nam Kỳ làm báo. Một năm tờ báo
bị đóng mà ông chủ bị 6 tháng tù án treo, đuổi ra Bắc Kỳ.
Những tai biến ấy Hằng phải trông thấy một cách đau lòng
trong khoảng hai năm. Trong khi đó, phụ thân của Đào Quân lập
thêm được một nhà máy chai, tậu thêm được một cái mỏ than nữa.
Trước sự thay đổi lớn, Hằng còn biết nói thế nào! Cả nhà đều thì
thầm một cách sợ hãi, mỗi khi nhắc đến một hành tung của Việt
Anh. Giữa thời kỳ này mà ai lại đả động tới việc trăm năm giữa
Hằng với Anh thì đích xác rồi, đó là một người hóa dại.
Lẽ tất nhiên, ít lâu Đào Quân cưới được Tiết Hằng. Đó là sự nảy
nở thịnh vượng của một gia đình này, bên cạnh sự sụp đổ của một
gia đình kia.
Lấy tư cách là bạn cũ cả vợ lẫn chồng. Việt Anh năng tới lui cái
tiểu gia đình mới lập. Người vợ hơi e ngại sự thân mật trong tình
bạn hữu đó, nhưng người chồng lại coi là việc rất tự nhiên. Lại
thêm Đào Quân cho Việt Anh là kẻ có cái số phận ngang tàng, sinh
ra đời không phải để hưởng mọi hạnh phúc êm đềm mà chỉ để tự
hoại mọi đường công danh bởi một chí hướng riêng, nên cũng
không đề phòng cho lắm.
Việc đề phòng là việc riêng của Hằng.
Đã bao lâu nay, người chồng thì vô tình không biết, người vợ thì
giữ gìn, cự tuyệt, để người tình thân cứ việc chạy theo cái duyên đã
đi thì không trở lại.
– Ơ hay! Chị Hằng ngồi đây đấy à?
Tiết Hằng giật mình quay lại, Yvonne và Việt Anh. Cả hai đứng
dừng, ngạc nhiên không hiểu sao mới tinh sương Hằng đã ra ngồi
làm gì đấy. Anh hỏi:
– Sao bà lại ngồi đây?
– À, tôi… tôi đang đi tìm hai người đấy mà.
– Tìm chúng tôi ấy à?
– Phải.
– Tìm chúng tôi ở một gốc cây?
– Chưa thấy đã mỏi chân, cấm không cho người ta ngồi à?
– Thế khỏi mỏi chân chưa thì đứng lên, đi chơi một thể…
Hằng đứng dậy oằn mình mấy cái rồi cầm lấy dù:
– Khỏi mỏi rồi nhưng chả đi chơi. Ta quay về.
– Ừ, về thì về.
Cả ba lững thững quay về; tình cờ Hằng lại đi giữa. Dân quê tò
mò đều dừng gánh đứng ngắm cái đám kỳ lạ; một người đầm đẹp,
khoác tay một thiếu nữ đẹp, đi với một người đàn ông mặc tây - cả
ba có ý thân thiết với nhau quá chừng.
Tiết Hằng hỏi Yvonne:
– Nhà tôi đã cùng với bà đi đâu từ sáng?
– A, đi về Hải Phòng, hình như về để ký giấy tờ quan hệ gì đó.
Có bảo đến chiều lại ra ăn cơm.
– Chứ buổi trưa thì thôi?
– Có lẽ…
Tự nhiên Việt Anh kêu:
– Mai tôi cũng về Hà thành!
Hằng chỉ nhìn nhưng không hỏi, còn Yvonne có ý tiếc:
– Sao ông lại về ngay thế? Thế mà dám gọi là nghỉ hè.
– Ấy làm nghề viết báo thì chỉ có quyền được nghỉ độ một vài
ngày đã là nhiều.
– Thôi được, ông cứ về Hà Nội. Rồi khi về, nếu có dịp, tôi sẽ đến
thăm tòa báo của ông.
Tới nhà, vào phòng khách, ba người uống trà mạn sen. Tiết
Hằng lướt qua mặt Anh, giơ cho chàng một mảnh giấy. Chàng bỏ
vội vào túi áo, lại ngồi nghiêm trang một lúc lâu.
Nửa giờ sau đó. Việt Anh làm ra bộ vô tình mà bước ra hành
lang. Đứng nấp bên một cái cột tròn to hai ôm, chàng nhìn trước
nhìn sau rồi giở mẩu giấy ra đọc:
Anh,
Nếu mai mình đã về Hà Nội thật thì tôi có một chuyện nói ngay
hôm nay. Ta để Yvonne ngủ trưa, ta lẻn đi Pagodon, sẽ tiện nhất.
Nên khéo cho đến bữa trưa nay.
Chương 3
Con đường đi Hòn Đâu lúc đó vắng vẻ, mặc lòng trời tạnh mây
quang. Kể từ khách sạn Pagodon đi, dần dần chỉ thấy dân quê, vì
du khách mỗi lúc một ít bớt. Lúc đó mới quá 12 giờ. Nếu không có
nhiều tầng mây do thỉnh thoảng bay qua che lấp mặt trời thì Việt
Anh và Tiết Hằng đã chẳng lững thững đấy, đã vào ngồi một bàn
trong khách sạn Pagodon.
Hai người lững thững đi cạnh nhau như một cặp vợ chồng,
nhưng không năng chuyện trò với nhau mấy. Vì rằng Tiết Hằng
chưa biết nên nói ra sao cả, còn Việt Anh thì, vào cái trường hợp
cần phải suy nghĩ ấy, chàng cũng phải dè dặt chứ chẳng dại gì mà
cứ mải coi thường cái bụng đàn bà như xưa. Đã mang mãi sự thất
vọng trong lòng, hôm nay chàng lại còn phải lo vơ vẩn…
Mấy dòng trong mảnh thư trao vụng ban nãy tới tay chàng sẽ
dắt đến sự cự tuyệt giữa hai người cùng đau đớn hay sẽ là sự hẹn
hò của một cuộc ái ân? Khó đoán. Hằng đã bất mãn vì mọi cử chỉ
gai mắt của Anh chăng? Điều đó rất có thể, đối với bụng dạ đàn bà.
Nhưng nếu nó thật thì nó là một sự vô lý, rất vô lý.
Việt Anh chất vấn ký ức, gợi đống gio tàn, hồi tưởng lại cái ngày
đau khổ nhất đời của chàng là ngày chàng đem sự chúc mừng đến
cho cặp vợ chồng mới cưới: Đào Quân, Tiết Hằng. Sau hôm đó trở
đi, đến mấy tháng trời chàng không hề quay lại nhà bạn và, đó là
Đào Quân phải đến tìm chàng một cách thành thực để giúp đỡ
chàng ra khỏi cái cảnh túng thiếu, do sự từ Nam Kỳ bị đuổi ra đây.
Một lần, Anh nói với Hằng một cách chua cay: “Không! Tôi chẳng
phải là hạng giận thân giận đời! Việt Anh có đâu lại hèn như vậy.
Yêu ai thì cầu cho người ấy được hưởng hạnh phúc trên đời còn bao
nhiêu điều đắng cay, điều bất hạnh, điều vô phúc, thì cứ việc đổ
vào đầu tôi”. Lần ấy, Hằng ngồi nhịn thở nghe câu nói đó một cách
căm tức chớ không đáp lời.
Hai người yêu chẳng được, dần dần hầu như ghét nhau. Nhưng
cả hai đều thấy thi vị trong cái sự căm hờn chung đó, bởi lẽ chính
đó là một bộ mặt của ái tình. Không yêu còn đâu ghen, không ghen
còn đâu oán hận.
Một hôm, Hằng nói: “Thôi chẳng qua chúng ta không chung
duyên kiếp. Sự xảy ra rồi, đã không còn cách gì chữa lại được nữa,
mình chỉ nên coi tôi là một người bạn gái trung thành là hơn. Mình
đã nói với tôi một cách chua cay rằng tôi là người được hưởng hạnh
phúc. Tôi đã cam lòng nhận lời mai mỉa ấy thì tôi cũng có phận sự
tìm hạnh phúc giúp mình. Việt Anh nên nhận tôi là một người bạn
gái trung thành có một không hai. Hằng xin nguyện với quỉ thần
như vậy. Tôi xin tìm hộ một người bạn trăm năm rất đáng hưởng
cái lòng yêu của mình, vả lại, Hằng cũng thường vấn tâm và rất
lấy làm lạ rằng một người như Hằng thì không biết có phương diện
nào đáng để cho một người như Việt Anh dành cho một chỗ trong
tâm…”.
Chàng đã nghe câu nói đó rất kỹ lưỡng, nhưng cũng không đáp.
Mà về phần Hằng, nàng cũng cho sự...
 





