Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1
CHÂM NGÔN HAY
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Hãy trả lời em tại sao 10

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 10h:12' 05-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 10h:12' 05-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Hãy trả lời em tại sao?. T.10 / Liễu Nga Đoan d. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
216tr. ; 19cm.
1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Liễu Nga Đoan d.
001 -- dc 22
H412
https://thuviensach.vn
Liễu Nga Đoan dịch
https://thuviensach.vn
4
https://thuviensach.vn
chim
1
Tại sao chim hót?
Tiếng chim hót hay tiếng chim gọi bầy mà chúng ta
thường nghe vào mùa xuân là một phần của các cuộc
tán tỉnh trước khi giao phối.
Chim trống hót để gọi bạn tình. Khi chim trống và
chim mái tìm đến nhau, chim trống hót nhiều hơn để gọi
chim mái. Với nhiều loài chim, con mái cũng biết hót trả.
Không phải chim nào cũng hót được. Có những loài
chim như cò, bồ nông không hót được. Thanh quản của
loài chim có khác với thanh quản của con người.
Thanh quản loài người nằm trong họng ở cuối phần
trên của khí quản.
Ở loài chim có bộ phận đơn giản hơn nằm ở cuối
phần dưới của khí quản theo cấu trúc gọi là ống minh
quản, bộ phận này
rung được.
Nhiều loài chim có
tiếng hót khác nhau là
nhờ ở cấu trúc này, đó
5
https://thuviensach.vn
là bộ phận được điều khiển bởi một số cơ bắp và thay
đổi theo từng loại chim.
Ngoài tiếng hót, chim còn có những âm thanh khác,
đó là tiếng cảnh báo cho đồng loại hay tiếng báo động
chung cho các loài khi gặp hiểm nguy.
Nếu một chú rắn tiến gần tới tổ chim, tiếng báo động
phát ra, các loại chim trong khu vực đến giải cứu. Âm
thanh và tiếng báo động của chim có thể nghe thấy
trong suốt cả năm, nhưng tiếng hót lại thường được nghe
trong mùa xây tổ.
Tiếng hót cũng khác nhau nhờ âm giai, tấu khúc, nhịp
điệu và chất lượng. Người ta cho rằng chim họa mi là
loài hót hay nhất.
2
Chim có lỗ tai không?
Vì chim là động vật bay, nên sự cảm nhận mọi vật
chung quanh chúng, thực ra không phải dễ. Trong lúc
bay chúng phải vận dụng toàn cơ thể, cả thần kinh cũng
như giác quan của chúng để tiếp thu ngoại cảnh.
Thị giác tốt là điều kiện rất quan trọng đối với động
vật bay. Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhất
của loài chim. Theo tỉ lệ kích cỡ của loài vật, mắt chim
lớn hơn mắt của nhiều loài có xương sống khác. Nhiều
loại chim với chỉ một bên mắt có thể thấy cả một vùng
riêng biệt. Các loại khác lại có thể thấy các động vật rất
nhỏ cùng những chi tiết rõ ràng từ đàng xa.
6
https://thuviensach.vn
Điều quan trọng là chim cần phải có thính giác tốt
và bén nhạy. Lỗ tai hay cơ quan thính giác chính là bộ
phận mà loài chim dùng để giữ thăng bằng, định vị và
di chuyển trong không gian.
Đầu chim có mỏ cứng, nhiều loài chim có vị giác
tốt. Chúng có thể nhanh chóng chọn thức ăn thích hợp.
Bay là một động tác đòi hỏi nhiều năng lượng, vì
vậy chu trình sản xuất và tiêu thụ năng lượng của loài
chim xảy ra rất nhanh. Thân nhiệt của chim cao, thường
thường từ 40 đến 450C. Nhịp thở và tốc độ thở của chim
rất ngắn. Ví dụ như nhịp đập của chim sẻ là hơn 500
lần trong 1 phút.
3
Chim có ngửi được không?
Sở dĩ các sinh vật có được và phát triển các giác
quan này vì nó cần thiết cho chúng để sống. Khứu giác
đối với một con thú quan trọng biết là bao. Nhưng đối
với loài chim thì nó lại không quan trọng mấy vì hình
như chim không có khả năng đánh hơi. Khứu giác hình
như hoàn toàn thiếu hẳn trong hầu hết các loài chim.
Vậy thì giác quan nào quan trọng đối với loài chim?
Phần lớn não bộ và hệ thống thần kinh của chim liên hệ
với thị giác và sự thăng bằng vì những thứ ấy rất quan
trọng trong lúc bay. Thị giác chính xác là thiết thân đối
với sinh vật bay. Chim có nhãn lực thật kỳ diệu, với một
7
https://thuviensach.vn
góc nhìn rộng lớn. Nhiều loại chim có thị lực vượt trội.
Mỗi mắt nhìn ra một góc độ chính xác và thấy được cả
khu vực hoàn toàn riêng biệt.
Khả năng của loài chim để phân biệt màu sắc, không
nhiều thì ít, cũng giống loài người. những loại chim đêm
có tầm nhìn rộng lớn. Loại mắt này (như mắt cú) có thể
thu nhận hay tập trung vào ánh sáng mờ.
Hầu hết những thói quen của chim là những khả
năng thiên phú, chúng ta gọi là bản năng. Chim sinh
ra là biết ngay các điều cần thiết để thích ứng với cuộc
sống bình thường. Chúng chẳng cần học hỏi chi nhiều.
4
Loài cú săn mồi như thế nào?
Cú là loài chim săn mồi, chúng là những tay sợ săn
thiện xạ nhất trong việc săn mồi. Dường như mọi phần
trong cơ thể của cú đều hỗ trợ cho cú săn mồi có hiệu quả.
Cú có vuốt nhọn rất mạnh và sắc bén, khi vồ mồi
vuốt của cú giống như hai hàm bẫy kẹp lại. Mỗi ngón
chân là một vuốt nhọn mà cú có thể thay đổi vị trí
từ trước ra sau. Nhiều loại cú có mắt lớn
giúp chúng thấy rõ hơn trong đêm
sáng trăng hay tối trời hơn
là ban ngày. Cú có lỗ
tai nhạy hơn các loài
chim khác. Hai lỗ tai
8
https://thuviensach.vn
có hình thù khác nhau nhưng đều nằm kín dưới lông đầu.
Lông vũ trong đôi cánh của cú có đường viền lông
mềm để khi bay khỏi gây tiếng động và giúp cho việc
săn mồi dễ dàng. Không những cú chỉ nhìn thấy khi trời
tối mà ngay cả những đêm tối như đêm ba mươi chúng
cũng nhìn thấy được.
Cú săn mồi giỏi nhất là lúc tảng sáng, lúc chạng
vạng hay đêm trăng. Chúng có thể nghe tiếng chuột
rúc cách đó rất xa.
Khi cú đậu trên cành để săn mồi mà nghe tiếng động,
nó xù lông và da che lỗ tai để tạo thành một cái phễu lớn
có thể nhận được âm thanh nhỏ nhất. Khi đã xác định vị
trí của con mồi, cú tấn công chớp nhoáng, nhờ đôi cánh
không gây tiếng động và dùng vuốt nhọn vồ lấy mồi.
Cú ăn những loài vật có vú như chuột, sóc, thỏ. Chúng
còn ăn rắn, nhái, chim và cá nữa. Chúng bắt chuột còn
tài hơn là ta dùng bẫy.
5
Tại sao két nói được?
Khi chúng ta nói rằng két và các loại chim khác nói
được có nghĩa là chúng có thể bắt chước tiếng người
ta nói chuyện. Nhưng loài chim không thể dùng từ để
diễn tả những suy tư và cảm nghĩ hay những điều gì
chúng muốn. Có lẽ chúng chỉ nói được vì thích phát ra
những âm thanh.
9
https://thuviensach.vn
Nhiều loại chim bắt chước những âm thanh chúng
nghe được ở chung quanh. Có loại nhái lại tiếng hót của
loại kia, có loại bắt chước được cả những âm thanh do
con người tạo ra như điệu nhạc. Loài chim có ba nhóm
bắt chước được tiếng người: két, nhồng và sáo. Ở Việt
Nam có thêm loài cà cưỡng.
Cơ phận phát âm của loài chim tập nói khác với loài
người về vị trí và cấu trúc. Chim không có thanh quản.
Hầu hết loại chim tập nói không biết hót mặc dù chúng
có thể huýt gió. Chim bắt chước như két, vẹt phải được
huấn luyện từ nhỏ.
Nhưng két và các loại chim bắt chước cũng không dễ
học được tiếng người. Các từ phải được lặp lại nhiều lần
rõ ràng và chậm rãi. Tuy nhiên một khi đã học được một
câu nói hoặc một từ nào thì chúng không bao giờ quên.
Thật ra những từ ấy chẳng có nghĩa gì đối với chúng,
mà chỉ là những âm thanh. Một nhà khoa học đã bỏ công
dạy cho một con két suy nghĩ khi nói ra từ nhưng thất
bại. Một con chim nói rất giỏi nhưng không thể tập cho
nó nói từ “đồ ăn” khi nó đói bụng, hay “nước” khi nó khát.
Khi chim nói “Tôi đói bụng” không có nghĩa là nó đói.
10
https://thuviensach.vn
Nhưng cũng có rất nhiều con két nói được câu “good
morning” vào đúng lúc buổi sáng mà giờ khác thì không
nói. Có lẽ những từ này có nghĩa gì đối với chúng chăng?
6
Tại sao công trống
có cái đuôi đẹp như thế?
Người Anh thường dùng thành ngữ “kiêu hãnh như
công” hay “vô tích sự như công” có lẽ là vì công trống
thích xòe bộ lông đẹp của nó.
Cũng có nhiều điều đáng nói trong việc phô diễn này.
Trước hết là vì con mái. Công mái không có bộ lông đẹp.
Công trống làm như thế vì công mái và chỉ cho công mái thôi.
Việc mà công trống làm, chim khác cũng làm trong
mùa yêu đương. Con trống xòe lông là để tán con mái.
Và rồi trở thành một điệu vũ khi con trống chứng tỏ cho
con mái là nó “đẹp giai”.
Có nhiều người nghĩ rằng công
trống đẹp là nhờ cái đuôi.
Thật ra không phải chỉ
cái đuôi. Phần đẹp là
tất cả phần sau của
con trống. Cái đuôi
nằm cuối phần sau
chỉ là phần hỗ trợ
mà thôi.
11
https://thuviensach.vn
Thời xưa công đã được con người biết đến và chiêm
ngưỡng. Người Hy Lạp và La Mã coi công như loài chim
thiêng. Nhưng đến thời kỳ đế quốc La Mã, người La Mã
chẳng cần để ý gì đến vẻ đẹp của chúng mà chỉ xơi
thịt chúng.
Ấn Độ và các nước Đông Nam Á đều có chim công.
Chỉ có hai loại công có liên hệ với loài chim trĩ.
7
Tại sao đà điểu không bay?
Ở trên không trọng lực lớn hơn ở trên mặt đất, vì
không khí ảnh hưởng rất ít đến trọng lượng của một vật.
Những loài chim bay được nhờ vỗ cánh thì cần phải có
cơ bắp ở ngực thật lớn mới thực hiện được. Một con chim
lớn không có chỗ chứa những cơ bắp như thế. Những
con chim khổng lồ trong các loài chim cũng không bay
được. Đó là loài đà điểu, loài rhea ở Nam Mỹ, loài emu
của Úc và một số con khác nữa. Vì chúng nặng quá
không bay được. Nếu là loại chim khổng lồ thì chẳng
con nào bay được cả.
12
https://thuviensach.vn
Đà điểu có thật sự là chim khổng lồ không? Chắc chắn
rồi. Hiện tại nó là loài chim lớn nhất. Một con đà điểu
cao 2 mét, có khi 2,5 mét, cân nặng 80 kg hay 135 kg.
Trong vài trường hợp chim không thể bay được, đổi lại
chúng chạy rất nhanh. Theo vài chuyên gia thì đà điểu
là loài chim có tốc độ nhanh nhất. Chân lớn, dài và khỏe
nên có thể băng qua sa mạc nhanh hơn ngựa Ả Rập.
Có người nói là họ đã tận mắt nhìn thấy đà điểu chạy
80 cây số giờ. Nhưng những nhà sinh vật học tin rằng
đà điểu có chạy nhanh nhất cũng chỉ từ 45 đến 60 cây
số giờ thôi.
Bước sải của đà điểu khi chạy, chân này cách chân
kia vào khoảng 8,5 mét.
8
Tại sao chim gõ kiến lại gõ
trên thân cây?
Hầu hết chúng ta khi nghe nói chim gõ kiến gõ trên
thân cây đều nghĩ rằng cây sẽ bị hư. Sự thật trái lại.
Chim làm cho cây tươi tốt.
13
https://thuviensach.vn
Trước hết, gõ kiến là loài chim sống nhờ cây, ở trong
bộng cây và ăn cũng ở đấy. Trong những kẻ nứt của
vỏ cây, các loại sâu bọ sống trong ấy. Theo bản năng,
chim gõ kiến tìm kiếm các loại này, có khi bên ngoài
không thấy được. Chim gõ kiến khoét một lỗ nhỏ dẫn
đến ngay chỗ con mồi trú ngụ và ăn chúng, phần lớn
loại này thường phá hoại cây cối.
Làm cách nào chim gõ kiến lách vào được trong cây?
Đó là nhờ cái mỏ cứng và nhọn như một cái đục. Rồi
còn nhờ cái lưỡi. Có loài cái lưỡi dài gấp hai lần cái đầu.
Lưỡi của chim hình tròn, ngoài cùng có ngạnh nhỏ li
ti rất cứng ở hai bên. Lưỡi ở trong mỏ cong lên như cái
lò xo. Khi gõ kiến săn tìm côn trùng, lưỡi có thể búng
xa khỏi mỏ xuống dưới đường rãnh của vỏ cây.
Gõ kiến không chỉ mổ vào cây sống mà còn dùng
mỏ cứng khoét lỗ vào cây khô để làm tổ, chúng thích
những cây có bộng ngược chiều lên.
Có khi gõ kiến khoét hai lỗ, như của trước và cửa
sau. Nhờ đó mà chim có thể thoát nếu có khách không
mời xuất hiện.
9
Chim cánh cụt đẻ trứng ở đâu?
Như các bạn đã biết, chim cánh cụt sống ở Nam cực
nơi băng tuyết phủ dày. Vậy chỗ nào cho chim đẻ trứng?
Suốt mùa đông Nam cực từ tháng hai đến tháng mười
14
https://thuviensach.vn
chim ở biển. Tháng mười là đầu xuân, chúng rời biển
để bắt đầu cuộc hành trình dài đến các nơi vùng đất
sinh sản hay làm tổ.
Chim cánh cụt phải đi bộ, trượt, bơi hay lướt trên biển
băng suốt cả trăm cây số để đến bờ biển đá Nam cực.
Thường thì con trống tới trước, thẳng tới tổ đã xây năm
trước. Tổ làm bằng đá cho nên người ta mới thấy chim
cánh cụt tìm tới miền bờ biển toàn đá để đẻ trứng, như
thế tuyết cũng chẳng ảnh hưởng gì.
Hai vợ chồng cùng nhau xây tổ trước khi đẻ trứng.
Chúng đi tới đi lui, nhặt đá bằng mỏ, rồi thay phiên nhau
canh chừng, nhỡ con này có làm rơi hòn đá nào, thì con
kia xếp lại cho ngăn nắp.
Giữa tháng 11 chim mái đẻ trứng màu trắng xanh.
Đây là giai đoạn hết sức thú vị. Con mái và con trống
thay phiên nhau canh giữ và ấp trứng. Sau một thời gian,
con mái ra biển kiếm ăn, rồi đến phiên con trống, rồi lại
đến phiên con mái đi nhưng phải tính thế nào khi con
mái trở về là bầy con nở ra. Việc thay phiên cứ như thế
tiếp tục cho đến khi bầy con được bốn tuần.
15
https://thuviensach.vn
10
Hải âu bay như thế nào?
Cách đây gần hai trăm năm, Samuel Taylor Coleridge
đã viết một bài thơ nhan đề là “Những vần thơ của người
thủy thủ già” (The Rime of the Ancient Mariner) đó là
một trong những bài thơ nổi tiếng trong văn chương Anh,
nó liên hệ đến những đều xui xẻo xảy đến cho một thủy
thủ khi anh ta giết một con chim hải âu.
Đối với người đi biển lần đầu tiên, con chim khổng
lồ này thực sự có ý nghĩa với một thủy thủ. Người ta tin
rằng phải có một khả năng phi thường chim mới bay
theo tàu qua bao ngày tháng, đôi khi chỉ soải cánh lượn
mà thôi, như thế cũng đã tài, cho nên ai làm hại chim
kẻ ấy sẽ mang họa.
Dĩ nhiên đây chỉ là điều huyền hoặc vì hải âu chỉ
là một con chim, tuy nó có cánh rộng hơn bất cứ một
loài chim nào khác, nhưng bề ngang của nó chỉ độ
22cm, cân nặng 11kg mà sải cánh 3 mét rưỡi, từ đầu
này đến đầu kia.
16
https://thuviensach.vn
Cuộc đời hải âu chỉ để bay. Khi ăn, hải âu thả mình
trên nước như một cái phao, dùng mỏ mổ nhẹ vài con
mực nhỏ, vài con cá, vài miếng ăn thải trên tàu.
Cách bay của hải âu cũng kỳ lạ: có khi nó vút lên cao
mất tăm mất dạng, có khi nó giữ đôi cánh thăng bằng
trên không cho gió nhẹ thổi. Khi cần bay nhanh, gặp
trời thuận gió, tốc độ lên đến 100 dặm một giờ.
Mùa xây tổ, hải âu bay về các đảo Nam cực khô
cằn. Hải âu mẹ chỉ đẻ một trứng trong cái tổ làm bằng
cỏ và đất sét. Vợ chồng hải âu chăm con cho đến ngày
chim con biết bay.
11
Kên kên có “đánh hơi” được
xác chết?
Kên kên là chim săn mồi loại lớn. Từ “kên kên” tượng
trưng cho loài chim sống bằng cách ăn thịt các động
vật khác.
Kên kên thuộc họ chim ưng, ó, diều hâu. Có năm loại
kên kên ở Bắc và Nam Mỹ. Kên kên gà tây, kên kên
đen, kên kên hoàng đế, kên kên
Cali và kên kên Nam Mỹ.
Hầu hết các loại kên
kên sống bằng thịt
súc vật chết, nên
người ta ít thích
17
https://thuviensach.vn
chúng. Thật ra, khi bay loài chim này trông cũng đáng
yêu, nhìn cách bay của chúng trên không, người ta cũng
thán phục. Nhưng khi phát giác một con vật chết, chúng
ào xuống cả bầy và dùng đôi mỏ quặp xé xác con mồi
trong nháy mắt.
Loại kên kên Nam Mỹ ít ăn xác chết hơn, chúng
thường ăn trứng, các loại chim hải âu nhỏ và các động
vật có vú khác.
Làm sao kên kên đánh hơi xác chết nhanh thế? Nhiều
cuộc thí nghiệm đã được thực hiện để tìm ra câu trả lời.
Chúng ta biết rằng kên kên có thị lực mạnh hơn thị lực
của con người nhiều. Từ xa, mắt chúng có thể thấy các
vật nhỏ nhưng khứu giác của chúng thì mù tịt, đó cũng
là điều chúng ta băn khoăn sao chúng lại định vị xác
chết chính xác như thế.
Nhân đây cũng xin nói thêm, các trại hạ thịt phương
tây rất cần kên kên vì những phần phế thải sau khi mổ,
có thể để cho kên kên ăn mà người ta khỏi tốn công
dọn dẹp.
18
https://thuviensach.vn
CÁ
12
Tổ tiên loài cá có hình dạng
thế nào?
Cách đây năm trăm triệu năm chưa có loài cá. Các
thủy tra thạch chứng minh rằng thủy tổ loài cá chỉ xuất
hiện ở thời đại Đồ đá cũ cách đây 460 triệu năm, nhưng
cũng chưa xác quyết loài cá xuất hiện là cá nước ngọt
hay cá nước mặn.
Vào thời đại Đồ đá mới, tổ tiên sơ khai của loài cá
chưa có hàm.
Thời đại tiếp theo, cá xuất hiện khắp nơi trên hành
tinh này. Cá là loài vật rất phổ biến nên có khi người ta
gọi thời đại này là Thời đại Thủy Ngư.
Trong thời đại này
cá không hàm và
cá có hàm đầy rẫy,
nhưng vì sự xuất hiện
của cá có hàm nên cá
không hàm dần dần bị
tuyệt chủng. Nhờ có
hàm nên cá đã khám
19
https://thuviensach.vn
phá những nguồn thực phẩm đa dạng để tự nuôi sống
thoải mái hơn.
Loài cá có hàm sơ khai gọi là phacoderms. Hàm phát
triển nhờ một dãy mang cong được tìm thấy ở loài cá
không hàm. Mang cong này là giá đỡ xương của mang.
Có vô số chủng loại phacoderms ở thời đại này. Có
loại sống ở đáy biển, có loại ở lưng chừng. Có loại có
răng lớn và dài nhọn hoắt, độ 10 mét.
Từ loại cá phacoderms (sơ kỳ Thời đại Đồ đồng) mới
đến loại cá ngày nay, các loại cá mập và cá có xương
khác. Cá mập có bộ xương toàn vẹn. Cá có xương là
loài có bộ xương cứng.
13
Cá sinh sản như thế nào?
Hầu hết cá đẻ trứng, trứng chìm hay nổi trên mặt
nước. Vỏ ngoài của trứng là một chất trong suốt; ở trong,
trứng được tạo ra bởi lòng đỏ hay chất nguyên sinh. Chất
nguyên sinh là chất sống để tạo thành con cá tương lai.
Lòng đỏ, cũng giống lòng đỏ của trứng gà, nuôi dưỡng
cho cá lớn.
Tế bào trứng thụ tinh nhờ tinh dịch của cá đực, tinh
dịch này đi qua màng vỏ vào trứng bằng lỗ nhỏ ngay
trên tế bào và chỉ có một lỗ nhỏ độc nhất này mà thôi.
Tinh dịch đi qua chỉ một trứng thụ tinh.
Khi mầm sống trong trứng bắt đầu, sự tách bào dần
20
https://thuviensach.vn
dần tượng hình con cá, chỗ phình ra là cái đầu, rồi đến
phần thân và cuối cùng là cái đuôi.
Cái phôi cá này bắt đầu lớn dần trong trứng. Sau một
số ngày nhất định, màng vỏ mềm đi, phôi bung ra khỏi
vỏ, tự do trôi nổi và lớn dần thành cá.
Như vậy là cá đẻ trứng và thụ tinh bên ngoài.
Có loại cá sinh con như cá gươm, cá kiểng guppy hay
cá molly. Trứng thụ tinh trong cơ thể cá cái và thành cá
non, sau một thời gian sẽ được sinh ra.
14
Có phải tất cả cá đều đẻ trứng?
Hầu hết cá đều đẻ trứng và những trứng này thụ tinh
ở ngoài cơ thể. Cá đẻ trứng gọi là oviparous, cá sinh
con là viviparous.
Cá sinh con là các loại cá gươm, cá kiểng guppy, cá
molly, cá mỏ vịt. Trứng được thụ tinh trong cơ thể cá cái
và lớn dần thành cá con và được sinh ra vào thời gian
thích hợp, độ 21 ngày sau khi thụ tinh (đối với cá mỏ vịt).
Số trứng cá đẻ ra và được thụ tinh cũng thay đổi
nhiều tùy theo loại cá. Có loại cá đẻ trứng xong là bỏ
đi, chẳng ngó ngàng gì đến đám trứng nữa. Loại này
đẻ rất nhiều trứng. Loại cá chăm con đẻ ít trứng hơn.
Cá đẻ hai loại trứng: thứ nổi và thứ chìm. Loại nổi
gọi là pelagic (ở trên mặt biển), thường nhỏ, trong suốt
21
https://thuviensach.vn
và có ít lòng đỏ. Trứng chìm gọi là demersal, thường thì
nặng hơn và có nhiều lòng đỏ.
Ví dụ như cá mòi đẻ trứng chìm, một lần từ 20.000 đến
40.000 trứng; và đẻ xong là đi. Trái lại, cá thu đẻ trứng
nổi, cá thu cỡ trung có thể đẻ một lần một triệu trứng.
Có mùa, cá nục bông chỉ đẻ 50.000 trứng nhưng cũng
có mùa số này lên tới 400.000 hoặc 500.000 trứng. Cá
bơn lớn có thể đẻ 2 triệu trứng.
Có nhiều cỡ trứng. Trứng cá mòi đường kính 1 ly, cá
thu 1,5 ly, cá bơn 3 ly. Trứng được canh chừng cho đến
khi nở ra, rồi cá con lớn và sống sót; tuy nhiên hàng
triệu trứng cũng bị các sinh vật khác ăn.
22
https://thuviensach.vn
15
Làm thế nào cá có thể
đánh hơi?
Điều làm mọi người ngạc nhiên là cá cũng ngửi được
như các loài vật khác. Cá ngửi được mùi nhờ mũi.
Cá có hai lỗ mũi, mỗi lỗ có hai ống dẫn, thường gọi
là lỗ thoát hơi. Một ống dẫn ở phía trước và ống thứ hai
ở ngay sau. Hai ống cách nhau bởi một màng chắn nhỏ.
Mũi có thể nằm ở nhiều nơi trên mặt. Đó là sự thật, vì
mũi cá rất đa dạng.
Nước chảy vào và thoát ra theo lỗ thoát hơi, vào phía
trước và ra phía sau. Khi nước chảy qua làm kích thích tế
bào khứu giác khiến cá nhận biết mùi. Nhiều loại cá có
khứu giác nhạy bén, phân biệt được cả vật thể nhỏ li ti.
Thật ra, khứ giác quan trọng đối với cá trong việc tìm
đường về chỗ cư trú. Chẳng hạn như cá hồi nhờ đánh
hơi mà về được chỗ cũ để đẻ trứng. Làm sao được như
vậy, các nhà khoa học tin rằng từ lúc nhỏ cá đã quen
hơi với dòng sông cũ.
16
Cá có ngủ không?
Làm thế nào bạn có thể ngủ được khi mắt bạn mở!
Không thể, bạn phải nhắm mắt mới ngủ được. Cho nên
hầu hết cá không ngủ như chúng ta, vì chúng không có
mí mắt để khép mở. Nhưng chúng có thể nghỉ ngơi khi
23
https://thuviensach.vn
ánh sáng tối đi. Có vài loại cá, như cá cò, có thể nằm
nghiêng một bên để nghỉ ngơi.
Phần lớn mắt cá cũng giống như mắt chúng ta, nhưng
cũng có vài khác biệt, như cá có thể thấy ở dưới nước
trong lúc chúng ta phải ra khỏi nước mới thấy được. Ở
loài cá cũng có mống mắt bao quanh tinh thể như người.
Mống mắt mở gọi là con ngươi. Đối với hầu hết các loại
cá, con người luôn luôn mở một độ lớn như nhau. Có
nghĩa là cá không điều tiết mắt như người, mở lớn khi
ánh sáng mờ, khép lại khi ánh sáng chói chang. Vì vậy,
khi ta mở đèn sáng, cá bị hoa mắt. Mắt chúng không
điều tiết được như người. Tuy nhiên cũng có loại cá mà
con ngươi có thể điều tiết được. Cá không chảy nước
mắt vì không có tuyến lệ. Luôn luôn ở trong nước, nên
mắt cá lúc nào cũng ướt.
Hầu hết các loại cá có mắt ở hai bên đầu, nên mỗi mắt
thấy được những hình ảnh khác nhau, tầm nhìn của chúng
rất rộng ở mỗi bên, thị trường của cá lớn hơn thị trường
của chúng ta nhiều. Cá thấy được trước sau, trên dưới.
Cá chỉ tập trung cả hai mắt khi có một vật ở trước mắt.
Nhiều thí nghiệm cho thấy có loại cá biết được màu.
Chúng phân biệt được màu đỏ với màu xanh lá cây, có
khi cả màu xanh và màu vàng, nhưng không phải loại
cá nào cũng được đem ra thí nghiệm, nên không thể
khẳng định mọi loài cá đều phân biệt được màu sắc.
Hơn nữa, có nhiều sự khác biệt với từng chủng loại cá.
24
https://thuviensach.vn
17
Vì sao người ta nói cá heo
thông minh?
Cá heo là loại cá voi nhỏ, dài khoảng từ 1m đến
3,5m. Cho dù gọi tên là dolphin hay porpoise thì cũng
vì sở thích mà thôi, tên nào cũng đúng.
Có nhiều lý do để các khoa học gia cho rằng cá heo
cực kỳ thông minh. Có nhiều con bắt chước tiếng người
khá rõ ràng mà không phải tập gì cả. Chúng cũng học
để hiểu tiếng người và trả lời.
Nghiên cứu sinh lý về tập tính của cá heo có hai lý
do để kết luận rằng chúng thông minh. Cá heo có sáng
kiến trong các trò chơi, như khi thấy một chiếc lông nổi
lên mặt hồ cá, chúng đem đến vòi nước cho bắn tung
lên, rồi sau đó đuổi theo, lấy cho được chiếc lông để
đưa vào vòi nước trở lại.
Chúng lại có sáng kiến tạo ra trò chơi với phao cứu
hộ. Chúng tung phao lên cho người đứng trên bờ và chờ
đợi người ta ném xuống để bắt lấy.
25
https://thuviensach.vn
Cá heo cũng biết xử lý một vài việc, như khi ta để
một miếng đồ ăn kẹt dưới hòn đá, thế nào chúng cũng
làm bung ra cho được.
Người ta cũng chưa thử nghiệm cá heo thông minh
đến mức nào vì chỉ mới có thử nghiệm về sự thông minh
cho hai loài vật là chó và khỉ.
18
Cá voi xanh được tìm thấy ở đâu?
Trước hết cá voi xanh là loại cá gì? Dĩ nhiên đối với
chúng ta cá voi là cá voi. Chúng ta cũng chưa phân biệt
được nhiều loại cá voi khác nhau.
Các nhà khoa học chia cá voi ra làm hai loại: Odontoceti và Mysticeti. Odontoceti có nghĩa là “cá voi có
răng”, Mysticeti ý nói là “cá voi có ria mép”. Hàng ria
này là xương của cá voi, nó thường nằm trên nóc họng.
Loại xương này là sụn có nhiều chất xơ, viền phía trong
của miệng. Nhờ loại xương này cá voi có thể phân loại
một số lượng lớn thực phẩm trong nước.
Cá voi có “ria mép” là những sinh vật lớn nhất đã
từng có mặt trên Trái đất, nó lớn hơn cả khủng long?
Phải, cá voi xanh loại lớn nhất có chiều dài đo được 30
mét và cân nặng 110 tấn, loài khủng long lớn nhất cũng
không thể có kích cỡ ấy.
Cá voi “ria mép” có 3 loại: cá voi thẳng, cá voi vây và
cá voi xám. Cá voi xanh là chủng loại lớn nhất trong họ
cá voi vây. Bạn chưa có cơ may thấy được một con cá
26
https://thuviensach.vn
voi như thế đang lội đâu
đó, nhưng thật ra người
ta cũng đã thấy chúng
ở các vùng biển của trái
đất trước đây. Chẳng có
vùng biển hay đại dương
nào đặc biệt thích nghi với
chúng.
Loại cá voi khổng lồ
này sống nhờ các sinh vật nhỏ như cá tôm hay ngao
sò ốc hến. Cá voi hớp một ngụm nước đầy miệng, ngậm
lại, dùng lưỡi ấn trên các xương “ria mép” mọc chỉa
xuống từ hàm trên. Làm như thế, chỉ có nước thoát ra,
còn đồ ăn vẫn ở lại trong miệng. Vì hoạt động này mà
người ta còn gọi nó là cá voi răng lược.
Cá voi “ria mép” khác với cá voi có răng nhiều nên
người ta cũng tin rằng hai loại này, tuy có liên hệ chủng
loại nhưng khác xa nhau.
19
Cá mập ăn gì?
Có 250 loại cá mập khác nhau, tùy theo kích cỡ từ
0,5m đến loại cá mập khổng lồ dài 15 hoặc 18 mét. Có
loại cá mập ăn thịt người không? Có, có 27 loại được
biết là tấn công người, trong đó có cá mập trắng, cá mập
đầu búa, cá mập cọp, cá mập chanh và cá mập mako.
27
https://thuviensach.vn
Nhưng chẳng có cá mập nào ăn thịt người cả. Cá
mập phần lớn sống nhờ vào các loại cá xương, mực và
các động vật giáp xác như tôm he, tôm hùm. Chúng
cũng ăn cả rùa, cá heo và chim. Có vài loại cá mập lại
ăn cá mập khác.
Cá mập lớn nhất là cá mập voi chỉ ăn những sinh
vật nhỏ nhất, như cá nhỏ hoặc sinh vật sống bằng rong
biển. Muốn tìm thức ăn, cá mập nhờ vào lỗ mũi. Cá mập
càng đói mồi lỗ mũi càng thính.
Cá mập thường lội quanh con mồi trước khi tấn công.
Cá mập đuôi thường dùng đuôi dài để gom con mồi lại.
Chúng quẫy đuôi từ bên này sang bên kia, có khi làm
con mồi chết khiếp bằng những cú phóng cực mạnh.
Thường thường một bầy cá mập cũng tạo nên cảnh
hồi hộp vì gặp gì chúng ăn nấy, chẳng bỏ sót cái nào.
Càng ăn càng táo tợn. Trong trường hợp này, chúng dám
ăn cả vỏ xe, lon đồ hộp, guốc, thuyền câu hay bất kỳ
28
https://thuviensach.vn
vật gì khác khi chúng bắt gặp. Các nhà khoa học gọi
đó là hội chứng ẩm thực cuồng bạo. Khi hội chứng này
xảy ra thì dầu cho cá mập loại nhỏ nhất hay khù khờ
nhất cũng rất nguy hiểm.
20
Cá ngựa đực có sinh con không?
Có người mua cá ngựa về bỏ hồ cá mà cứ thắc mắc
“con đực mà có chửa”. Cũng đúng thôi, cho dù đó là
không thật.
Cá ngựa đúng thuộc con vật kỳ lạ. Cái đầu thì như
con ngựa con, cái mình thì như con rồng tí hon. Nhiều
lúc cá ngựa bơi thẳng đứng trong nước nhờ cái vây độc
nhất trên lưng.
Nhưng cá ngựa là loài cá. Có trên 50 chủng loại cá
ngựa ở các biển ôn đới và nhiệt đới, nếu sắp xếp theo
kích cỡ, chúng thay đổi từ 5cm đến 30cm.
Điều đặc biệt nhất ở cá
ngựa là cách săn sóc trứng.
Con cái đẻ khoảng 200 trứng
vào trong một cái bọc đặt
trong cơ thể con đực ở ngay
trên đuôi. Sau 40 đến 50
ngày, con đực phá vỡ bọc và
cá con trôi ra. Vì vậy người ta
cứ tưởng là con đực đẻ con.
29
https://thuviensach.vn
Sau khi nở, cá con vẫn ở trong bọc của cá đực cho
đến ngày khôn lớn tự sinh sống được. Cá ngựa ăn các
sinh vật nhỏ ở biển và trứng của các loại cá khác, chúng
không ăn vật chết.
Từ xưa, đàn ông đã bái phục cá ngựa. Hình cá ngựa
chạm trên quan tài xác ướp của người Ai Cập. Ở Trung
Hoa xưa, người ta nghiền cá ngựa thành bột để chữa
bệnh. Còn ở Ý, cá ngựa là một điềm lành.
21
Sứa sinh sản cách nào?
Một trong những loại sứa thông thường nhất trên thế
giới là sứa nón, nó có những sợi râu dài, trắng như sữa,
thả lòng thòng từ thân sứa vốn tròn như cái ly.
Trên mặt sứa nón có hoa văn màu cam hay hồng với
bốn cánh như hoa điệp, đó là bộ phận sinh sản. Sứa
đực nhả ra tinh dịch qua đường miệng vào nước. Sứa
cái sản xuất trứng. Trứng ở trong cơ thể cá cho đến khi
gặp tinh dịch trong nước thì thụ tinh.
Trứng lớn dần trong bốn ống dài thả lòng thòng từ
30
https://thuviensach.vn
miệng sứa. Khi trứng nở, sứa con ở dưới đáy đại dương,
chúng phát triển thành một hình dạng khác cha mẹ
chúng, gọi là polyps (có nhiều chân).
Polyp con hút thức ăn bằng những vòi nhỏ và lớn lên
sau nhiều tháng. Sau đó một hiện tượng lạ xảy ra. Con
polyp lớn dần thành những rãnh, lúc ấy con polyp giống
như một chồng đĩa trà, từng đĩa một sẽ rời xa và bơi đi
khỏi con polyp và trở thành một con sứa nhỏ.
Rõ ràng cách sống và cách sinh sản của sứa khá hoàn
hảo. Sứa đã liên tục sinh sản như thế hơn 600 triệu năm.
Sứa là loài có đời sống xưa nhất trên Trái đất và ít thay đổi.
Cũng nên nói rõ là sứa không phải là loài cá thật sự
vì cá thì phải có xương sống, sứa không có xương sống.
Toàn thân gồm những bao trong như thạch, ở trong rỗng.
22
Lươn và chình sống ở đâu?
Lươn hay chình đều là cá, vì có xương sống, sống
dưới nước và thở bằng mang. Chúng có máu lạnh, có
nghĩa là thân nhiệt thay đổi theo nhiệt độ bên ngoài.
Chình phần lớn sống ở biển. Có vài loại sống ở nước
ngọt phần lớn thời gian, nhưng cũng có một giai đoạn
ngắn chúng sống ở nước mặn. Chình đẻ trứng trong
nước mặn.
Chình quen thuộc nhất với cư dân Bắc Mỹ là chình
nước ngọt. Chúng ở dưới hồ ao và những con sông chảy
31
https://thuviensach.vn
ra Đại Tây Dương. Chình biển sống trong nước mặn, dọc
theo bờ biển đá của miền Nam Cali và dọc theo bờ biển
vịnh Mexico, cùng bờ biển Đại Tây Dương của nước Mỹ.
Cá chình ăn nhiều loại thức ăn như cá chết hoặc các
sinh vật nhỏ. Ban đêm chình trở nên rất hoạt động. Đôi
khi vào lúc xế chiều bạn có htể thấy những con chình
nhỏ xíu đang sục tìm thức ăn ở chỗ vùng biển cạn. Thấy
người, chúng liền chui xuống cát.
Da lươn hay chình trơn bóng và nhơn nhớt vì dịch
nhầy, nhưng cũng có nhiều vảy nhỏ li ti trên da loài lươn
hay chình nước ngọt.
Chình nước ngọt sống xa nơi đẻ trứng. Chúng đẻ
trứng trong nước mặn dù chúng sống trong nước ngọt.
Có vài loại cá có thể bơi từ biển vào nước ngọt, hay từ
nước ngọt ra biển mà không chết. Những nhà sinh vật
học nghĩ rằng nước nhờn ở cơ thể giúp cho chình ít bị
ảnh hưởng bởi sự thay đổi này.
Chình biển hay chình nước ngọt cũng như các loại
chình khác có khả năng vượt trội trong việc chữa lành
các vết thương, mà cá thì không thể. Trong máu của
chình hay lươn có chất ngăn ngừa viêm nhiễm.
32
https://thuviensach.vn
RẮN VÀ RÙA
23
Bao lâu rắn lột da một lần?
Có hai ngàn loài rắn khác nhau. Chúng sống trên
mặt đất, trong lòng đất, dưới nước và trên cây. Nhưng
tất cả loài rắn, trẻ cũng như già, đều lột da.
Khi lột da, ngay cả màng mắt của rắn cũng lột luôn.
Trong suốt tiến trình lột da, da được biến đổi từ trong ra
ngoài. Rắn lột da nhờ chạm vào những bề mặt nhám.
Một năm rắn lột da nhiều lần.
Da rắn có vảy, vảy này rất quan trọng đối với rắn.
Nói chung rắn không có chân, mặc dầu có vài loại như
trăn Nam Mỹ và trăn nhiệt đới phần đuôi có chân sau,
những chân này gắn chặt vào các cơ, chỉ như cái cựa
hay cái móng lòi ra bên ngoài cơ thể.
Nhờ có vảy trên da làm cho rắn lướt đi nhẹ nhàng và
nhanh chóng. Vảy lớn ở bụng giúp rắn trườn tới trong
khi các vảy ở đuôi nhờ sự lồi lõm của đất mà đẩy phụ,
lực đẩy này làm cho toàn thân rắn vươn tới.
Khi rắn muốn bò nhanh, nó còn “độc chiêu” khác nữa,
đó là lắc lư thân thể hai bên sườn tạo nên những vòng
tròn như khi gặp đá hoặc các cây con, lướt đi theo con
đường ngoằn ngoèo do các vòng ấy tạo nên.
33
https://thuviensach.vn
Rắn có liên hệ sinh học với các loài máu lạnh có
xương sống khác, như rắn mối, cá sấu Nam Mỹ, cá sấu
nhiệt đới, rùa và ba ba.
24
Rắn phun nọc độc cách nào?
Ở một vài loại rắn độc, hạch nước miếng sản xuất
chất độc để giết con mồi. Đó là nọc rắn. Có loại rắn
nọc độc mạnh có thể làm chết con voi. Các loại khác
có nọc độc nhẹ hơn, chỉ giết được thằn lằn, rắn mối.
Trong số 412 loại rắn, chỉ có 200 loại rắn độc gây nguy
hại cho con người.
Có hai loại rắn châu P...
https://thuviensach.vn
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Hãy trả lời em tại sao?. T.10 / Liễu Nga Đoan d. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
216tr. ; 19cm.
1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Liễu Nga Đoan d.
001 -- dc 22
H412
https://thuviensach.vn
Liễu Nga Đoan dịch
https://thuviensach.vn
4
https://thuviensach.vn
chim
1
Tại sao chim hót?
Tiếng chim hót hay tiếng chim gọi bầy mà chúng ta
thường nghe vào mùa xuân là một phần của các cuộc
tán tỉnh trước khi giao phối.
Chim trống hót để gọi bạn tình. Khi chim trống và
chim mái tìm đến nhau, chim trống hót nhiều hơn để gọi
chim mái. Với nhiều loài chim, con mái cũng biết hót trả.
Không phải chim nào cũng hót được. Có những loài
chim như cò, bồ nông không hót được. Thanh quản của
loài chim có khác với thanh quản của con người.
Thanh quản loài người nằm trong họng ở cuối phần
trên của khí quản.
Ở loài chim có bộ phận đơn giản hơn nằm ở cuối
phần dưới của khí quản theo cấu trúc gọi là ống minh
quản, bộ phận này
rung được.
Nhiều loài chim có
tiếng hót khác nhau là
nhờ ở cấu trúc này, đó
5
https://thuviensach.vn
là bộ phận được điều khiển bởi một số cơ bắp và thay
đổi theo từng loại chim.
Ngoài tiếng hót, chim còn có những âm thanh khác,
đó là tiếng cảnh báo cho đồng loại hay tiếng báo động
chung cho các loài khi gặp hiểm nguy.
Nếu một chú rắn tiến gần tới tổ chim, tiếng báo động
phát ra, các loại chim trong khu vực đến giải cứu. Âm
thanh và tiếng báo động của chim có thể nghe thấy
trong suốt cả năm, nhưng tiếng hót lại thường được nghe
trong mùa xây tổ.
Tiếng hót cũng khác nhau nhờ âm giai, tấu khúc, nhịp
điệu và chất lượng. Người ta cho rằng chim họa mi là
loài hót hay nhất.
2
Chim có lỗ tai không?
Vì chim là động vật bay, nên sự cảm nhận mọi vật
chung quanh chúng, thực ra không phải dễ. Trong lúc
bay chúng phải vận dụng toàn cơ thể, cả thần kinh cũng
như giác quan của chúng để tiếp thu ngoại cảnh.
Thị giác tốt là điều kiện rất quan trọng đối với động
vật bay. Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhất
của loài chim. Theo tỉ lệ kích cỡ của loài vật, mắt chim
lớn hơn mắt của nhiều loài có xương sống khác. Nhiều
loại chim với chỉ một bên mắt có thể thấy cả một vùng
riêng biệt. Các loại khác lại có thể thấy các động vật rất
nhỏ cùng những chi tiết rõ ràng từ đàng xa.
6
https://thuviensach.vn
Điều quan trọng là chim cần phải có thính giác tốt
và bén nhạy. Lỗ tai hay cơ quan thính giác chính là bộ
phận mà loài chim dùng để giữ thăng bằng, định vị và
di chuyển trong không gian.
Đầu chim có mỏ cứng, nhiều loài chim có vị giác
tốt. Chúng có thể nhanh chóng chọn thức ăn thích hợp.
Bay là một động tác đòi hỏi nhiều năng lượng, vì
vậy chu trình sản xuất và tiêu thụ năng lượng của loài
chim xảy ra rất nhanh. Thân nhiệt của chim cao, thường
thường từ 40 đến 450C. Nhịp thở và tốc độ thở của chim
rất ngắn. Ví dụ như nhịp đập của chim sẻ là hơn 500
lần trong 1 phút.
3
Chim có ngửi được không?
Sở dĩ các sinh vật có được và phát triển các giác
quan này vì nó cần thiết cho chúng để sống. Khứu giác
đối với một con thú quan trọng biết là bao. Nhưng đối
với loài chim thì nó lại không quan trọng mấy vì hình
như chim không có khả năng đánh hơi. Khứu giác hình
như hoàn toàn thiếu hẳn trong hầu hết các loài chim.
Vậy thì giác quan nào quan trọng đối với loài chim?
Phần lớn não bộ và hệ thống thần kinh của chim liên hệ
với thị giác và sự thăng bằng vì những thứ ấy rất quan
trọng trong lúc bay. Thị giác chính xác là thiết thân đối
với sinh vật bay. Chim có nhãn lực thật kỳ diệu, với một
7
https://thuviensach.vn
góc nhìn rộng lớn. Nhiều loại chim có thị lực vượt trội.
Mỗi mắt nhìn ra một góc độ chính xác và thấy được cả
khu vực hoàn toàn riêng biệt.
Khả năng của loài chim để phân biệt màu sắc, không
nhiều thì ít, cũng giống loài người. những loại chim đêm
có tầm nhìn rộng lớn. Loại mắt này (như mắt cú) có thể
thu nhận hay tập trung vào ánh sáng mờ.
Hầu hết những thói quen của chim là những khả
năng thiên phú, chúng ta gọi là bản năng. Chim sinh
ra là biết ngay các điều cần thiết để thích ứng với cuộc
sống bình thường. Chúng chẳng cần học hỏi chi nhiều.
4
Loài cú săn mồi như thế nào?
Cú là loài chim săn mồi, chúng là những tay sợ săn
thiện xạ nhất trong việc săn mồi. Dường như mọi phần
trong cơ thể của cú đều hỗ trợ cho cú săn mồi có hiệu quả.
Cú có vuốt nhọn rất mạnh và sắc bén, khi vồ mồi
vuốt của cú giống như hai hàm bẫy kẹp lại. Mỗi ngón
chân là một vuốt nhọn mà cú có thể thay đổi vị trí
từ trước ra sau. Nhiều loại cú có mắt lớn
giúp chúng thấy rõ hơn trong đêm
sáng trăng hay tối trời hơn
là ban ngày. Cú có lỗ
tai nhạy hơn các loài
chim khác. Hai lỗ tai
8
https://thuviensach.vn
có hình thù khác nhau nhưng đều nằm kín dưới lông đầu.
Lông vũ trong đôi cánh của cú có đường viền lông
mềm để khi bay khỏi gây tiếng động và giúp cho việc
săn mồi dễ dàng. Không những cú chỉ nhìn thấy khi trời
tối mà ngay cả những đêm tối như đêm ba mươi chúng
cũng nhìn thấy được.
Cú săn mồi giỏi nhất là lúc tảng sáng, lúc chạng
vạng hay đêm trăng. Chúng có thể nghe tiếng chuột
rúc cách đó rất xa.
Khi cú đậu trên cành để săn mồi mà nghe tiếng động,
nó xù lông và da che lỗ tai để tạo thành một cái phễu lớn
có thể nhận được âm thanh nhỏ nhất. Khi đã xác định vị
trí của con mồi, cú tấn công chớp nhoáng, nhờ đôi cánh
không gây tiếng động và dùng vuốt nhọn vồ lấy mồi.
Cú ăn những loài vật có vú như chuột, sóc, thỏ. Chúng
còn ăn rắn, nhái, chim và cá nữa. Chúng bắt chuột còn
tài hơn là ta dùng bẫy.
5
Tại sao két nói được?
Khi chúng ta nói rằng két và các loại chim khác nói
được có nghĩa là chúng có thể bắt chước tiếng người
ta nói chuyện. Nhưng loài chim không thể dùng từ để
diễn tả những suy tư và cảm nghĩ hay những điều gì
chúng muốn. Có lẽ chúng chỉ nói được vì thích phát ra
những âm thanh.
9
https://thuviensach.vn
Nhiều loại chim bắt chước những âm thanh chúng
nghe được ở chung quanh. Có loại nhái lại tiếng hót của
loại kia, có loại bắt chước được cả những âm thanh do
con người tạo ra như điệu nhạc. Loài chim có ba nhóm
bắt chước được tiếng người: két, nhồng và sáo. Ở Việt
Nam có thêm loài cà cưỡng.
Cơ phận phát âm của loài chim tập nói khác với loài
người về vị trí và cấu trúc. Chim không có thanh quản.
Hầu hết loại chim tập nói không biết hót mặc dù chúng
có thể huýt gió. Chim bắt chước như két, vẹt phải được
huấn luyện từ nhỏ.
Nhưng két và các loại chim bắt chước cũng không dễ
học được tiếng người. Các từ phải được lặp lại nhiều lần
rõ ràng và chậm rãi. Tuy nhiên một khi đã học được một
câu nói hoặc một từ nào thì chúng không bao giờ quên.
Thật ra những từ ấy chẳng có nghĩa gì đối với chúng,
mà chỉ là những âm thanh. Một nhà khoa học đã bỏ công
dạy cho một con két suy nghĩ khi nói ra từ nhưng thất
bại. Một con chim nói rất giỏi nhưng không thể tập cho
nó nói từ “đồ ăn” khi nó đói bụng, hay “nước” khi nó khát.
Khi chim nói “Tôi đói bụng” không có nghĩa là nó đói.
10
https://thuviensach.vn
Nhưng cũng có rất nhiều con két nói được câu “good
morning” vào đúng lúc buổi sáng mà giờ khác thì không
nói. Có lẽ những từ này có nghĩa gì đối với chúng chăng?
6
Tại sao công trống
có cái đuôi đẹp như thế?
Người Anh thường dùng thành ngữ “kiêu hãnh như
công” hay “vô tích sự như công” có lẽ là vì công trống
thích xòe bộ lông đẹp của nó.
Cũng có nhiều điều đáng nói trong việc phô diễn này.
Trước hết là vì con mái. Công mái không có bộ lông đẹp.
Công trống làm như thế vì công mái và chỉ cho công mái thôi.
Việc mà công trống làm, chim khác cũng làm trong
mùa yêu đương. Con trống xòe lông là để tán con mái.
Và rồi trở thành một điệu vũ khi con trống chứng tỏ cho
con mái là nó “đẹp giai”.
Có nhiều người nghĩ rằng công
trống đẹp là nhờ cái đuôi.
Thật ra không phải chỉ
cái đuôi. Phần đẹp là
tất cả phần sau của
con trống. Cái đuôi
nằm cuối phần sau
chỉ là phần hỗ trợ
mà thôi.
11
https://thuviensach.vn
Thời xưa công đã được con người biết đến và chiêm
ngưỡng. Người Hy Lạp và La Mã coi công như loài chim
thiêng. Nhưng đến thời kỳ đế quốc La Mã, người La Mã
chẳng cần để ý gì đến vẻ đẹp của chúng mà chỉ xơi
thịt chúng.
Ấn Độ và các nước Đông Nam Á đều có chim công.
Chỉ có hai loại công có liên hệ với loài chim trĩ.
7
Tại sao đà điểu không bay?
Ở trên không trọng lực lớn hơn ở trên mặt đất, vì
không khí ảnh hưởng rất ít đến trọng lượng của một vật.
Những loài chim bay được nhờ vỗ cánh thì cần phải có
cơ bắp ở ngực thật lớn mới thực hiện được. Một con chim
lớn không có chỗ chứa những cơ bắp như thế. Những
con chim khổng lồ trong các loài chim cũng không bay
được. Đó là loài đà điểu, loài rhea ở Nam Mỹ, loài emu
của Úc và một số con khác nữa. Vì chúng nặng quá
không bay được. Nếu là loại chim khổng lồ thì chẳng
con nào bay được cả.
12
https://thuviensach.vn
Đà điểu có thật sự là chim khổng lồ không? Chắc chắn
rồi. Hiện tại nó là loài chim lớn nhất. Một con đà điểu
cao 2 mét, có khi 2,5 mét, cân nặng 80 kg hay 135 kg.
Trong vài trường hợp chim không thể bay được, đổi lại
chúng chạy rất nhanh. Theo vài chuyên gia thì đà điểu
là loài chim có tốc độ nhanh nhất. Chân lớn, dài và khỏe
nên có thể băng qua sa mạc nhanh hơn ngựa Ả Rập.
Có người nói là họ đã tận mắt nhìn thấy đà điểu chạy
80 cây số giờ. Nhưng những nhà sinh vật học tin rằng
đà điểu có chạy nhanh nhất cũng chỉ từ 45 đến 60 cây
số giờ thôi.
Bước sải của đà điểu khi chạy, chân này cách chân
kia vào khoảng 8,5 mét.
8
Tại sao chim gõ kiến lại gõ
trên thân cây?
Hầu hết chúng ta khi nghe nói chim gõ kiến gõ trên
thân cây đều nghĩ rằng cây sẽ bị hư. Sự thật trái lại.
Chim làm cho cây tươi tốt.
13
https://thuviensach.vn
Trước hết, gõ kiến là loài chim sống nhờ cây, ở trong
bộng cây và ăn cũng ở đấy. Trong những kẻ nứt của
vỏ cây, các loại sâu bọ sống trong ấy. Theo bản năng,
chim gõ kiến tìm kiếm các loại này, có khi bên ngoài
không thấy được. Chim gõ kiến khoét một lỗ nhỏ dẫn
đến ngay chỗ con mồi trú ngụ và ăn chúng, phần lớn
loại này thường phá hoại cây cối.
Làm cách nào chim gõ kiến lách vào được trong cây?
Đó là nhờ cái mỏ cứng và nhọn như một cái đục. Rồi
còn nhờ cái lưỡi. Có loài cái lưỡi dài gấp hai lần cái đầu.
Lưỡi của chim hình tròn, ngoài cùng có ngạnh nhỏ li
ti rất cứng ở hai bên. Lưỡi ở trong mỏ cong lên như cái
lò xo. Khi gõ kiến săn tìm côn trùng, lưỡi có thể búng
xa khỏi mỏ xuống dưới đường rãnh của vỏ cây.
Gõ kiến không chỉ mổ vào cây sống mà còn dùng
mỏ cứng khoét lỗ vào cây khô để làm tổ, chúng thích
những cây có bộng ngược chiều lên.
Có khi gõ kiến khoét hai lỗ, như của trước và cửa
sau. Nhờ đó mà chim có thể thoát nếu có khách không
mời xuất hiện.
9
Chim cánh cụt đẻ trứng ở đâu?
Như các bạn đã biết, chim cánh cụt sống ở Nam cực
nơi băng tuyết phủ dày. Vậy chỗ nào cho chim đẻ trứng?
Suốt mùa đông Nam cực từ tháng hai đến tháng mười
14
https://thuviensach.vn
chim ở biển. Tháng mười là đầu xuân, chúng rời biển
để bắt đầu cuộc hành trình dài đến các nơi vùng đất
sinh sản hay làm tổ.
Chim cánh cụt phải đi bộ, trượt, bơi hay lướt trên biển
băng suốt cả trăm cây số để đến bờ biển đá Nam cực.
Thường thì con trống tới trước, thẳng tới tổ đã xây năm
trước. Tổ làm bằng đá cho nên người ta mới thấy chim
cánh cụt tìm tới miền bờ biển toàn đá để đẻ trứng, như
thế tuyết cũng chẳng ảnh hưởng gì.
Hai vợ chồng cùng nhau xây tổ trước khi đẻ trứng.
Chúng đi tới đi lui, nhặt đá bằng mỏ, rồi thay phiên nhau
canh chừng, nhỡ con này có làm rơi hòn đá nào, thì con
kia xếp lại cho ngăn nắp.
Giữa tháng 11 chim mái đẻ trứng màu trắng xanh.
Đây là giai đoạn hết sức thú vị. Con mái và con trống
thay phiên nhau canh giữ và ấp trứng. Sau một thời gian,
con mái ra biển kiếm ăn, rồi đến phiên con trống, rồi lại
đến phiên con mái đi nhưng phải tính thế nào khi con
mái trở về là bầy con nở ra. Việc thay phiên cứ như thế
tiếp tục cho đến khi bầy con được bốn tuần.
15
https://thuviensach.vn
10
Hải âu bay như thế nào?
Cách đây gần hai trăm năm, Samuel Taylor Coleridge
đã viết một bài thơ nhan đề là “Những vần thơ của người
thủy thủ già” (The Rime of the Ancient Mariner) đó là
một trong những bài thơ nổi tiếng trong văn chương Anh,
nó liên hệ đến những đều xui xẻo xảy đến cho một thủy
thủ khi anh ta giết một con chim hải âu.
Đối với người đi biển lần đầu tiên, con chim khổng
lồ này thực sự có ý nghĩa với một thủy thủ. Người ta tin
rằng phải có một khả năng phi thường chim mới bay
theo tàu qua bao ngày tháng, đôi khi chỉ soải cánh lượn
mà thôi, như thế cũng đã tài, cho nên ai làm hại chim
kẻ ấy sẽ mang họa.
Dĩ nhiên đây chỉ là điều huyền hoặc vì hải âu chỉ
là một con chim, tuy nó có cánh rộng hơn bất cứ một
loài chim nào khác, nhưng bề ngang của nó chỉ độ
22cm, cân nặng 11kg mà sải cánh 3 mét rưỡi, từ đầu
này đến đầu kia.
16
https://thuviensach.vn
Cuộc đời hải âu chỉ để bay. Khi ăn, hải âu thả mình
trên nước như một cái phao, dùng mỏ mổ nhẹ vài con
mực nhỏ, vài con cá, vài miếng ăn thải trên tàu.
Cách bay của hải âu cũng kỳ lạ: có khi nó vút lên cao
mất tăm mất dạng, có khi nó giữ đôi cánh thăng bằng
trên không cho gió nhẹ thổi. Khi cần bay nhanh, gặp
trời thuận gió, tốc độ lên đến 100 dặm một giờ.
Mùa xây tổ, hải âu bay về các đảo Nam cực khô
cằn. Hải âu mẹ chỉ đẻ một trứng trong cái tổ làm bằng
cỏ và đất sét. Vợ chồng hải âu chăm con cho đến ngày
chim con biết bay.
11
Kên kên có “đánh hơi” được
xác chết?
Kên kên là chim săn mồi loại lớn. Từ “kên kên” tượng
trưng cho loài chim sống bằng cách ăn thịt các động
vật khác.
Kên kên thuộc họ chim ưng, ó, diều hâu. Có năm loại
kên kên ở Bắc và Nam Mỹ. Kên kên gà tây, kên kên
đen, kên kên hoàng đế, kên kên
Cali và kên kên Nam Mỹ.
Hầu hết các loại kên
kên sống bằng thịt
súc vật chết, nên
người ta ít thích
17
https://thuviensach.vn
chúng. Thật ra, khi bay loài chim này trông cũng đáng
yêu, nhìn cách bay của chúng trên không, người ta cũng
thán phục. Nhưng khi phát giác một con vật chết, chúng
ào xuống cả bầy và dùng đôi mỏ quặp xé xác con mồi
trong nháy mắt.
Loại kên kên Nam Mỹ ít ăn xác chết hơn, chúng
thường ăn trứng, các loại chim hải âu nhỏ và các động
vật có vú khác.
Làm sao kên kên đánh hơi xác chết nhanh thế? Nhiều
cuộc thí nghiệm đã được thực hiện để tìm ra câu trả lời.
Chúng ta biết rằng kên kên có thị lực mạnh hơn thị lực
của con người nhiều. Từ xa, mắt chúng có thể thấy các
vật nhỏ nhưng khứu giác của chúng thì mù tịt, đó cũng
là điều chúng ta băn khoăn sao chúng lại định vị xác
chết chính xác như thế.
Nhân đây cũng xin nói thêm, các trại hạ thịt phương
tây rất cần kên kên vì những phần phế thải sau khi mổ,
có thể để cho kên kên ăn mà người ta khỏi tốn công
dọn dẹp.
18
https://thuviensach.vn
CÁ
12
Tổ tiên loài cá có hình dạng
thế nào?
Cách đây năm trăm triệu năm chưa có loài cá. Các
thủy tra thạch chứng minh rằng thủy tổ loài cá chỉ xuất
hiện ở thời đại Đồ đá cũ cách đây 460 triệu năm, nhưng
cũng chưa xác quyết loài cá xuất hiện là cá nước ngọt
hay cá nước mặn.
Vào thời đại Đồ đá mới, tổ tiên sơ khai của loài cá
chưa có hàm.
Thời đại tiếp theo, cá xuất hiện khắp nơi trên hành
tinh này. Cá là loài vật rất phổ biến nên có khi người ta
gọi thời đại này là Thời đại Thủy Ngư.
Trong thời đại này
cá không hàm và
cá có hàm đầy rẫy,
nhưng vì sự xuất hiện
của cá có hàm nên cá
không hàm dần dần bị
tuyệt chủng. Nhờ có
hàm nên cá đã khám
19
https://thuviensach.vn
phá những nguồn thực phẩm đa dạng để tự nuôi sống
thoải mái hơn.
Loài cá có hàm sơ khai gọi là phacoderms. Hàm phát
triển nhờ một dãy mang cong được tìm thấy ở loài cá
không hàm. Mang cong này là giá đỡ xương của mang.
Có vô số chủng loại phacoderms ở thời đại này. Có
loại sống ở đáy biển, có loại ở lưng chừng. Có loại có
răng lớn và dài nhọn hoắt, độ 10 mét.
Từ loại cá phacoderms (sơ kỳ Thời đại Đồ đồng) mới
đến loại cá ngày nay, các loại cá mập và cá có xương
khác. Cá mập có bộ xương toàn vẹn. Cá có xương là
loài có bộ xương cứng.
13
Cá sinh sản như thế nào?
Hầu hết cá đẻ trứng, trứng chìm hay nổi trên mặt
nước. Vỏ ngoài của trứng là một chất trong suốt; ở trong,
trứng được tạo ra bởi lòng đỏ hay chất nguyên sinh. Chất
nguyên sinh là chất sống để tạo thành con cá tương lai.
Lòng đỏ, cũng giống lòng đỏ của trứng gà, nuôi dưỡng
cho cá lớn.
Tế bào trứng thụ tinh nhờ tinh dịch của cá đực, tinh
dịch này đi qua màng vỏ vào trứng bằng lỗ nhỏ ngay
trên tế bào và chỉ có một lỗ nhỏ độc nhất này mà thôi.
Tinh dịch đi qua chỉ một trứng thụ tinh.
Khi mầm sống trong trứng bắt đầu, sự tách bào dần
20
https://thuviensach.vn
dần tượng hình con cá, chỗ phình ra là cái đầu, rồi đến
phần thân và cuối cùng là cái đuôi.
Cái phôi cá này bắt đầu lớn dần trong trứng. Sau một
số ngày nhất định, màng vỏ mềm đi, phôi bung ra khỏi
vỏ, tự do trôi nổi và lớn dần thành cá.
Như vậy là cá đẻ trứng và thụ tinh bên ngoài.
Có loại cá sinh con như cá gươm, cá kiểng guppy hay
cá molly. Trứng thụ tinh trong cơ thể cá cái và thành cá
non, sau một thời gian sẽ được sinh ra.
14
Có phải tất cả cá đều đẻ trứng?
Hầu hết cá đều đẻ trứng và những trứng này thụ tinh
ở ngoài cơ thể. Cá đẻ trứng gọi là oviparous, cá sinh
con là viviparous.
Cá sinh con là các loại cá gươm, cá kiểng guppy, cá
molly, cá mỏ vịt. Trứng được thụ tinh trong cơ thể cá cái
và lớn dần thành cá con và được sinh ra vào thời gian
thích hợp, độ 21 ngày sau khi thụ tinh (đối với cá mỏ vịt).
Số trứng cá đẻ ra và được thụ tinh cũng thay đổi
nhiều tùy theo loại cá. Có loại cá đẻ trứng xong là bỏ
đi, chẳng ngó ngàng gì đến đám trứng nữa. Loại này
đẻ rất nhiều trứng. Loại cá chăm con đẻ ít trứng hơn.
Cá đẻ hai loại trứng: thứ nổi và thứ chìm. Loại nổi
gọi là pelagic (ở trên mặt biển), thường nhỏ, trong suốt
21
https://thuviensach.vn
và có ít lòng đỏ. Trứng chìm gọi là demersal, thường thì
nặng hơn và có nhiều lòng đỏ.
Ví dụ như cá mòi đẻ trứng chìm, một lần từ 20.000 đến
40.000 trứng; và đẻ xong là đi. Trái lại, cá thu đẻ trứng
nổi, cá thu cỡ trung có thể đẻ một lần một triệu trứng.
Có mùa, cá nục bông chỉ đẻ 50.000 trứng nhưng cũng
có mùa số này lên tới 400.000 hoặc 500.000 trứng. Cá
bơn lớn có thể đẻ 2 triệu trứng.
Có nhiều cỡ trứng. Trứng cá mòi đường kính 1 ly, cá
thu 1,5 ly, cá bơn 3 ly. Trứng được canh chừng cho đến
khi nở ra, rồi cá con lớn và sống sót; tuy nhiên hàng
triệu trứng cũng bị các sinh vật khác ăn.
22
https://thuviensach.vn
15
Làm thế nào cá có thể
đánh hơi?
Điều làm mọi người ngạc nhiên là cá cũng ngửi được
như các loài vật khác. Cá ngửi được mùi nhờ mũi.
Cá có hai lỗ mũi, mỗi lỗ có hai ống dẫn, thường gọi
là lỗ thoát hơi. Một ống dẫn ở phía trước và ống thứ hai
ở ngay sau. Hai ống cách nhau bởi một màng chắn nhỏ.
Mũi có thể nằm ở nhiều nơi trên mặt. Đó là sự thật, vì
mũi cá rất đa dạng.
Nước chảy vào và thoát ra theo lỗ thoát hơi, vào phía
trước và ra phía sau. Khi nước chảy qua làm kích thích tế
bào khứu giác khiến cá nhận biết mùi. Nhiều loại cá có
khứu giác nhạy bén, phân biệt được cả vật thể nhỏ li ti.
Thật ra, khứ giác quan trọng đối với cá trong việc tìm
đường về chỗ cư trú. Chẳng hạn như cá hồi nhờ đánh
hơi mà về được chỗ cũ để đẻ trứng. Làm sao được như
vậy, các nhà khoa học tin rằng từ lúc nhỏ cá đã quen
hơi với dòng sông cũ.
16
Cá có ngủ không?
Làm thế nào bạn có thể ngủ được khi mắt bạn mở!
Không thể, bạn phải nhắm mắt mới ngủ được. Cho nên
hầu hết cá không ngủ như chúng ta, vì chúng không có
mí mắt để khép mở. Nhưng chúng có thể nghỉ ngơi khi
23
https://thuviensach.vn
ánh sáng tối đi. Có vài loại cá, như cá cò, có thể nằm
nghiêng một bên để nghỉ ngơi.
Phần lớn mắt cá cũng giống như mắt chúng ta, nhưng
cũng có vài khác biệt, như cá có thể thấy ở dưới nước
trong lúc chúng ta phải ra khỏi nước mới thấy được. Ở
loài cá cũng có mống mắt bao quanh tinh thể như người.
Mống mắt mở gọi là con ngươi. Đối với hầu hết các loại
cá, con người luôn luôn mở một độ lớn như nhau. Có
nghĩa là cá không điều tiết mắt như người, mở lớn khi
ánh sáng mờ, khép lại khi ánh sáng chói chang. Vì vậy,
khi ta mở đèn sáng, cá bị hoa mắt. Mắt chúng không
điều tiết được như người. Tuy nhiên cũng có loại cá mà
con ngươi có thể điều tiết được. Cá không chảy nước
mắt vì không có tuyến lệ. Luôn luôn ở trong nước, nên
mắt cá lúc nào cũng ướt.
Hầu hết các loại cá có mắt ở hai bên đầu, nên mỗi mắt
thấy được những hình ảnh khác nhau, tầm nhìn của chúng
rất rộng ở mỗi bên, thị trường của cá lớn hơn thị trường
của chúng ta nhiều. Cá thấy được trước sau, trên dưới.
Cá chỉ tập trung cả hai mắt khi có một vật ở trước mắt.
Nhiều thí nghiệm cho thấy có loại cá biết được màu.
Chúng phân biệt được màu đỏ với màu xanh lá cây, có
khi cả màu xanh và màu vàng, nhưng không phải loại
cá nào cũng được đem ra thí nghiệm, nên không thể
khẳng định mọi loài cá đều phân biệt được màu sắc.
Hơn nữa, có nhiều sự khác biệt với từng chủng loại cá.
24
https://thuviensach.vn
17
Vì sao người ta nói cá heo
thông minh?
Cá heo là loại cá voi nhỏ, dài khoảng từ 1m đến
3,5m. Cho dù gọi tên là dolphin hay porpoise thì cũng
vì sở thích mà thôi, tên nào cũng đúng.
Có nhiều lý do để các khoa học gia cho rằng cá heo
cực kỳ thông minh. Có nhiều con bắt chước tiếng người
khá rõ ràng mà không phải tập gì cả. Chúng cũng học
để hiểu tiếng người và trả lời.
Nghiên cứu sinh lý về tập tính của cá heo có hai lý
do để kết luận rằng chúng thông minh. Cá heo có sáng
kiến trong các trò chơi, như khi thấy một chiếc lông nổi
lên mặt hồ cá, chúng đem đến vòi nước cho bắn tung
lên, rồi sau đó đuổi theo, lấy cho được chiếc lông để
đưa vào vòi nước trở lại.
Chúng lại có sáng kiến tạo ra trò chơi với phao cứu
hộ. Chúng tung phao lên cho người đứng trên bờ và chờ
đợi người ta ném xuống để bắt lấy.
25
https://thuviensach.vn
Cá heo cũng biết xử lý một vài việc, như khi ta để
một miếng đồ ăn kẹt dưới hòn đá, thế nào chúng cũng
làm bung ra cho được.
Người ta cũng chưa thử nghiệm cá heo thông minh
đến mức nào vì chỉ mới có thử nghiệm về sự thông minh
cho hai loài vật là chó và khỉ.
18
Cá voi xanh được tìm thấy ở đâu?
Trước hết cá voi xanh là loại cá gì? Dĩ nhiên đối với
chúng ta cá voi là cá voi. Chúng ta cũng chưa phân biệt
được nhiều loại cá voi khác nhau.
Các nhà khoa học chia cá voi ra làm hai loại: Odontoceti và Mysticeti. Odontoceti có nghĩa là “cá voi có
răng”, Mysticeti ý nói là “cá voi có ria mép”. Hàng ria
này là xương của cá voi, nó thường nằm trên nóc họng.
Loại xương này là sụn có nhiều chất xơ, viền phía trong
của miệng. Nhờ loại xương này cá voi có thể phân loại
một số lượng lớn thực phẩm trong nước.
Cá voi có “ria mép” là những sinh vật lớn nhất đã
từng có mặt trên Trái đất, nó lớn hơn cả khủng long?
Phải, cá voi xanh loại lớn nhất có chiều dài đo được 30
mét và cân nặng 110 tấn, loài khủng long lớn nhất cũng
không thể có kích cỡ ấy.
Cá voi “ria mép” có 3 loại: cá voi thẳng, cá voi vây và
cá voi xám. Cá voi xanh là chủng loại lớn nhất trong họ
cá voi vây. Bạn chưa có cơ may thấy được một con cá
26
https://thuviensach.vn
voi như thế đang lội đâu
đó, nhưng thật ra người
ta cũng đã thấy chúng
ở các vùng biển của trái
đất trước đây. Chẳng có
vùng biển hay đại dương
nào đặc biệt thích nghi với
chúng.
Loại cá voi khổng lồ
này sống nhờ các sinh vật nhỏ như cá tôm hay ngao
sò ốc hến. Cá voi hớp một ngụm nước đầy miệng, ngậm
lại, dùng lưỡi ấn trên các xương “ria mép” mọc chỉa
xuống từ hàm trên. Làm như thế, chỉ có nước thoát ra,
còn đồ ăn vẫn ở lại trong miệng. Vì hoạt động này mà
người ta còn gọi nó là cá voi răng lược.
Cá voi “ria mép” khác với cá voi có răng nhiều nên
người ta cũng tin rằng hai loại này, tuy có liên hệ chủng
loại nhưng khác xa nhau.
19
Cá mập ăn gì?
Có 250 loại cá mập khác nhau, tùy theo kích cỡ từ
0,5m đến loại cá mập khổng lồ dài 15 hoặc 18 mét. Có
loại cá mập ăn thịt người không? Có, có 27 loại được
biết là tấn công người, trong đó có cá mập trắng, cá mập
đầu búa, cá mập cọp, cá mập chanh và cá mập mako.
27
https://thuviensach.vn
Nhưng chẳng có cá mập nào ăn thịt người cả. Cá
mập phần lớn sống nhờ vào các loại cá xương, mực và
các động vật giáp xác như tôm he, tôm hùm. Chúng
cũng ăn cả rùa, cá heo và chim. Có vài loại cá mập lại
ăn cá mập khác.
Cá mập lớn nhất là cá mập voi chỉ ăn những sinh
vật nhỏ nhất, như cá nhỏ hoặc sinh vật sống bằng rong
biển. Muốn tìm thức ăn, cá mập nhờ vào lỗ mũi. Cá mập
càng đói mồi lỗ mũi càng thính.
Cá mập thường lội quanh con mồi trước khi tấn công.
Cá mập đuôi thường dùng đuôi dài để gom con mồi lại.
Chúng quẫy đuôi từ bên này sang bên kia, có khi làm
con mồi chết khiếp bằng những cú phóng cực mạnh.
Thường thường một bầy cá mập cũng tạo nên cảnh
hồi hộp vì gặp gì chúng ăn nấy, chẳng bỏ sót cái nào.
Càng ăn càng táo tợn. Trong trường hợp này, chúng dám
ăn cả vỏ xe, lon đồ hộp, guốc, thuyền câu hay bất kỳ
28
https://thuviensach.vn
vật gì khác khi chúng bắt gặp. Các nhà khoa học gọi
đó là hội chứng ẩm thực cuồng bạo. Khi hội chứng này
xảy ra thì dầu cho cá mập loại nhỏ nhất hay khù khờ
nhất cũng rất nguy hiểm.
20
Cá ngựa đực có sinh con không?
Có người mua cá ngựa về bỏ hồ cá mà cứ thắc mắc
“con đực mà có chửa”. Cũng đúng thôi, cho dù đó là
không thật.
Cá ngựa đúng thuộc con vật kỳ lạ. Cái đầu thì như
con ngựa con, cái mình thì như con rồng tí hon. Nhiều
lúc cá ngựa bơi thẳng đứng trong nước nhờ cái vây độc
nhất trên lưng.
Nhưng cá ngựa là loài cá. Có trên 50 chủng loại cá
ngựa ở các biển ôn đới và nhiệt đới, nếu sắp xếp theo
kích cỡ, chúng thay đổi từ 5cm đến 30cm.
Điều đặc biệt nhất ở cá
ngựa là cách săn sóc trứng.
Con cái đẻ khoảng 200 trứng
vào trong một cái bọc đặt
trong cơ thể con đực ở ngay
trên đuôi. Sau 40 đến 50
ngày, con đực phá vỡ bọc và
cá con trôi ra. Vì vậy người ta
cứ tưởng là con đực đẻ con.
29
https://thuviensach.vn
Sau khi nở, cá con vẫn ở trong bọc của cá đực cho
đến ngày khôn lớn tự sinh sống được. Cá ngựa ăn các
sinh vật nhỏ ở biển và trứng của các loại cá khác, chúng
không ăn vật chết.
Từ xưa, đàn ông đã bái phục cá ngựa. Hình cá ngựa
chạm trên quan tài xác ướp của người Ai Cập. Ở Trung
Hoa xưa, người ta nghiền cá ngựa thành bột để chữa
bệnh. Còn ở Ý, cá ngựa là một điềm lành.
21
Sứa sinh sản cách nào?
Một trong những loại sứa thông thường nhất trên thế
giới là sứa nón, nó có những sợi râu dài, trắng như sữa,
thả lòng thòng từ thân sứa vốn tròn như cái ly.
Trên mặt sứa nón có hoa văn màu cam hay hồng với
bốn cánh như hoa điệp, đó là bộ phận sinh sản. Sứa
đực nhả ra tinh dịch qua đường miệng vào nước. Sứa
cái sản xuất trứng. Trứng ở trong cơ thể cá cho đến khi
gặp tinh dịch trong nước thì thụ tinh.
Trứng lớn dần trong bốn ống dài thả lòng thòng từ
30
https://thuviensach.vn
miệng sứa. Khi trứng nở, sứa con ở dưới đáy đại dương,
chúng phát triển thành một hình dạng khác cha mẹ
chúng, gọi là polyps (có nhiều chân).
Polyp con hút thức ăn bằng những vòi nhỏ và lớn lên
sau nhiều tháng. Sau đó một hiện tượng lạ xảy ra. Con
polyp lớn dần thành những rãnh, lúc ấy con polyp giống
như một chồng đĩa trà, từng đĩa một sẽ rời xa và bơi đi
khỏi con polyp và trở thành một con sứa nhỏ.
Rõ ràng cách sống và cách sinh sản của sứa khá hoàn
hảo. Sứa đã liên tục sinh sản như thế hơn 600 triệu năm.
Sứa là loài có đời sống xưa nhất trên Trái đất và ít thay đổi.
Cũng nên nói rõ là sứa không phải là loài cá thật sự
vì cá thì phải có xương sống, sứa không có xương sống.
Toàn thân gồm những bao trong như thạch, ở trong rỗng.
22
Lươn và chình sống ở đâu?
Lươn hay chình đều là cá, vì có xương sống, sống
dưới nước và thở bằng mang. Chúng có máu lạnh, có
nghĩa là thân nhiệt thay đổi theo nhiệt độ bên ngoài.
Chình phần lớn sống ở biển. Có vài loại sống ở nước
ngọt phần lớn thời gian, nhưng cũng có một giai đoạn
ngắn chúng sống ở nước mặn. Chình đẻ trứng trong
nước mặn.
Chình quen thuộc nhất với cư dân Bắc Mỹ là chình
nước ngọt. Chúng ở dưới hồ ao và những con sông chảy
31
https://thuviensach.vn
ra Đại Tây Dương. Chình biển sống trong nước mặn, dọc
theo bờ biển đá của miền Nam Cali và dọc theo bờ biển
vịnh Mexico, cùng bờ biển Đại Tây Dương của nước Mỹ.
Cá chình ăn nhiều loại thức ăn như cá chết hoặc các
sinh vật nhỏ. Ban đêm chình trở nên rất hoạt động. Đôi
khi vào lúc xế chiều bạn có htể thấy những con chình
nhỏ xíu đang sục tìm thức ăn ở chỗ vùng biển cạn. Thấy
người, chúng liền chui xuống cát.
Da lươn hay chình trơn bóng và nhơn nhớt vì dịch
nhầy, nhưng cũng có nhiều vảy nhỏ li ti trên da loài lươn
hay chình nước ngọt.
Chình nước ngọt sống xa nơi đẻ trứng. Chúng đẻ
trứng trong nước mặn dù chúng sống trong nước ngọt.
Có vài loại cá có thể bơi từ biển vào nước ngọt, hay từ
nước ngọt ra biển mà không chết. Những nhà sinh vật
học nghĩ rằng nước nhờn ở cơ thể giúp cho chình ít bị
ảnh hưởng bởi sự thay đổi này.
Chình biển hay chình nước ngọt cũng như các loại
chình khác có khả năng vượt trội trong việc chữa lành
các vết thương, mà cá thì không thể. Trong máu của
chình hay lươn có chất ngăn ngừa viêm nhiễm.
32
https://thuviensach.vn
RẮN VÀ RÙA
23
Bao lâu rắn lột da một lần?
Có hai ngàn loài rắn khác nhau. Chúng sống trên
mặt đất, trong lòng đất, dưới nước và trên cây. Nhưng
tất cả loài rắn, trẻ cũng như già, đều lột da.
Khi lột da, ngay cả màng mắt của rắn cũng lột luôn.
Trong suốt tiến trình lột da, da được biến đổi từ trong ra
ngoài. Rắn lột da nhờ chạm vào những bề mặt nhám.
Một năm rắn lột da nhiều lần.
Da rắn có vảy, vảy này rất quan trọng đối với rắn.
Nói chung rắn không có chân, mặc dầu có vài loại như
trăn Nam Mỹ và trăn nhiệt đới phần đuôi có chân sau,
những chân này gắn chặt vào các cơ, chỉ như cái cựa
hay cái móng lòi ra bên ngoài cơ thể.
Nhờ có vảy trên da làm cho rắn lướt đi nhẹ nhàng và
nhanh chóng. Vảy lớn ở bụng giúp rắn trườn tới trong
khi các vảy ở đuôi nhờ sự lồi lõm của đất mà đẩy phụ,
lực đẩy này làm cho toàn thân rắn vươn tới.
Khi rắn muốn bò nhanh, nó còn “độc chiêu” khác nữa,
đó là lắc lư thân thể hai bên sườn tạo nên những vòng
tròn như khi gặp đá hoặc các cây con, lướt đi theo con
đường ngoằn ngoèo do các vòng ấy tạo nên.
33
https://thuviensach.vn
Rắn có liên hệ sinh học với các loài máu lạnh có
xương sống khác, như rắn mối, cá sấu Nam Mỹ, cá sấu
nhiệt đới, rùa và ba ba.
24
Rắn phun nọc độc cách nào?
Ở một vài loại rắn độc, hạch nước miếng sản xuất
chất độc để giết con mồi. Đó là nọc rắn. Có loại rắn
nọc độc mạnh có thể làm chết con voi. Các loại khác
có nọc độc nhẹ hơn, chỉ giết được thằn lằn, rắn mối.
Trong số 412 loại rắn, chỉ có 200 loại rắn độc gây nguy
hại cho con người.
Có hai loại rắn châu P...
 





