Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Kể chuyện danh nhân Việt Nam. T5

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 10h:37' 12-03-2024
    Dung lượng: 6.3 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    TẬP 5: DANH NHÂN QUÂN SỰ VIỆT NAM

    1

    nhà xuất bản trẻ

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
    161b Lý Chính Thắng - Quận 3 - TP. Hồ Chí Minh
    Điện thoại: 9316211 - 8465595 - 8465596 - 9316289
    Fax: 84.8.8437450
    E-mail: nxbtre@hcm.vnn.vn
    Website: http://www. nxbtre.com.vn

    4

    TẬP 5: DANH NHÂN QUÂN SỰ VIỆT NAM

    LỜI NÓI ĐẦU
    Nhìn lại 4.000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta phải chiến
    đấu chống ngoại xâm gần như thường xuyên và đã chiến thắng
    oanh liệt. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ
    Chí Minh đã khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do
    và độc lập, và thật sự đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn
    thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính
    mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Có được
    quyền tự do và độc lập ấy, dân tộc ta, từ buổi đầu dựng nước đến
    nay đã đổ biết bao xương máu.…Những người con đã hy sinh vì
    Tổ quốc, bao giờ cũng được các thế hệ sau ngưỡng mộ và ghi nhớ
    công ơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở rằng: “Dân
    tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý
    báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh
    thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn,
    nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán
    nước và lũ cướp nước. Lịch sử nước ta đã có nhiều cuộc kháng chiến
    vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta. Chúng ta có quyền
    tự hào về những trang sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu,
    Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung v.v… Chúng ta phải ghi
    nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu
    của một dân tộc anh hùng”.
    Trong chiều hướng ấy, nhà thơ Lê Minh Quốc cố gắng thực hiện
    tập sách Danh nhân quân sự Việt Nam - với mục đích ôn lại những
    trang sử chiến đấu oanh liệt đã làm rạng rỡ non sông, đất nước ta.
    Tuy nhiên, do khuôn khổ có hạn của một tập sách mỏng, bước đầu
    5

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    chỉ mới giới thiệu hai mươi nhân vật tiêu biểu. Đó là danh tướng
    Ngô Quyền - người chỉ huy tài ba đã chôn vùi quân Nam Hán năm
    939 trên dòng sông Bạch Đằng với chiến thuật đóng cọc dưới lòng
    sông và đã chiến thắng vẻ vang giặc ngoại xâm phương Bắc chấm
    dứt 1.000 năm đen tối của thời kỳ Bắc thuộc. Tiếp theo là anh hùng
    Đinh Bộ Lĩnh - người có công dẹp loạn 12 sứ quân để thống nhất
    đất nước (968). Là Lê Hoàn - người đã chỉ huy cuộc kháng chiến
    đánh tan đại quân Tống (981). Là Lý Thường Kiệt với lối đánh chủ
    động tấn công, đánh phủ đầu để phá tan âm mưu bành trướng của
    giặc Tống. Là danh tướng Trần Hưng Đạo ba lần lãnh đạo quân dân
    Đại Việt đánh bại giặc Nguyên Mông đã từng sải vó ngựa suốt từ
    châu Âu sang châu Á mà không ai dám đối địch. Là danh tướng Lê
    Lợi đã đánh giặc Minh từ lúc binh lực còn non yếu đến lúc tập hợp
    được lực lượng lớn mạnh, đánh từ vùng rừng núi Lam Sơn hiểm
    trở đến vùng đồng bằng rộng rãi, đã đánh từ nhỏ đến lớn, dùng kế
    lâu dài từ quân sự đến ngoại giao để giành lại từng tấc đất của Tổ
    quốc. Là danh tướng Nguyễn Huệ với chiến thuật thần tốc, tiến
    nhanh, đánh mạnh, dùng đòn bất ngờ áp đảo lực lượng hùng hậu
    của giặc Xiêm, Thanh để chiến thắng oanh liệt.
    Công cuộc đánh giặc cứu nước là trách nhiệm của toàn dân, bất
    kể trẻ già trai gái thuộc vùng miền nào. Trong thời kỳ thực dân
    Pháp mới xâm lược nước ta, nhìn về lực lượng kháng chiến trong
    Nam tập sách này đề cập đến những anh hùng như Trương Định,
    Võ Duy Dương, Nguyễn Trung Trực đã dựng cờ nghĩa, chiêu mộ
    nhân dân đánh giặc đến hơi thở cuối cùng.…Những trận đánh dưới
    quyền chỉ huy của các danh tướng này đã làm vẻ vang trang sử
    chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trong giai đoạn Cần Vương, tập
    sách viết về công trạng của chiến tướng Tôn Thất Thuyết - người
    đứng đầu phe chủ chiến, đã châm ngòi nổ cho trận đánh vang dội
    tấn công vào Đồn Mang cá, Tòa Khâm sứ Pháp trong đêm 4/7/1885.
    Sau khi kinh thành Huế thất thủ, ông đã đưa vua Hàm Nghi chạy
    ra Tân Sở lập chiến khu chiến đấu lâu dài. Bắt đầu từ giây phút
    này, lịch sử nước nhà đã chính thức mở ra giai đoạn Cần vương
    6

    TẬP 5: DANH NHÂN QUÂN SỰ VIỆT NAM

    hào hùng, nhân sĩ hào kiệt từ Nam chí Bắc đã đồng lòng đứng lên
    đánh giặc xâm lược theo lời kêu gọi từ Chiếu Cần Vương.
    Nhìn về phía lực lượng kháng chiến ở ngoài Bắc giai đoạn này,
    tập sách đề cập đến công nghiệp của anh hùng Đinh Công Tráng,
    người đã cùng các ông Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Trần Xuân
    Soạn… dựng nên chiến khu Ba Đình (Thanh Hóa). Kế tiếp là những
    nhân vật lẫy lừng khác như Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện
    Thuật, là một trong những người đầu tiên hưởng ứng Hịch Cần
    Vương năm 1885 và lập nên chiến khu Bãi Sậy. Vai trò của cụ Tán
    Thuật khiến ta nhớ đến anh hùng Phan Đình Phùng, trong thời
    điểm này cũng là người có công thống nhất các lực lượng kháng
    chiến ở Nghệ Tĩnh. Cụ Đình nguyên Phan Đình Phùng, người đã
    bền gan chống Pháp ròng rã suốt mười năm trời ở chiến khu Vụ
    Quang, Ngàn Trươi (Hà Tĩnh). Hoặc Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu,
    người có công lớn thống nhất lực lượng kháng chiến Cần Vương ở
    ba tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi - Bình Định. Chỉ riêng việc ông
    thành lập Tân tỉnh- một tỉnh lî mới đối mặt với La Qua của ngụy
    triều, tạo nên một căn cứ địa hùng mạnh- mà theo nhận định của
    Công sứ Huế J. Baille là “gần như một quốc gia” thì cũng chứng
    tỏ bản lĩnh của một danh tướng!
    Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
    Mỹ, chúng tôi chọn giới thiệu trước Đại tướng nổi tiếng của nước
    ta là danh tướng Võ Nguyên Giáp. Tất nhiên, vẫn còn rất nhiều
    danh nhân quân sự khác rất xứng đáng cho thế hệ sau học tập,
    nhưng do khuôn khổ có hạn của tập sách mỏng, chúng tôi sẽ tiếp
    tục đề cập trong các tập sau.
    Nhân đây chúng tôi xin được nhắc lại, bộ sách KỂ CHUYỆN
    DANH NHÂN VIỆT NAM do nhà thơ Lê Minh Quốc thực hiện
    đã phát hành các tập: Danh nhân quân sự Việt Nam, Danh nhân
    khoa học Việt Nam, Các vị Tổ ngành nghề Việt Nam, Danh
    nhân Sư phạm Việt Nam, Danh nhân văn hóa Việt Nam, Các
    vị nữ danh nhân Việt Nam, Những nhà cải cách Việt Nam,
    7

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Danh nhân cách mạng Việt Nam, Những người Việt Nam đi
    tiên phong, Những nhà chính trị Việt Nam và sẽ còn phát hành
    các tập tiếp theo, mời các bạn tìm đọc. Để bộ sách thật sự hữu ích
    cho bạn đọc - nhất là các bạn thanh thiếu niên - chúng tôi rất mong
    được sự chỉ giáo, giúp đỡ chân tình của các học giả uyên bác, của
    các nhà sử học và của các bạn đọc xa gần để tập sách ngày một
    hoàn hảo hơn. Trước hết xin bạn đọc ghi nhận ở đây sự biết ơn sâu
    xa của chúng tôi.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    8

    TẬP 5: DANH NHÂN QUÂN SỰ VIỆT NAM

    Ngô Quyền
    Dậy sóng Bạch Đằng,
    chôn vùi quân Nam Hán

    Vào một buổi sáng nắng
    ấm, trong dinh của ông Ngô
    Mân người đang giữ chức
    Châu mục của đất Đường
    Lâm (nay thuộc Ba Vì - Hà
    Tây) vang lên tiếng khóc của
    đứa trẻ mới lọt lòng mẹ. Lạ
    thay! Lúc ấy trong căn nhà
    ngập đầy ánh sáng. Nhưng
    lạ hơn là trên lưng đứa trẻ
    ấy có ba nốt ruồi lớn. Ông
    Ngô Mân nhìn đứa con mới
    sinh có tướng mạo khác
    thường và thầm nghĩ: “Con
    ta sau này sẽ làm chúa một
    phương”. Nghĩ vậy, ông đặt
    Tượng vua Ngô Vương Quyền
    tên con là Quyền. Thời gian
    (897-944)
    trôi qua, Ngô Quyền lớn như
    thổi. Gương mặt cậu khôi ngô, mắt sáng quắc, dáng đi khoan thai như
    hổ. Và đặc biệt là cậu có sức khỏe hơn người. Tương truyền là Ngô
    Quyền có thể một mình nâng được chiếc vạc lớn - mà dăm bảy người
    9

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    lực lưỡng khiêng cũng không xong! Ông Ngô Mân ra sức rèn luyện
    võ nghệ cho con để sau này có thể nối nghiệp của ông. Lúc bấy giờ,
    quân Nam Hán đang xâm lược nước ta. Cha con của dòng họ Khúc
    đang tập hợp hào kiệt khắp nơi để chống lại ách cai trị của nhà Nam
    Hán. Dưới quyền của họ Khúc có danh tướng Dương Đình Nghệ đang
    dấy binh ở đất Ái Châu (Thanh Hóa). Ông Ngô Mân đã dẫn Ngô
    Quyền tiến cử cho danh tướng này. Buổi đầu tiên gặp gỡ, nhìn Ngô
    Quyền, Dương Đình Nghệ tỏ ý hài lòng. Để thử tài, ông chỉ vào đôi
    chim đang đậu trên nhành cây cao trước mặt và nói:
    - Liệu ngươi có thể đuổi được con chim kia bay đi mà con đứng
    bên cạnh không hay biết gì cả?
    Ngô Quyền cúi đầu:
    - Bẩm tướng quân! Con có thể làm được điều đó.
    Nói xong, chàng liền lấy cung tên ra, ngắm về hướng đôi chim.
    Trong chớp mắt, một mũi tên lao vút. Một con chim giật mình bay
    đi. Nhưng lạ thay, con chim bên cạnh vẫn không hay biết gì, vẫn hồn
    nhiên đứng rỉa cánh! Ông Nghệ khen:
    - Tuyệt lắm, ta không ngờ ngươi có thể sử dụng cung tên thành
    thục đến thế!
    Bỗng từ phía sau lưng ông có tiếng nói vang lên:
    - Thưa bố, bố đã khen quá lời. Con của bố nào có kém gì đâu!
    Người vừa nói đó là Kiều Công Tiễn - con nuôi của Dương Đình
    Nghệ. Vừa dứt lời, Tiễn giương cung lên. Nhanh như chớp, một mũi
    tên đã lao vào ngực con chim tội nghiệp. Tiễn hí hửng:
    - Thưa bố, một mũi tên của con đã bắn ra thì phải đổi lấy một
    mạng sống!
    Dương Đình Nghệ quay mặt đi và nói:
    - Ta thật đáng trách. Vì một thú vui riêng mà phải thấy cảnh máu
    đổ đầu rơi.
    10

    TẬP 5: DANH NHÂN QUÂN SỰ VIỆT NAM

    Sau đó, ông nói với Tiễn:
    - Tiễn ạ! Con hãy lui ra ngoài.
    Tiễn hậm hực quay lưng bỏ đi. Dương Đình Nghệ quay lại nói với
    Ngô Quyền:
    - Tiễn là đứa thiếu lòng nhân. Sau này con nuôi của ta sẽ phản ta.
    Nay ta mến tài của ngươi, ngươi hãy theo phò tá!
    Ngô Quyền cúi đầu:
    - Thưa tướng quân, được theo tướng quân lao vào chốn binh đao
    để mưu nghiệp lớn thì dẫu có chết con cũng cam lòng. Đây cũng là
    ý nguyện của bố con.
    Đó là vào một buổi chiều râm mát trong năm 917, lúc Ngô Quyền
    mới tròn 20 tuổi. Đi theo phò Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền tỏ ra
    là người có tài cầm quân, võ nghệ tinh thông, lừng tiếng khắp vùng.
    Lúc bấy giờ, con gái của Dương Đình Nghệ là Dương Như Ngọc cũng
    đã lớn. Ông đang tìm người tài ba để gả chồng. Nhân dịp đầu xuân,
    trời rét ngọt, ông tổ chức nhiều cuộc thi để các nha tướng dưới quyền
    mình tranh tài và qua đó kén chọn rể. Cuối cùng, chỉ còn hai người
    đủ sức tranh tài cuộc thi là Ngô Quyền và Kiều Công Tiễn. Theo thể
    lệ của cuộc thi, mỗi người vừa phi ngựa, lại vừa phóng lao vào mục
    tiêu. Ai ném trước và trúng đích thì sẽ thắng. Mọi người nô nức xem
    tài của hai nha tướng trẻ tuổi.
    Một hồi trống vang lên giòn giã. Từ điểm xuất phát, hai con ngựa
    cùng xoải vó lao về phía trước. Con bạch mã của Ngô Quyền lao
    nhanh với tốc độ khủng khiếp, bỏ xa con hắc mã của Công Tiễn.
    Quyết không để thua, Tiễn liền nghĩ đến một trò ma mãnh để kìm
    chân đối thủ. Không một chút chần chừ, Tiễn nhanh nhẹn rút cung tên
    ra. Một mũi tên từ đằng sau cắm phập vào chân con bạch mã. Ngựa
    hí lên như điên cuồng và giảm dần tốc độ. Từ đằng sau, con hắc mã
    đã vượt lên. Tiễn cất tiếng cười đắc thắng. Biết ngựa mình đã bị hại,
    lập tức, Ngô Quyền phóng cây lao về phía trước. Nó xé gió lướt đi.
    Trong nháy mắt đã cắm đích xác vào mục tiêu là hình nộm bằng rơm
    11

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    ở đằng trước mặt. Không ai có thể tưởng tượng được với một khoảng
    cách khá xa như thế, mà Ngô Quyền có thể phóng lao được chính xác
    như vậy! Hình nộm bằng rơm ngã ngửa ra phía sau với tiếng hò reo
    cuồng nhiệt của mọi người. Lúc đó, con bạch mã cũng từ từ khuîu
    chân xuống. Máu chảy đỏ cả một dặm đường dài… Công Tiễn mặc
    dầu phóng ngựa lên trước, nhưng cũng đành bất lực xuôi tay!
    Sau cuộc tranh tài này, cô Dương Như Ngọc được gả cho Ngô
    Quyền. Điều này càng khiến Công Tiễn thêm cay cú, tức tối.
    Ngày xuân cũng qua mau.
    Cả nước lại nô nức tập trung vào việc rèn vũ khí, tập luyện võ nghệ
    để chuẩn bị chiến đấu. Năm 931, danh tướng Dương Đình Nghệ từ
    đất Châu Ái (Thanh Hóa) kéo quân đi đánh thành Đại La (nay thuộc
    Hà Nội). Quân Nam Hán thua to phải cút về nước. Dương Đình Nghệ
    khôi phục lại giang sơn, xưng là Tiết độ sứ. Ông giao cho các tướng
    lĩnh trấn giữ các nơi. Ngô Quyền được giao giữ đất Châu Ái - quê
    hương Dương Đình Nghệ. Trước ngày lên đường Ngô Quyền hỏi:
    - Thưa bố! Con xin hứa sẽ giữ yên nơi đó để chiêu mộ anh tài,
    muôn dân an cư lạc nghiệp. Nhưng còn Công Tiễn sao chưa được bố
    giao cai quản vùng nào?
    Dương Đình Nghệ trầm ngâm:
    - Tiễn là kẻ bất nhân, không thể trấn giữ một cõi riêng nào được
    cả. Tốt nhất cứ để nó ở bên ta, ta rèn cặp cho đến khi nó thay đổi tâm
    tính đã.
    Mặc dầu biết ý định của bố nuôi như thế, nhưng Công Tiễn vốn là
    kẻ bất trung, bất nghĩa nên hắn tìm mọi cách để thực hiện âm mưu
    đen tối. Vào tháng 3 năm 937 Dương Đình Nghệ đang nằm ngủ trong
    cung thì có bóng đen lẻn vào. Bóng đen ấy chính là Công Tiễn, hắn
    nhẫn tâm giết bố nuôi để tước đoạt ngôi báu.
    Nghe tin này, Ngô Quyền rất căm giận. Từ Châu Ái, ông cùng với
    em vợ là Dương Tam Kha quyết tâm kéo quân đi trừng phạt quân
    nghịch tặc. Quân đi đến đâu hào kiệt nơi đó theo giúp rất đông.
    12

    TẬP 5: DANH NHÂN QUÂN SỰ VIỆT NAM

    Hoảng sợ trước đại binh của Ngô Quyền, tên phản phúc đã nghĩ ra
    sách lược xuẩn ngốc. Hắn bí mật cho người đem vàng bạc, châu báu
    sang đút lót nhà Nam Hán để xin cứu viện. Hành động hèn hạ này
    đặt cơ đồ Tổ quốc trước nguy cơ mất vào tay giặc phương Bắc! Được
    sự cầu cứu, chúa Nam Hán là Lưu Cung như mở cờ trong bụng, muốn
    nhân cơ hội ngàn vàng này mà cất quân đi xâm lược nước ta. Dù có
    người khuyên can, Lưu Cung vẫn bỏ ngoài tai mọi lời khuyên, ông
    ta đã vội vàng phong cho con trai là Vạn Thắng Vương Hoằng Thao
    làm Tĩnh Hải Tiết Độ sứ rồi lại phong làm Giao Vương - ý muốn sau
    khi cướp được đất Giao Châu thì Hoằng Thao sẽ làm vua - để xâm
    lược nước ta.
    Thế là theo lệnh của cha, cuối năm 938 Hoằng Thao đã chỉ huy
    trên 200 chiến thuyền vượt biển tiến vào đất nước ta. Còn vua Nam
    Hán thì cầm binh đóng ở Hải Môn (Quảng Đông - Trung Quốc) để
    sẵn sàng tiếp ứng.
    Tình thế lúc này đặt Ngô Quyền trước một khó khăn: vừa phải lo
    giải quyết thù trong vừa phải lo đối phó với giặc ngoài. Nếu không
    khéo để hai lực lượng phối hợp với nhau thì nguy cơ mất nước chỉ
    trong gang tấc. Bởi vậy sau khi cân nhắc kỹ, Ngô Quyền quyết định
    giết Công Tiễn để rảnh tay đối phó giặc ngoại xâm. Tháng 11/938,
    ông chỉ huy lực lượng hùng hậu gần 5 vạn quân ùn ùn kéo về thành
    Đại La. Viện binh Nam Hán chưa kịp sang thì đầu Công Tiễn đã bị
    bêu trên cổng thành! Số phận của kẻ tráo trở đã kết thúc nhục nhã
    như thế! Dẹp xong nội loạn, Ngô Quyền liền lo ổn định tình hình
    trong nước và gấp rút tổ chức cuộc kháng chiến chống quân Nam
    Hán. Khi nghe tin chiến thuyền của Hoằng Thao đang chuẩn bị tiến
    (1)
    Sông Bạch Đằng: Do vị trí quan trọng của con sông này trong lịch sử nước nhà nên chúng
    tôi xin nêu một vài tài liệu để bạn đọc tham khảo thêm. Nhà nghiên cứu Đinh Xuân Vịnh cho
    biết: “Khúc sông này dài hơn 20km ở tỉnh Hải Dương cũ, từ Do Nghi đến Phả Lễ, trên tiếp với
    sông Giá và sông Đá Bạch, dưới thông với sông Nam Triệu - ở phía đông huyện Thủy Nguyên,
    nay giới hạn giữa huyện Thủy Nguyên và huyện Hải An (TP. Hải Phòng) với huyện Yên Hưng
    (tỉnh Quảng Ninh). Trong lịch sử còn có tên nữa là sông Vân Cừ, sông Rừng, có bến phà Rừng
    (Sổ tay địa danh Việt Nam - NXB Lao Động - 1996, trang 25). Theo nhà sử học Đào Duy Anh:
    “Chúng tôi đoán sông Bạch Đằng ngày xưa chính là khúc sông từ ngã tư đò Rừng ngày nay
    tiếp với sông Chanh”. (Đất nước Việt Nam qua các thời đại - NXB Thuận Hóa, trang 259). Trước
    đây, khi biên soạn Địa Dư chí, sử thần Nguyễn Trãi viết “Vân Cừ là tên sông, tên khác của sông



    13

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    vào sông Bạch Đằng (1), ông cho gọi các tướng lĩnh để bàn kế hoạch
    đối phó. Từ nhiều nguồn tin đã thu nhập được và kinh nghiệm chiến
    đấu, ông quả quyết:
    - Hoằng Thao là đứa trẻ ngu dại. Nó đem binh từ xa đến, quân sĩ
    mệt mỏi, lại nghe tin Công Tiễn đã bị giết, không còn kẻ làm nội ứng
    thì đã thất kinh hồn vía. Còn quân ta thì sức đang mạnh, địch với
    quân mỏi mệt thì tất phá được.
    Ngẫm nghĩ một lúc, ông nói tiếp:
    - Nhưng đừng quên rằng, nó có lợi thế ở chiến thuyền. Nếu ta
    không phòng bị trước thì chuyện thắng thua chưa thể biết được. Nay
    ta có kế hoạch này…
    Nghe ông trình bày kế hoạch, ai nấy đều khâm phục và đồng tình
    hưởng ứng. Theo đó, dân quân đã lao vào cuộc chiến. Kẻ lên rừng
    chặt gỗ lim, gỗ táu, người vạt nhọn đầu rồi sau đó bịt sắt lại. Tất cả
    những cây cọc nhọn hoắt ấy, Ngô Quyền đã sai dân quân lợi dụng
    lúc thủy triều xuống đem đóng ở cửa sông Bạch Đằng. Điều này cho
    thấy, Ngô Quyền là người rất thông thạo về thủy chiến, ông hiểu rõ
    luồng lạch của dòng sông như đường chỉ tay trên bàn tay của mình.
    Sau này các nhà thủy văn đã đo đạc: “Hạ lưu sông Bạch Đằng thấp,
    độ dốc không cao nên chịu ảnh hưởng của thủy triều khá mạnh. Lúc
    triều dâng, nước trải đôi bờ khoảng vài kilômét. Lòng sông đã rộng,
    lại sâu từ 8m-18m. Triều lên xuống vào độ nước cường, nước rút hơn
    30cm trong một giờ, ào ào xuôi ra biển, lưu tốc từ 0,26-0,89/gy, mực
    nước chênh lệch cao nhất và thấp nhất cũng trên 3m”(1)
    Bạch Đằng. Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Thao, Hưng Đạo Đại vương bắt Ô Mã Nhi đều ở chỗ
    ấy” (NXB Sử Học - 1960, trang 34). Nhưng “Dựa vào tình hình phân bố các đền thờ Ngô Quyền
    và các tướng lĩnh của ông tham gia trận này có thể dự đoán chiến trường chính đã diễn ra ở
    vùng cửa sông Cấm phía Nam Hải Phòng, chứ không phải đích thực là sông Bạch Đằng ngày
    nay, như tình hình đã diễn ra năm 1288 trong cuộc chiến tranh chống Nguyên lần thứ 3. Theo
    hướng giả thiết trên, vừa qua phòng Bảo tồn bảo tàng thuộc Sở Văn hóa thông tin Hải Phòng
    kết hợp với Khoa Sử trường Đại học Tổng hợp đã phát hiện được một số bãi cọc ở khu vực này,
    được ngờ là của Ngô Quyền. Kết hợp với nhận định của một số ngành khoa học khác, như địa
    mạo, thủy văn, giả thuyết trên càng có thêm sức thuyết phục. Tuy nhiên, cho đến nay đó vẫn
    chỉ là một giả thiết mà thôi” (Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm - NXB Quân Đội Nhân
    Dân -1983, trang 76).
    (1) Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược NXB KHXH, trang 199).

    14

    TẬP 5: DANH NHÂN QUÂN SỰ VIỆT NAM

    Như vậy trước hết là phải đóng cọc sao để lúc thủy triều lên thì
    không ai còn nhìn thấy nữa. Thứ hai là phải làm sao để thuyền giặc
    vượt qua bãi cọc vào đúng lúc nước triều vẫn che lấp cọc, nhưng sau
    đó là phải rút để cọc nhô lên khỏi mặt nước nếu không sẽ mất tác
    dụng.
    Lợi dụng điều này, Ngô Quyền đã dàn binh bố trí một trận đánh
    mở đầu cho truyền thống vùi chôn quân giặc trên sông Bạch Đằng mà sau này các nhà sử học gọi là “nghệ thuật thủy chiến Bạch Đằng”.
    Do kiêu căng và chủ quan nên tướng trẻ Hoằng Thao say sưa suốt
    ngày, thế nhưng khi nghe tin Công Tiễn đã bị giết, hắn đâm ra hoảng
    hốt vì không còn người làm nội ứng. Giây lát sau, hắn mới trấn tĩnh lại:
    - Thôi, cũng không sao. Binh lực ta hùng hậu như thế này thì ai có
    thể chống chọi nổi?
    Nói rồi hắn lại thúc quân đi tiếp. Quân giặc đến gần, Ngô Quyền
    sai tướng Nguyễn Tất Tố chỉ huy 200 thuyền nhẹ chuẩn bị tiến ra
    cửa sông để khiêu chiến. Còn Dương Tam Kha - em vợ Ngô Quyền được lệnh chỉ huy quân bên tả ngạn, Ngô Xương Ngập - con trai đầu
    của Ngô Quyền - và tướng Đỗ Cảnh Thạc có nhiệm vụ chỉ huy đạo
    quân bên hữu ngạn. Cả hai đạo quân này cùng mai phục hai bên bờ
    sông để phối hợp với thủy binh đánh tạt ngang vào đội hình quân
    giặc và sẵn sàng tiêu diệt khi chúng chạy lên bờ. Điều này cho thấy,
    tầm chiến lược của Ngô Quyền là tiêu diệt hoàn toàn lực lượng giặc,
    chứ không chỉ đánh bại thủy quân của chúng. Lúc này, thuyền giặc
    vẫn giong buồm tiến vào trận địa. Gió đông bắc đã nổi lên, càng đẩy
    thuyền chúng nhanh hơn. Không gặp một sự kháng cự nào, chúng
    tỏ ra kiêu căng. Bất ngờ, thuyền nhẹ của Nguyễn Tất Tố xuất hiện.
    Hoằng Thao nhổ bãi nước bọt xuống dòng sông mà cười khinh bỉ khi
    thấy đối phương xuất quân với loại thuyền nhỏ bé như thế! Thật vậy,
    càng đánh quân ta càng… thua! Đó là kế sách nhử giặc tiến sâu vào
    bãi cọc ngầm mà chúng không thể nào phán đoán trước.
    Khi quân ta giả vờ thua chạy thì tên tướng kiêu ngạo Hoằng Thao
    đã mắc mưu. Hắn hăm hở thúc quân đuổi theo, vượt qua trận địa cọc
    15

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    ngầm mà Ngô Quyền đã cho đóng dưới sông. Rồi lúc thủy triều đang
    rút, ông cho binh lính quay lại đánh trả. Trước sức tấn công dữ dội
    của ta, các chiến thuyền của giặc phải quay đầu chạy, nhưng vì nước
    rút quá nhanh, nên chiến thuyền đã mắc vào cọc sắt. Thuyền bị vỡ
    và đắm rất nhiều. Cùng lúc đó trên bờ sông một lực lượng khác lại
    dùng tên tẩm thuốc độc bắn như mưa xuống thuyền của quân Nam
    Hán. Quân giặc phần bị giết, phần bị chết đuối, thiệt hại hơn quá nửa.
    Ngay cả tên tướng trẻ kiêu căng Hoằng Thao cũng bị chém chết trên
    được sông Bạch Đằng. Nghe tin con trai đã bỏ mạng ở đất Giao Châu,
    vua Nam Hán thất vọng não nề, không còn tâm trí nào để kéo quân
    sang tiếp viện. Mặc dù không trực tiếp tham gia chiến trận, nhưng
    vua Nam Hán khiếp sợ đến nỗi cho tên mình Lưu Cung là xấu nên
    phải đổi sang tên Lưu Yểm. Trận đánh vang dội này, nhà sử học đầu
    tiên của nước ta là Lê Văn Hưu đã nhận định: “Tiền Ngô Vương có
    thể lấy quân mới hợp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của
    Lưu Hoằng Thao, làm người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có
    thể bảo một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi

    Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán theo tranh dân gian

    16

    TẬP 5: DANH NHÂN QUÂN SỰ VIỆT NAM

    Lăng thờ Ngô Quyền
    hiện nay tại Đường Lâm
    (Hà Tây)

    vậy”. Còn nhà sử học Ngô Thì Sĩ thì viết: “Chiến thắng Bạch Đằng
    là vũ công cao cả vang dội đến ngàn thu, không phải chỉ lừng lẫy
    ở một thời bấy giờ thôi đâu!”. Còn ở thời đại của chúng ta, Thượng
    tướng Hoàng Minh Thảo nhận định đây là trận đánh nhanh nhất Việt
    Nam: “Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung đánh trong
    mấy tháng, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh đánh trong 9-10 năm;
    Ngô Quyền chỉ đánh trong mấy ngày và mưu cao của Ngô Quyền là
    mưu lừa địch, lừa địch đi vào đúng kế của ta. Cho nên mưu cao nhất
    là mưu lừa địch.Và kế hay nhất là kế điều địch. Lừa địch là tạo ra bất
    ngờ. Điều địch là tạo ra chủ động. Bất ngờ và chủ động là mạch sống
    của tác chiến” (Tạp chí Xưa – Nay số TT 1998).
    Với chiến thắng rực rỡ này, ý chí xâm lược của giặc phương Bắc bị
    đè bẹp, kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước của dân tộc ta kéo dài
    hơn ngàn năm. Mùa xuân năm 939, danh tướng Ngô Quyền lên ngôi,
    ông bãi bỏ chức Tiết độ sứ và tự xưng Vương. Ông đã chọn Cổ Loa kinh đô cũ của nước Âu Lạc thời An Dương Vương - làm kinh đô của
    vương quốc độc lập, tự chủ. Việc Ngô Vương Quyền xưng Vương và
    17

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    đặt kinh đô ở Cổ Loa đã mang ý nghĩa quan trọng: nêu cao truyền
    thống giữ nước, dựng nước lâu đời của dân tộc và biểu thị ý chí quyết
    giữ vững nền độc lập vừa giành được sau hơn mười thế kỷ đấu tranh
    ngoan cường chống ngoại xâm. Thời kỳ Bắc thuộc đen tối kéo dài suốt
    1.000 năm dưới ách phong kiến phương Bắc đã chấm dứt. Kể từ đây,
    đất nước ta không còn là một quận huyện của phương Bắc. Nhưng rất
    tiếc, Ngô Vương Quyền trị vì trên ngôi thật ngắn ngủi, chỉ sáu năm.
    Ông mất ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Thìn (944). Công đức của
    ông sáng ngời trong sử sách, đúng như nhà sử học Ngô Thì Sĩ nhận
    định: “Vua Ngô Quyền giết giặc nội phản để trả thù cho chúa, đuổi
    quân ngoại xâm để cứu nạn cho nước, xây dựng quốc gia, đem lại
    chính thống, công lao thật là vĩ đại”.

    18

    TẬP 5: DANH NHÂN QUÂN SỰ VIỆT NAM

    Đinh Bộ Lĩnh
    Dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước

    Nắng nhạt nhòa ngả vào
    sau núi. Trời chiều. Những
    đứa trẻ chăn trâu vẫn hào
    hứng chia quân chơi đánh
    nhau. Cỏ lau ngút ngàn.
    Trong những đứa trẻ ấy có
    một cậu bé bao giờ cũng tỏ
    ra thông minh, nhanh nhẹn,
    lắm mưu nhiều kế hơn cả nên
    phe của cậu thắng luôn. Mỗi
    lần thắng trận, cậu thường
    bắt bọn trẻ con khoanh cánh
    tay làm kiệu để rước, lúc ấy,
    hai tay cậu cầm cờ lau, còn
    tả hữu đều có kẻ đi theo hậu
    vệ trông thật oai vệ. Những
    Tượng vua Đinh Tiên Hoàng
    người lớn chứng kiến cảnh
    (924-979)
    này, ai nấy đều lấy làm lạ,
    thường nói với nhau: “Thằng bé này khí vũ khác người, không phải
    là hạng tầm thường, ngày sau có thể làm được việc lớn”. Cậu bé đó
    chính là Đinh Bộ Lĩnh, con của ông Đinh Công Trứ - một nha tướng
    dưới quyền của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ - sinh năm 924 tại động
    Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là huyện Hoa Lư - Ninh Bình). Đây là
    19

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    nơi núi non hiểm trở, bốn mặt đều có núi cao thăm thẳm trông như
    bốn bức vách, người dân thường gọi là thung Lau. Do cha mất sớm,
    nhà nghèo nên bà mẹ họ Đàm cho Lĩnh sang ở nhà chú ruột. Tại đây,
    hàng ngày cậu phải đi chăn trâu. Tương truyền lần nọ, sau khi thắng
    trận, đang lúc hào hứng, cậu cho các bạn giết trâu để khao quân. Ăn
    xong, sợ chú đánh, cậu lém lỉnh cho chôn đuôi trâu xuống đất, chỉ
    để lòi lên đoạn cuối. Sau đó cậu bình tĩnh lùa đàn trâu về. Lúc kiểm
    trâu, thấy thiếu một con, ông chú nói:
    - Mày ham chơi để trâu đi lạc rồi!
    Cậu trả lời:
    - Không phải đâu chú ạ! Con trâu đã chui xuống đất rồi. Chỉ lòi
    mỗi cái đuôi thôi!
    Ông chú quát:
    - Mày chỉ được cái nói nhảm. Mau dẫn tao ra chỗ đó xem sao!
    Khi đến nơi ông chú túm lấy đuôi trâu ra sức kéo. Đuôi trâu bật
    lên thì ông chú cũng ngã oạch về phía sau! Cậu bật cười khanh khách
    rồi co chân chạy biến về phía bờ sông. Ông chú lồm cồm ngồi dậy,
    tức lắm, vội đuổi theo! Nhưng khi gần đến nơi thì thấy có con rồng
    vàng đưa cháu mình qua sông!
    Khi Đinh Bộ Lĩnh trưởng thành, Ngô Tiên Vương đã băng hà, lúc
    sắp mất có trăn trối dặn em vợ là Dương Tam Kha phải phụ chính
    cho con mình là Ngô Xương Ngập. Nhưng Tam Kha tham quyền, bèn
    cướp ngôi, tự xưng là Bình Vương, rồi nhận em của Xương Ngập là
    Xương Văn làm con của mình. Hành động thoán nghịch này khiến
    ai ai cũng căm phẫn. Sợ tai họa trút xuống đầu mình, Xương Ngập
    chạy về Nam Sách (nay thuộc Hải Dương) trốn trong nhà một cựu
    thần là Phạm Lệnh Công. Tam Kha sai tướng Dương Cát Lợi và Đỗ
    Cảnh Thạc đem quân đi bắt, sợ quá, Xương Ngập ẩn náu trong núi.
    Bấy giờ, ở Châu Phong đang có loạn, Tam Kha bèn sai Xương Văn
    cùng hai tướng Dương, Đỗ đem quân đi chinh phạt. Trên đường đi,
    Xương Văn nói:
    20

    TẬP 5: DANH NHÂN QUÂN SỰ VIỆT NAM

    - Đức của Tiên Vương ta thấm khắp lòng dân, phàm chính lệnh của
    người ban ra thì ai ai cũng vui lòng làm theo. Nay chẳng may Tiên
    Vương băng hà, Bình Vương lại làm điều bất nghĩa, dám cướp ngôi
    của anh em ta, thật là tội lớn! Thế mà lại sai bọn ta đi đánh những
    làng không có tội, đánh được cũng chẳng vinh dự gì, nếu không được
    thì làm sao?
    Hai tướng đáp:
    - Chúng tôi chỉ theo lệnh của vua!
    Xương Văn nói:
    - Cướp ngôi nhà Ngô ta sao gọi là vua? Chi bằng nhân lúc này ta
    dẫn quân về đánh úp Bình Vương lấy lại cơ nghiệp của Tiên Vương,
    nên chăng?
    Hai tướng nghe là phải, đem quân đánh úp Bình Vương. Nể tình
    cậu cháu, Xương Văn không nỡ giết Dương Tam Kha, chỉ giáng chức.
    Sự việc này diễn ra vào năm 951. Xương Văn lên ngôi, xưng là Nam
    Tấn Vương, rồi sai người đón anh là Xương Ngập về triều để cùng lo
    việc nước. Xương Ngập về xưng là Hậu Ngô Vương. Nếu anh em hòa
    thuận nhau thì hưởng phú quý sẽ còn lâu dài, nhưng cậy mình làm
    anh nên Xương Ngập tự ý chuyên quyền, đến nỗi Xương Văn không
    được tham gia chính sự. Nhà Hậu Ngô từ đó suy yếu dần, các thế lực
    nổi lên cát cứ nhiều nơi, đánh nhau liên tục để mong giành ngôi đế
    vương - thiên hạ gọi là “loạn 12 sứ quân”.
    Giữa lúc nước nhà chia năm xẻ bảy, loạn lạc như thế thì Đinh Bộ
    Lĩnh đã tập hợp lực lượng và theo phò Trần Lãm (tức Trần Minh
    (1) Động Hoa Lư: là một thung lũng rộng, bốn bề bao bọc núi, nằm ở sườn phía Nam phần
    cuối khóm núi ăn vào địa phận huyện Gia Viễn, thuộc dãy núi đá vôi Hòa Bình, cách sông Bôi
    khoảng 2km về phía Đông, thuộc địa phận xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn cũ thuộc Ninh Bình
    ngày nay. Lòng động bằng phẳng, rộng 16 mẫu (5,76 ha), canh tác hoa màu, thuộc sự quản lý
    của nhân dân xã Gia Hưng. Động Hoa Lư còn có tên gọi là Thung Lau hoặc Thung Ông. (Nhà
    Đinh dẹp loạn và dựng nước - Nguyễn Danh Phiệt - NXB KHXH 1990). * Hoa Lư: Huyện ở phía
    Tây thị xã Ninh Bình, giáp sông Đáy và tỉnh Nam Định ở phía Đông Bắc. Diện tích 137km2. Kinh
    đô của nước Đại Cồ Việt từ năm 968 đến năm 1009 dưới triều nhà Đinh và Tiền Lê. Toàn bộ
    khu kinh thành Hoa Lư xưa, ngày nay thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (Sổ
    tay địa danh Việt Nam - Nguyễn Được, Trung Hải - NXB Giáo Dục 1998).

    21

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Công). Sau khi Trần Lãm mất, ông đem toàn bộ binh mã về trấn giữ
    vùng Hoa Lư núi non hiểm trở (1).
    Sau đó Đinh Bộ Lĩnh sai con là Đinh Liễn đến chỗ anh em Xương
    Ngập, Xương Văn để triều cống. Nhưng khi Đinh Liễn đến, anh em
    vua Ngô bắt giữ và đem quân tấn công vào căn cứ Hoa Lư. Hơn một
    tháng vây hãm, đánh dây dưa mãi, bất phân thắng bại. Cuối cùng,
    quân Ngô đem treo Đinh Liễn trên cây dựng trước cổng thành rồi sai
    người nói với Đinh Bộ Lĩnh:
    - Nếu không chịu hàng thì sẽ giết Đinh Liễn.
    Đinh Bộ Lĩnh tức giận quát lớn:
    - Đại trượng phu chỉ mong lập công danh nơi chiến trận, chứ có
    bắt chước bọn đàn bà xót con đâu!
    Nói xong, liền sai mười tay nỏ chuẩn bị bắn vào Đinh Liễn. Thấy
    vậy, anh em vua Ngô kinh hãi bảo nhau:
    - Ta treo con hắn lên là khiến hắn đoái hoài thương con mà mau
    đầu hàng. Hắn tàn nhẫn như thế thì treo con hắn lên làm gì nữa!
    Trước thái độ kiên quyết của Đinh Bộ Lĩnh, anh em vua Ngô kéo
    quân về. Từ đó, ai ai cũng khiếp sợ trước mệnh lệnh của ông. Ông
    đã ra quân thì trước sau răm rắp tuân theo, không ai dám trái lệnh.
    Năm 965, Ngô Xương Văn mất, con là Ngô Xương Xí lên nối ngôi.
    Nhà Ngô đã kiệt quệ, không ai phục tùng nữa. Ngô Xương Xí cũng
    chỉ như một sứ quân cai quảng một vùng mà thôi. Trong khi đó, lực
    lượng của Đinh Bộ Lĩnh ngày một lớn mạnh. Ông cất quân đi đánh
    các sứ quân khác. Không những chinh phục bằng nghệ thuật quân sự,
    ông còn sử dụng cả đường lối ngoại giao khôn khéo. Chẳng hạn, sau
    khi đánh tan sứ quân của Ngô Nhật Khánh (Ba Vì - Hà Nội), ông lấy
    mẹ của Khánh làm vợ, cho con trai là Đinh Liễn lấy em gái Khánh và
    gả con gái mình cho Khánh! Ngoài mặt thì Khánh tươi cười nhưng
    trong lòng vẫn căm thù, đem vợ chạy vào vùng đất Chiêm Thành, đến
    cửa bể Nam Giới (giáp giới huyện Thiên Lộc và Thạch Hà), Khánh rút
    dao đâm vào mặt vợ quát:
    22

    TẬP 5: DANH NHÂN QUÂN SỰ VIỆT NAM

    - Cha mày lừa hiếp mẹ con ta, ta đâu phải vì có mày mà quên được
    mối thù ấy đâu! Mày mau về nhà mày, một mình ta đi tìm người cứu
    ta!
    Khánh đi cầu viện Chiêm Thành, nhưng mưu đồ đó chẳng nên cơm
    cháo gì! Còn đối với con trai của Ngô Xương Văn là Ngô Xương Xí
    thì Đinh Bộ Lĩnh không dụng binh, mà chỉ thu phục bằng nhân tâm.
    Tương truyền, khi ông hành quân đến Bình Kiều (Triệu Sơn - Thanh
    Hóa), có một mưu sĩ đến mách bảo:
    - Xí là người ươn hèn, không cần đánh, chỉ cần mở tiệc khao quân
    thì Xí tất khiếp sợ mà hàng!
    Đinh Bộ Lĩnh làm theo kế này thì quả nhiên như thế. Nhưng cũ...
     
    Gửi ý kiến