Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Làm đĩ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 08h:56' 19-03-2024
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    VŨ TRỌNG PHỤNG

    Làm Đĩ
    TIỂU THUYẾT
    Hoàng Thiếu Sơn chú thích và giới thiệu

    NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
    Hà Nội - 2005

    Làm Đĩ - CUỐN SÁCH CÓ TRÁCH NHIỆM VÀ ĐẦY
    NHÂN ĐẠO

    Hoàng Thiếu Sơn
    I - LÀM ĐĨ RA ĐỜI ĐỂ LÀM GÌ

    S

    au ba mươi năm bị ghi vào sổ đen, các tác phẩm của Vũ
    Trọng Phụng đã lần lượt được tái bản thấm thoắt đã gần
    bảy năm rồi, duy có một vài tác phẩm vẫn còn chưa
    được thấy lại ánh sáng mặt trời trong đó có cuốn Làm đĩ này. Vì
    chỉ nghe cái tên sách là lắm người đã lấy làm sợ quá đi rồi.
    Nhưng sợ thế thì nghĩ cho cùng là vì người ta chưa thoát hẳn
    được cái thành kiến mà từ năm 1936 Thái Phỉ đã gây ra: văn Vũ
    Trọng Phụng là “văn chương dâm uế”[1]. Bốn chữ cái mà hai
    mươi năm sau, khi đất nước đã trải qua một cuộc cách mạng
    thành công rồi một cuộc kháng chiến thắng lợi rồi, Hoàng Văn
    Hoan còn mượn lại để gây ra cả một phong trào đấu tranh chống
    Vũ Trọng Phụng, mà không biết Hoàng Văn Hoan có đọc các tác
    phẩm hay không. Và cái việc vu hãm, phỉ báng người quá cố ấy Vũ Trọng Phụng làm sao mà thanh minh được như đã tự do trả
    lời Thái Phỉ và Nhất Chi Mai trong sinh thời? - cuộc lên án ấy
    buồn thay lại đã có nhiều kẻ nghiên cứu, và nhất là nhiều kẻ dạy
    học gieo sâu vào nhận thức của bao nhiêu lớp sinh viên trong
    suốt ba chục năm trời gấp đôi cái cuộc trầm luân, cái kiếp phong
    trần của chị Thuý Kiều ấy. Đến nỗi ngày nay có nói đến “phục
    hồi” chân giá trị của Vũ Trọng Phụng vẫn còn không ít người cứ e
    dè, để riêng cuốn Làm đĩ ra một bên.
    Hôm nay cuốn sách đã ở trước mặt bạn đọc đây rồi, mong
    rằng sau khi đọc hết hai trăm rưỡi trang của nó, các bạn sẽ tự kết
    luận là có cảnh nào khêu gợi tình dục như trong bao nhiêu tiểu
    thuyết dịch của Mỹ và phương Tây và cũng có của một số nhà
    văn ta hiện đang cầm bút viết ra và đang bày bán câu khách đầy
    các quầy sạp, phố phường và như không ít cảnh diễn ra trên sâu
    khấu các nhà hát, màn ảnh các rạp chiếu bóng và các máy truyền

    hình hiện nay không?
    Cuối thế kỷ trước, Liep Nhikalaievits Tolxtoi, đã ngoài bảy
    mươi tuổi, trải qua khủng hoảng tinh thần, phủ nhận toàn bộ sự
    nghiệp văn chương lớn lao của đời mình gồm những Chiến tranh
    và hòa bình, Anna Karenina... vì cho là vô đạo đức, rồi quyết tâm
    xây dựng một nền văn học khác, lấy đạo lý làm kim chỉ nam, làm
    mục đích. Và mở đầu cho cái sự nghiệp không chỉ là đổi đời, mà
    là “đẻ ra lại trong một cuộc đời khác” Tolxtoi đã viết gì? Viết Sống
    lại, cuốn tiểu thuyết về “ả Maxlova” gái điếm bị ra tòa và kết án
    phát vãng đi Xibia. Xây dựng một nền văn hóa phục vụ việc chấn
    hưng đạo đức xem như là một nhiệm vụ thiêng liêng mà “đại văn
    hào của đất Nga” lại bắt đầu bằng cuốn sách về một gái điếm và
    không bỏ sót những cảnh sống nhầy nhụa, ê chề của các kẻ trụy
    lạc ấy. Sống lại có hiện thực trong các cảnh đời mô tả, nhưng xây
    dựng theo khuynh hướng chủ quan và không tưởng, nhưng ngót
    trăm năm nay vẫn được thế giới quý trọng vì tinh thần nhân đạo
    và ý thức trách nhiệm của tác giả, và nó cũng xứng đáng được
    như thế.
    Vũ Trọng Phụng viết Làm đĩ cũng xuất phát từ một ý thức
    trách nhiệm. Gần chục cuốn tiểu thuyết của mình có cuốn nào
    vũ Trọng Phụng thấy cần phải viết lời tựa đâu. Nhưng cuốn Làm
    đĩ, trước khi vào truyện đã có bốn trang “Thay lời tựa” nói rõ
    ràng:
    “Xã hội Việt Nam này, thật vậy, đã bắt đầu loạn dâm.
    “Sự làm giàu đùng đùng của các thầy lang chữa bệnh hoa liễu, sự
    phát đạt của những tiệm khiêu vũ, tăng số của bọn giang hồ, nạn
    hoang thai, những vụ án mạng vì tình mà hàng ngày các báo đăng
    lên mục tin đặc biệt, sự chán đời đến tự tử của một số nam nữ thiếu
    niên[2] nạn hiếp dâm, vân vân, đã đủ dẫn chứng cho lời than ấy.
    “Đứng trước tình thế ấy mà chỉ khoanh tay kêu: “Ôi phong hóa
    suy đồi” thì nào có ích gì cho ai?
    “Tìm một nền luân lý cho sự dâm giáo hóa cho thiếu niên. Biết rõ
    tình dục là những gì, đó là những việc phải làm ngay vậy.
    “Nam nữ thiếu niên vào lúc dậy thì, vào lúc xác thịt rạo rực lên vì
    sự biến đổi âm thầm và sự phát triển của những cơ quan sinh dục, là
    rất dễ lầm lỗi, rất dễ hư hỏng, nếu không được bậc cha mẹ chỉ bảo

    những điều cần biết và đề phòng mọi hoàn cảnh xấu xa hộ cho...
    Và Vũ Trọng Phụng khẳng định: “Vì những lẽ ấy mà truyện
    Làm đĩ ra đời”:
    Một tác phẩm xuất phát từ thiện ý như vậy thì dù có đạt được
    mục đích tác giả để ra hay không thì cũng đáng để người đời biết
    ơn rồi.
    Cuốn Làm đĩ này ra đời là kẻ viết bài này đã thực hiện được
    một phần nhiệm vụ mà chị Vũ Mỵ Hằng, con gái ông Phụng trao
    cho tôi: “cố gắng công bố cho đồng bào tất cả ngôn ngữ gì mà
    sinh thời ông Phụng đã viết. Tôi cũng xin thú thật là đa số các tác
    phẩm của ông đã hết lòng tin cậy trao lại cho Nhà xuất bản Văn
    học, riêng cuốn Làm đĩ này tôi đã có ý định dành cho một nhà
    xuất bản thuộc ngành giáo dục vì nghĩ là cuốn sách gần với chức
    năng xã hội của nhà xuất bản ấy, nhưng một người có trách
    nhiệm của nhà xuất bản đã thành thực bảo tôi “thông cảm là nhà
    xuất bản chúng em mà in Làm đĩ thì cũng khó ăn khó nói quá”.
    Tất nhiên là tôi rất “thông cảm” nhưng dù nhà xuất bản nào mà
    in Làm đĩ thì tôi cũng cho là đã phục vụ nền giáo dục, và các bạn
    đọc được phục vụ trước tiên trên là những cô giáo, thầy giáo có
    học trò và các mẹ, cha có con gái, con trai đang đến tuổi dậy thì.
    Nhất là dăm năm nay, nhà trường của chúng ta cũng đã phải
    thấy ra rằng giáo dục giới tính là quá cần thiết rồi. Mà không
    muốn thấy làm sao được trong lúc bệnh Sida đang lan nhanh
    như lửa cháy thảo nguyên, đe dọa sinh mệnh của toàn thể nhân
    loại ngày mai đây. Mà đến nay nhà trường ta mới có môn giáo
    dục giới tính thì chẳng phải là sớm sủa gì, “nước đến chân” rồi.
    Trong báo Tương lai ra ngày 11-3-1937, trả lời một độc giả[3] Vũ
    Trọng Phụng đã viết “hiện giờ bên Pháp dự án Sciller[4] đương ở
    thời kỳ thảo luận. Nay mai, chỉ nay mai thôi, nó sẽ ban hành ở
    Pháp và ở nơi đây. Đối với nạn mãi dâm, sẽ có khoản nam nữ giao
    cấu giáo dục (éducation sexulle)[5] cho các trường sơ đẳng”[6].
    Hai tuần sau, cũng trên tờ báo Tương lai ngày 23- 3-1937 “Đáp
    lời báo Ngày nay”[7] Vũ Trọng Phụng nhắc lại:
    “Nay mai Pháp đình ưng chuẩn cho dự án của Sciller, thì
    những điều các ông cho là dâm uế đã được người ta giảng dạy
    cho trẻ con... Tôi tưởng các ông có học vấn như thế, hẳn là phải

    biết trước khi mọi người biết, mới là hợp lệ”.
    Vũ Trọng Phụng nói đến học vấn của kẻ bút chiến với mình vì
    người đó đã cố vạch ra cái mà họ gọi là “bẩn thỉu”, “nhơ nhớp”,
    “dơ dáng” trong văn Vũ Trọng Phụng, là vì người đó, Nhất Chi
    Mai đã cho Vũ Trọng Phụng là “văn sĩ nửa mùa”, chỉ lòe đời bằng
    cái học vấn “sơ học”! Đúng là Vũ Trọng Phụng chỉ được học hết
    có bậc sơ học, nghĩa là tiểu học Pháp - Việt ở trường Hàng Vôi,
    mà Nhất Chi Mai tức Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, thì đã đỗ cử
    nhân khoa học từ bên Pháp về, nhưng trong cuộc luận chiến
    không những có tính xã hội mà còn tính khoa học này, phải thấy
    là Vũ Trọng Phụng rất đúng, mà đến nay gần sáu mươi năm đã
    trôi qua lại càng rõ là nhà văn “sơ học” đã thấy đúng hơn ông
    nghè, ông cống Tây học nhiều, và điều đáng ngạc nhiên là Vũ
    Trọng Phụng quan niệm vấn đề sinh lý học đúng hơn ông cử
    nhân sinh vật học nhiều. Và như thế đã từ gần sáu chục năm rồi,
    nghĩa là sớm hơn các nhà giáo dục học của ta ngày nay cũng già
    nửa thế kỷ.

    II - BÚT CHIẾN VỀ “VĂN CHƯƠNG DÂM UẾ”
    CŨNG LÀ LUẬN CHIẾN GIỮA NGHỆ THUẬT VỊ
    NGHỆ THUẬT VÀ NGHỆ THUẬT VỊ NHÂN
    SINH
    Tại sao lại có cuộc bút chiến dữ dội về văn chương dâm uế
    giữa Vũ Trọng Phụng với Thái Phỉ rồi với báo Ngày nay như thế.
    Thực ra thì đó là cuộc bút chiến giữa hai trường phái tiểu thuyết
    những năm 30 giữa phái lãng mạn với phái hiện thực.
    “Làm đĩ” của Vũ Trọng Phụng viết xong tháng mười năm
    1936, trước đó Khái Hưng và Nhất Linh đã xuất bản cuốn Đời
    mưa gió từ năm 1934. Cùng một chủ đề về gái giang hồ hai cuốn
    tiểu thuyết ấy đã đặt vấn đề khác hẳn nhau: Đời mưa gió tả lối
    sống phóng đãng của một gái giang hồ, Tuyết xinh đẹp, có học và
    thông minh, thích sống với cái “đời mưa gió” tuy có nhiều cơ hội
    trở lại cuộc sống yên lành, trong sạch, nhưng cứ ngựa theo
    đường cũ, không muốn hoàn lương vì chán cuộc đời bình dị như
    của mọi người.

    Làm đĩ không tả lối sống của gái giang hồ chút nào mà chỉ
    vạch lại cái cảnh ngộ đã làm cho Huyền - cô gái con nhà tử tế
    xinh đẹp, có học, thông minh phải sa chân, lỡ bước vào cuộc đời
    trụy lạc. Rõ ràng Đời mưa gió là cuốn tiểu thuyết lãng mạn hợp
    thị hiếu của bạn đọc thời ấy mà đa số là những học sinh, những
    tiểu công chức, trình độ học thức phần lớn ở bậc cao đẳng tiểu
    học Pháp - Việt và sống trong cảnh xã hội đang đổi mới theo
    hướng “Âu hóa”, đổi mới, làng nhàng và chỉ về hình thức. Trong
    khi ấy thì Làm đĩ là tiểu thuyết hiện thực đã không ngần ngại đặt
    ra một vấn đề: Tại sao lại có người phải làm đĩ, xã hội có nạn mại
    dâm? Chính tác giả trong “đoạn cuối” sách đã nói rõ ra với nhân
    vật chính của mình: “Đối với thiên hạ thì đời một người như em,
    đương ở chốn yên lành mà vào nơi chông gai, chỉ có đoạn ấy là
    đáng nói thôi. Tại sao con nhà tử tế hẳn hoi, con nhà quý phái
    nữa, mà rồi đến nỗi... trụy lạc, ấy người đời chỉ cần biết rõ những
    nguyên nhân ấy... chứ một quyển sách tả một đời trụy lạc kể từ
    lúc trụy lạc trở đi, thế thôi, thiết tưởng lại chẳng có ích gì cho
    đời... ”.
    Mục đích của cuốn Làm đĩ thật đã rõ ràng. Và nhận xét về
    cuốn Đời mưa gió “tả một cuộc đời trụy lạc kể từ lúc trụy lạc trở đi
    thế thôi” lại cũng xác đáng và công bằng.
    Thật ra thì các tác phẩm xuất bản trong mấy năm đầu của Tự
    lực Văn đoàn, những Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng mà
    Nhất Linh gọi là luận đề tiểu thuyết đã ảnh hưởng lớn đến việc
    đấu tranh giải phóng phụ nữ khỏi chế độ gia đình phong kiến và
    Nhất Linh và Khái Hưng đã là những nhà văn xã hội công kích
    không nhỏ: “Nhưng chỉ ít năm sau, chịu ảnh hưởng của văn hào
    Pháp André Gide thời bấy giờ rất lớn trên văn đàn thế giới, nên ra
    đời lối viết không cứ phải chăm chú đạo đức mà chỉ cốt phản ánh
    được cuộc đời, hai nhà văn Tự lực Văn đoàn bèn đổi hướng sáng
    tác và cho ra đời những Trống mái, Bướm trắng, và nhất là Đời
    mưa gió. Gần ba mươi năm sau đó, vào cuối đời mình, nhắc lại
    việc trước, tự đánh giá sự nghiệp của mình, Nhất Linh còn tiếc là
    giá sớm biết đừng gò ép ngòi bút vào các luận đề thì tiểu thuyết
    của mình đã có giá trị văn chương lớn hơn nhiều.
    Vũ Trọng Phụng viết Làm đĩ chính là viết cái loại mà Nhất
    Linh gọi là “luận đề tiểu thuyết ấy” không hơn không kém, nghĩa

    là đem văn chương ra phục vụ xã hội, còn Đời mưa gió thì đã là
    bước đầu mà các nhà văn Tự lực bỏ luận đề đó (cố chuyển bút
    mực sang lối viết không nghĩ đến đạo đức của Gide).
    Thời bấy giờ trong làng văn Việt Nam có cuộc bút chiến khá
    dữ dội giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị
    nhân sinh; Tự lực Văn đoàn cũng như Vũ Trọng Phụng không
    tham gia cuộc hỗn chiến ấy. Tự lực thì đứng ngoài thỉnh thoảng
    châm biếm như thói quen của mình, còn Vũ Trọng Phụng chỉ
    cắm cúi viết, đem lao lực và tài năng của mình ra phản ánh cuộc
    đời, mổ xẻ những ung nhọt của xã hội. Tuy vậy, viết Đời mưa gió
    Khái Hưng và Nhất Linh đã cố làm nghệ thuật vô tư theo kiểu
    Gide mà viết Làm đĩ. Vũ Trọng Phụng đã phục vụ cho đời đã “vị
    nhân sinh” trong một vấn đề quan trọng của cuộc đời. Và cái lý
    thú là hai cuốn tiểu thuyết lại cũng một chủ đề: gái giang hồ.
    Như là để cho người đời đem hai cuốn ra mà đối chiếu với nhau
    để thấy thế nào là “vị nghệ thuật” và thế nào là “vị nhân sinh”, rõ
    ràng sáng sủa, hơn đọc hàng loạt những bài văn chính luận cao
    đàm, hùng biện đại hải tràng giang của các chiến sĩ thuộc hai
    phái đối địch kia.
    Vũ Trọng Phụng đã có trách nhiệm trong ý định viết cuốn
    Làm đĩ, lại còn luôn nhớ đến trách nhiệm trong lúc viết. Từ khi
    cuốn sách ra đời cho đến nay đã gần sáu chục năm trời rồi, người
    viết bài này chưa hề thấy một ai trích một câu, một chữ nào của
    Làm đĩ để nói đến cái gì là dâm ô hay là khêu gợi dục tình dù là
    chỉ bóng bẩy như “tám chữ, bảy nghề”. Đọc Làm đĩ mà nghĩ đến
    cái gì bậy bạ thì chỉ đáng được cáo lời rủa trứ danh của quốc
    vương nước Anh Edward III: “Phải nguyền rủa kẻ nào nghĩ bậy
    về việc ấy - homi soit qui mal y pense”
    Trái lại, vì nghệ thuật tả Tuyết trong Đời mưa gió của Khái
    Hưng và Nhất Linh đã quá thành công theo ý muốn của hai tác
    giả mà hình ảnh cô gái nhẩy ấy đã thành mơ ước của không ít
    bạn đọc ở cái thời “vui vẻ, trẻ trung” thậm chí đã có ý kiến trong
    đám thanh niên là “đĩ mà đẹp thì còn hơn vợ mà xấu”, sắc đẹp và
    duyên dáng của Tuyết là cái “triết lý” chán chường của Tuyết, lối
    sống phóng đãng say sưa của Tuyết đã có sức cám dỗ không nhỏ,
    không những đối với nhiều người trong những năm 30, mãi mãi
    cả về sau nữa, đã có những giáo sư thời chúng ta lên lớp thì lên

    án, thậm chí mạt sát Khái Hưng, Nhất Linh không để vào đâu
    cho hết đúng với lập trường hết sức nhưng có hậu trường lại say
    Tuyết như điếu đổ, không những chỉ vì tài nghệ của các nhà văn
    Tự lực đã tả Tuyết mà còn thêm sức hút của các trái cấm từ lâu
    ngày nữa.
    Tác động của tiểu thuyết lãng mạn Tự lực Văn đoàn không chỉ
    đơn thuần là lãng mạn sướt mướt kiểu thế kỷ XIX mà còn pha
    chút chủ nghĩa Gide của thế kỷ XX ở Việt Nam là thế. “Đáp lời
    báo Ngày nay”, trong báo Tương lai ngày 25-3-1937 Vũ Trọng
    Phụng viết “Tôi không biết gọi gái đĩ là nàng - chữ ấy nó thi vị
    lắm, hoặc tô điểm cho gái đĩ ấy các thi vị mà gái đĩ ấy không có,
    đến nỗi đọc xong truyện người ta chỉ thấy gái đĩ làm gương cho
    thế gian noi theo...
    “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà
    văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết thực sự là ở đời...
    Các ông muốn theo tiểu thuyết tuỳ thời, chỉ nói cái gì thiên hạ
    thích nghe nhất là sự giả dối. Chúng tôi chỉ muốn nói cái gì cũng
    đúng sự thực”[8].
    Một đoạn văn luận chiến nhưng cũng là những lời khẳng định
    về sự khác nhau giữa hai quan niệm về tiểu thuyết mà Đời mưa
    gió và Làm đĩ là hai bức tranh minh họa; một bên là tiểu thuyết
    lãng mạn quá sức “tiểu thuyết” đi khá xa cuộc đời, một bên là
    tiểu thuyết hiện thực, tả lại “sự thực ở đời”, hay hơn nữa, một
    cuốn “phóng sự tiểu thuyết” cái loại tiểu thuyết mà Vũ Trọng
    Phụng đã khai sinh và đặt tên để gọi cuốn Cạm bẫy người của
    mình xuất bản năm 1935 và năm 1936 đem ra dùng lại để giới
    thiệu cuốn Làm đĩ: “hiến quốc dân thiên phóng sự tiểu thuyết
    này” vì muốn cho người đọc hiểu là nội dung của nó đã được rút
    ra từ đời thực như ở một thiên phóng sự, chứ không phải là hư
    cấu theo một nhận thức thiên vị nào.
    Là tiểu thuyết hiện thực, là phóng sự tiểu thuyết, Làm đĩ còn
    có một đặc tính nữa rất rõ là tiểu thuyết giáo huấn, vì mục đích
    của nó là nhắc cho những cô giáo, thầy giáo, những người mẹ,
    người cha sự cần thiết phải dạy cho nữ sinh, nam sinh, cho con
    gái con trai những điều cần biết về giới tính, về quan hệ nam nữ,
    về hôn nhân, gia đình. Và vì mục đích ấy mà Vũ Trọng Phụng đã
    hầu như không cần gì đến nghệ thuật tiểu thuyết cả, cứ chia

    sách ra những chương theo thứ tự thời gian: “đoạn đầu, tuổi dậy
    thì, ra đời, lấy chồng, trụy lạc, đoạn cuối” chẳng khác nào một
    cuốn sách giáo khoa khô khan, không hơn, không kém.

    III - TRONG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH “PHẢI DẠY
    CON DẠY THUỞ CÒN THƠ”
    Mở đầu cuốn tiểu thuyết, Vũ Trọng Phụng nhắc đến một cái
    dư luận chung của xã hội khi thấy một người con gái làm đĩ. “Tại
    nó hư... nó hư thì nó thế” nhưng Vũ Trọng Phụng hỏi lại ngay,
    hỏi đi rồi hỏi lại: “Thế nào là hư, tại sao mà hư? Nhưng mà vì sao
    nó hư?” Và gần hai trăm trang sách tiếp theo là để thuật lại cho
    ta biết, kể lại cho ta nghe những gì, những ai đã đưa Huyền một
    người con nhà tử tế, xinh đẹp, có học, thông minh nết na đến chỗ
    trụy lạc. Huyền đã thấy và đã nói “tuổi dậy thì, cái hoàn cảnh
    xấu, những bạn hữu xấu, một nền giáo dục sai lầm, ngần ấy cái
    đã làm cho em hóa ra đến nỗi như ngày nay”.
    Là một cô bé thông minh lên chín lên mười, Huyền đã thấy mẹ
    đẻ hết em này đến em khác, muốn biết em từ bụng mẹ mà ra
    theo đường nào thì cô bảo ra ở nách, u già thì bảo ở đít, và chị thì
    bảo ở bụng, hỏi vì sao mà đẻ thì họ bảo ăn no thì khắc đẻ; mỗi
    người trả lời một phách chỉ càng làm tăng tính tò mò của cô bé,
    mà vì thế mà có lần bố đã nọc Huyền ra đánh một trận nên thân
    lại cấm khóc.
    Bọn học trò con trai thì nói chuyện vợ chồng sinh, đẻ với
    nhau, tranh nhau nói với bạn gái tỏ ra mình cái gì cũng biết; lại
    như thằng Ngôn mới chục tuổi ranh đã chứng minh bố mẹ nó ăn
    nằm với nhau như thế nào ngay cả với bạn gái của nó bằng cái
    “trò chơi vợ chồng” trong gia đình nó bố mẹ ngủ với nhau ngay
    cạnh chỗ nó ngủ, cũng chẳng cần tắt đèn, họ không quan tâm
    đến tính nghịch ngợm, hay bắt chước của trẻ con. Những trẻ biết
    suy nghĩ thì cứ phải nghe người lớn chửi nhau dùng toàn những
    chữ gọi các bộ phận sinh dục và chỉ sự nam nữ giao hợp; mẹ
    Huyền là bà phán mà nựng con trai bé cứ mó máy bộ phận sinh
    dục của nó, thích chí lại giơ ra trước mặt chị nó mà bảo: “Ghét,
    ghét cái con bòi ông đây này!” Gia đình Việt Nam ta từ trước đây
    lúc nào cũng nói đạo đức nhưng người lớn đã giáo dục gì cho con
    em để sống có dạo đức cho ra con người.

    Đến lúc dậy thì, khủng hoảng, hoang mang, lo sợ, người con
    gái “có bao nhiêu nỗi khổ tâm mà không được đem nói với ai!
    Dẫu với mẹ cũng không làm sao hở môi được. Huyền hoảng hốt
    nhất là lúc thấy kinh lần đầu tiên, thử hỏi mẹ về vấn đề nam nữ
    thì mẹ chỉ bảo “bao giờ lấy chồng con sẽ biết” và Huyền ghi nhận
    là “cả sự giáo hóa về vấn đề ấy, gia đình em huấn luyện cho em từ
    trước đến sau chỉ một câu ấy mà thôi!”. Và trong khi đó thì chị
    em bạn gái, bạn trẻ con, đám tôi tớ cứ hễ động đến vấn đề ấy là
    cứ như nói cho sướng mồm như để khiêu khích tình dục vậy.
    Vì người lớn không dậy những điều mà con em đến tuổi dậy
    thì cần phải biết nên mới có những đứa trẻ nghịch đùa cơ quan
    sinh dục, thủ dâm, rồi có thể hiếp dâm nữa. Vai trò của gia đình
    và nhà trường trong việc giáo dục giới tính cho trẻ ngay từ bé,
    đến nay nhiều người còn chưa thấy là cần thiết, mà năm 1936
    Vũ Trọng Phụng đã nhắc đi nhắc lại là rất quan trọng rồi. Cũng
    không khỏi có người cho là ngày nay xã hội văn minh, con người
    hiện đại hiểu biết nhiều và hiểu biết sớm không dễ hư như trong
    thời phong kiến mà cái giáo điều “nam nữ thụ thụ bất thân” cổ
    hủ đã bất lực không ngăn ngừa được những việc tai hại. Không
    phải xã hội loài người ngày nay cái gì cũng tốt đẹp hơn trước cả.
    Một tệ nạn khủng khiếp - nạn mãi dâm trẻ em đang lan ra, nhất
    là ở các nước châu Á chẳng phải là cái dã man, vô nhân đạo gấp
    bao nhiêu lần chế độ buôn nô lệ mà lịch sử đã xóa bỏ từ lâu rồi
    không?
    Trong đời người con gái, tuổi dậy thì là lúc mà vai trò gia đình
    quan trọng nhất. Huyền kể lại: “lần đầu em mặc cái quần trắng
    len lét qua mặt thầy em... thầy em trừng mắt gọi lại hỏi: “đồ đĩ!
    Tao đã cho mày ăn mặc như thế đấy à?” Thật là “nghiêm huấn
    rành rành”, nhưng mà cái ông bố ấy tối nào mà chẳng đi đến 3
    giờ sáng mới về, rồi một hôm “oanh liệt rước cô vợ bé về nhà”
    một chị ả đào đã có mang, khiến vợ và các con nhỏ phải bỏ nhà
    về quê.
    Và Huyền nhớ lại vào một buổi tối trời rả rích mưa, mẹ ôm
    đứa em bé mà xì xụp khóc, anh đi theo bọn mất dạy bỏ cả học
    hành, bố cùng các bạn già phá gia chi tử đi tìm thú yên hoa hay
    đổ bát, mình thì cặm cụi ngồi viết bài Pháp văn tả cảnh gia đình
    hạnh phúc có bố ngồi đọc báo, anh ngồi học, mẹ đan áo, em bé

    chơi ngoan... Tìm cái bút chì, mở cặp sách của ông anh thì rơi ra
    một tập ảnh khiêu dâm, nam nữ trần truồng. Giáo dục của nhà
    trường dù có tốt, nhưng đã bị không ít gia đình hủy hoại đi bằng
    lối sống thường nhật của họ như vậy.
    Huyền có người anh họ xa là Lưu ở nhờ nhà mình để đi học và
    họ đã yêu nhau thành thật và đúng đắn, nhưng chưa dám hở
    môi ra với ai. Một đêm thức giấc sau những cơn mộng mị hãi
    hùng, thì chỉ có cách cái bức vách gỗ, nghe rộn lên “những sự thị
    uy của ái tình” giữa ông bố già và cô vợ bé: những cái hôn kêu
    choen choét, những hơi thở ì ạch, sự rung động lắc rắc của cái
    giường lò xo, những tiếng rú khoái lạc”, Huyền thở dài, rón rén
    bỏ xuống nhà dưới, tình cờ Lưu không ngủ được, cũng xuống và
    “đã xảy ra cái sự không thể không xảy ra được”. Kiểu ăn ngủ của
    người mình theo cách bố trí nhà cửa cộng thêm lối cẩu thả hớ
    hênh của những đôi vợ chồng, cha mẹ như thế thì làm sao ngăn
    ngừa một nhóc con như thằng Ngôn “vỡ lòng học lấy những
    nghề nghiệp hay” lại làm sao lại không đẩy cô Huyền mới lớn lên
    vào cảnh “sóng tình dường đã xiêu xiêu”.
    Tả quan hệ giữa Huyền và Lưu, Vũ Trọng Phụng như muốn
    lưu ý bạn đọc đến cái điều quan trọng mà tục ngữ ta đã nhắc nhở
    từ ngàn xưa “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” và Vũ Trọng Phụng
    đã chẳng viết về vấn đề ấy cả một cuốn tiểu thuyết lấy nhau về
    tình đó sao? Tất nhiên Lưu và Huyền yêu nhau thật sự, biết rõ
    bổn phận đối với nhau, không để cho “mây mưa đánh đổ đá
    vàng” như Nguyễn Chẩn trong Hội chân lý đời Đường rồi hậu
    thân của y là Trương Quân Thụy trong Tây Sương ký[9] đời
    Nguyên nhưng mà rồi hậu quả đã đến với Lưu thật là khủng
    khiếp, Lưu đã phải trả giá việc ấy bằng chính tính mạng của
    mình.
    Qua mối tình bi thảm giữa Lưu và Huyền, Vũ Trọng Phụng có
    ý nhắc cho các nhà giáo nhớ đến tính chất giới tính, tính chất xác
    thịt của tình yêu, trái với quan điểm lãng mạn chủ nghĩa đã quá
    lý tưởng hóa tình yêu là tinh thần, là cao thượng; trong Thay lời
    tựa, tác giả viết: tình dục đã cần cho xác thịt cũng như sự ăn
    uống thì ái tình cao thượng chỉ là một thứ ái tình trong đó sự ham
    muốn của xác thịt không được thỏa mãn, nghĩa là nói tóm lại thì
    đó chỉ là thứ ái tình thất vọng mà thôi! Nó bị thất vọng thì người

    ta gọi nó là ái tình cao thượng, ái tình trong sạch, yêu trong lý
    tưởng “yêu bằng tinh thần” tiêu biểu nhất cho thứ ái tình ấy là
    mối tình Lan và Ngọc trong Hồn bướm mơ tiên. Quan niệm tình
    yêu như thế xa với sự thật trong đời và không giúp ích cho giáo
    dục thanh niên để ngăn ngừa những việc không tốt có thể xảy
    đến khi họ bắt đầu biết đến tình yêu.
    Nhắc đến quan hệ giữa tình yêu và tình dục, Vũ Trọng Phụng
    đã bị bao nhiêu lời buộc tội và ngày nay vẫn chưa hết bị buộc tội
    là “đồ đệ của thuyết Phờ-rớt phản động”. Những ai nói thế là rõ
    ràng chưa hiểu gì, hay chỉ biết loáng thoáng qua những nhận
    định rất sơ lược và lệch lạc về học thuyết của S.Freud (đọc là phơ
    roi, không phải Phờ rớt) mà thiên hạ chỉ truyền miệng nhau cho
    ra vẻ hiểu biết về khoa học mà thôi.
    Có âm dương, có vợ chồng,
    Dẫu từ thiên địa, cũng vòng phu thê.
    Ôn Như Hầu cũng tổng kết cho ra đấy; thánh thiện đến như
    các tôn giáo mà có giáo nào phủ nhận âm dương và vợ chồng,
    nghĩa là vật chất và giao hợp, thậm chí biết bao tôn giáo, tín
    ngưỡng đến nay vẫn còn thờ phụng những vật bắt nguồn từ thực
    khí nam nữ.

    IV - GIA ĐÌNH RỒI XÃ HỘI ĐẨY CON NGƯỜI
    ĐẾN CHỖ “LÀM ĐĨ”
    Đoạn đường sa chân lỡ bước của Huyền bắt đầu từ chỗ lấy
    chồng. Trước tiên là không tự do trong hôn nhân. Kim - một viên
    tham tá, công chức hành chính trung cấp thời Pháp thuộc, hỏi
    Huyền làm vợ, bà mẹ tội nghiệp sợ chết đi để lại đàn con bơ vơ
    trong cảnh mẹ ghẻ con chồng van xin Huyền nhận lời, dù nhà
    trai đòi cưới chỉ trong nửa tháng. Huyền chưa kịp mở miệng, ông
    bố đã nổi cơn thịnh nộ đàn áp tức thì: “mày câm đi! ông là bố
    mày, ông có quyền gả chồng cho mày lắm, ông bắt mày ngồi đâu
    thì mày phải ngồi đấy!”.
    Đến bước đường cùng, chẳng có cách nào bảo vệ được tình yêu
    nữa, Lưu tự tử để lại thư tuyệt mệnh là đã chán đời không muốn
    sống và chẳng hề đả động gì đến tình yêu với người yêu cả. Mấy
    hôm sau thì Huyền về nhà chồng.

    Cái chết đột ngột như tiếng sét của Lưu thật đúng với tính
    cách của anh ta: mê đắm, cuồng si và lại được một cuốn phim
    kích thích dữ dội. Anh ta kể lại phim đó là “một chuyện tình, một
    thiên thảm sử ghê gớm trong đó có sự âu yếm nồng nàn đến nỗi
    đáng sợ như sự căm hờn hằn học, trong đó có đủ mọi ý vị của
    máu, của sự khoái lạc, và của cái chết... ”.
    Vũ Trọng Phụng không dựng đứng lên đâu. Thời tác giả viết
    Làm đĩ, các rạp chiếu bóng ở Việt Nam vừa chiếu cuốn phim
    nhan đề Maryerling dựng lại mối tình bi thảm của Rudolf thái tử
    đế quốc Áo - Hung, người thừa kế độc nhất của đế quốc lâu đời
    nhất châu Âu ấy, vì không thể kết hôn với người yêu là Maria
    Vetsera, đã cùng nhau tự tử năm 1889 ở Mayerling; trong cái
    thời lãng mạn ấy, cuốn phim đã gây chấn động dữ dội, còn hơn
    những tiểu thuyết ái tình bi thảm nữa. Mà thời ấy trong lúc báo
    chí cũng vừa đăng vụ Vi Văn Huyền con một viên quan tỉnh giàu
    có bậc nhất Bắc Kỳ đã giết chết người yêu rồi tự sát.
    Ngoài ảnh hưởng tai hại của gia đình, Vũ Trọng Phụng còn
    thấy rõ vai trò nguy hiểm của xã hội, qua những phương tiện
    truyền thông, những loại hình nghệ thuật nhất là phim ảnh mà
    tác động mạnh mẽ và tức thời vì bằng những hình ảnh cụ thể, lời
    nói kích động và âm thanh quyến rũ. về cái hại của tiểu thuyết
    tình lãng mạn, Vũ Trọng Phụng đã để cho Huyền nói khá nhiều,
    và về phim ảnh, phim ngày ấy đâu đã đến lõa lồ và hung bạo như
    ngày nay mà Vũ Trọng Phụng cũng đã để cho Huyền tự nhận
    định là “đã nhiễm phải ảnh hưởng của mấy tờ báo mà ngày nào
    người ta cũng bàn bạc om sòm về các ngồi sao chớp bóng... mà
    người ta cứ viết thẳng một cách ngây thơ chẳng ngượng ngòi bút
    là sex appeal... em đã làm cho một người phải ham muốn em...
    bằng cách khiêu dâm... Không, bằng sex appeal, nói thế hơn, vì
    nói tiếng mẹ đẻ thì việc ấy mất hết thi vị, không có vẻ mỹ thuật
    nữa mà lại dâm đãng một cách bản xứ, mặc lòng nghĩa lý của hai
    thứ tiếng vẫn chỉ là một!.. Vạn tuế cho bọn “văn sĩ” của mấy rạp
    chớp bóng!”.
    Chính cái tờ báo hàng ngày đã đăng một số truyện ngắn đầu
    tiên của Vũ Trọng Phụng là tờ Ngọ Báo đã khai trương thứ văn
    chương chớp bóng ấy bằng cách mỗi tuần vào ngày thứ năm ra
    một “phụ chương chớp bóng” bán đắt như tôm tươi.

    Cảnh vợ chồng Huyền với Kim lại thật là oái oăm; tối tân hôn,
    lang quân rất mực lịch sự, chẳng ép nài mây mưa gì cả, rồi cả
    tuần cứ như thế, thì ra anh chàng đang mắc bệnh giang mai, và
    đã thanh minh: “Đàn ông bây giờ mắc bệnh phong tình, đó có là
    sự quái gở gì đâu! Thiếu niên[10] mắc nhan nhản ra đấy. Mà họ
    còn năm lần bảy lượt. Đàn ông như tôi là đã ngoan lắm, mợ biết
    chưa”.
    Phải kiêng mọi quan hệ tình dục cho đến khi khỏi hẳn bệnh,
    thì không đêm nào là Kim không quấy rầy vợ bằng cách “nửa đời
    nửa đoạn” làm cho Huyền cứ bị khiêu khích dữ dội. Ban ngày thì
    Huyền được chồng đem đi dự các trò tiêu khiển của xã hội
    trưởng giả: xem phim, ăn hiệu, chợ phiên, nhảy đầm, đánh cá
    ngựa, nơi mà bọn nhà giàu ăn chơi “hiện nguyên hình là một lũ
    bợm đĩ dưới hình thức choáng lộn, và tiến bộ, và văn minh... lẫn
    lộn với bọn nam nhi cũng đánh phấn, bôi môi gần như đàn bà, và
    bọn đàn bà thì nhờ những mốt y phục tối tân kỳ lạ nó phô phang
    cả đùi lẫn ngực ra dưới làn voan mỏng một cách rất lịch sự”. Và
    chính ở giữa đám người ấy Huyền đã gặp Tân. Kim rối rít khoe
    với vợ Tân là bạn cũ, con một viên tổng đốc rất giàu lấy vợ từ
    năm mười tám, bỏ vợ sang Pháp du học rồi về nước chẳng làm gì
    cả, “sống một mình để hưởng hết mọi lạc thú ở đời”. Kim tấm tắc:
    “Thật là một người sung sướng nhất đời! Có danh vọng, có học
    thức, có tiền bạc, lại không bận bịu vợ con! Tự do đủ mọi đường,
    sướng thật”.
    Tân là thần tượng của Kim; và tự hào, đắc chí có một người
    bạn sang giàu như thế, đã đưa ô tô mình về đến tận nhà, Kim
    mắng vợ: “Mợ lại tiếp đãi người ta nhạt nhẽo như thế. Nói thế mà
    cứ cãi thì chó cũng không nhịn được!.. Thì mợ cứ tiếp đãi người
    ta cho mặn mà hơn nữa thì đã sao? Mợ là nhà quê đấy à? Mợ ngu
    đần xưa nay đấy à?”.
    Ít lâu sau thấy Huyền “tự nhiên như đầm, đáng mặt phụ nữ
    tân thời”, nghĩa là bạo dạn tiếp đãi Tân thân mật, Kim tỏ vẻ sung
    sướng lắm khen “tốt lắm, thế là rất phải” lại tiếp theo bằng một
    câu tiếng Pháp “Mình đã thành ra một phu nhân của giới thượng
    lưu rồi đấy”.
    Tân kiếm cớ mời Huyên đi Lạng Sơn, Huyền tỏ ý ngại, liền bị
    Kim mắng cho xối xả: “Nghi hoặc thì là người cả ghen... Thế thì lọ

    lắm! Sống cuộc đời mới, theo Âu hóa thì không được nghi ngờ
    như người cổ hủ... Thôi đi, mợ cũng hủ bại vừa chứ! Đừng hỏi
    nữa! Đồ ngu!..”.
    Thái độ sùng bái con Bê vàng của Kim đã đẩy vợ vào tay bạn,
    mở đường cho Huyền và Tân cùng nhau ngoại tình. Đến khi việc
    vỡ lở, Huyền mới thấy những người đàn ông ấy tàn ác đến thế
    nào. Kim bắt Huyền viết theo bản giáp của mình thảo ra “lời thú
    tội” đã ngoại tình và “xin cam đoan là chịu thôi không đòi hỏi
    những quyền lợi của người vợ chính thất”, lại kết bằng một câu:
    “Khi thảo giấy này tôi vui lòng mà thảo chứ không do chồng tôi
    bắt ép”. Lời thú lại còn có câu: “Tôi đã đem nhiều tiền của chồng
    ra cùng nhân tình tiêu hoang”, Huyền xin chồng đừng vu oan
    như thế, Kim hạ lệnh “Phải viết! Phải đúng như thế, không được
    sai một chữ! ít ra tôi cũng phải có một thứ khí giới đối ...
     
    Gửi ý kiến