Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1
CHÂM NGÔN HAY
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Làm đĩ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 08h:56' 19-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 08h:56' 19-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
VŨ TRỌNG PHỤNG
Làm Đĩ
TIỂU THUYẾT
Hoàng Thiếu Sơn chú thích và giới thiệu
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Hà Nội - 2005
Làm Đĩ - CUỐN SÁCH CÓ TRÁCH NHIỆM VÀ ĐẦY
NHÂN ĐẠO
Hoàng Thiếu Sơn
I - LÀM ĐĨ RA ĐỜI ĐỂ LÀM GÌ
S
au ba mươi năm bị ghi vào sổ đen, các tác phẩm của Vũ
Trọng Phụng đã lần lượt được tái bản thấm thoắt đã gần
bảy năm rồi, duy có một vài tác phẩm vẫn còn chưa
được thấy lại ánh sáng mặt trời trong đó có cuốn Làm đĩ này. Vì
chỉ nghe cái tên sách là lắm người đã lấy làm sợ quá đi rồi.
Nhưng sợ thế thì nghĩ cho cùng là vì người ta chưa thoát hẳn
được cái thành kiến mà từ năm 1936 Thái Phỉ đã gây ra: văn Vũ
Trọng Phụng là “văn chương dâm uế”[1]. Bốn chữ cái mà hai
mươi năm sau, khi đất nước đã trải qua một cuộc cách mạng
thành công rồi một cuộc kháng chiến thắng lợi rồi, Hoàng Văn
Hoan còn mượn lại để gây ra cả một phong trào đấu tranh chống
Vũ Trọng Phụng, mà không biết Hoàng Văn Hoan có đọc các tác
phẩm hay không. Và cái việc vu hãm, phỉ báng người quá cố ấy Vũ Trọng Phụng làm sao mà thanh minh được như đã tự do trả
lời Thái Phỉ và Nhất Chi Mai trong sinh thời? - cuộc lên án ấy
buồn thay lại đã có nhiều kẻ nghiên cứu, và nhất là nhiều kẻ dạy
học gieo sâu vào nhận thức của bao nhiêu lớp sinh viên trong
suốt ba chục năm trời gấp đôi cái cuộc trầm luân, cái kiếp phong
trần của chị Thuý Kiều ấy. Đến nỗi ngày nay có nói đến “phục
hồi” chân giá trị của Vũ Trọng Phụng vẫn còn không ít người cứ e
dè, để riêng cuốn Làm đĩ ra một bên.
Hôm nay cuốn sách đã ở trước mặt bạn đọc đây rồi, mong
rằng sau khi đọc hết hai trăm rưỡi trang của nó, các bạn sẽ tự kết
luận là có cảnh nào khêu gợi tình dục như trong bao nhiêu tiểu
thuyết dịch của Mỹ và phương Tây và cũng có của một số nhà
văn ta hiện đang cầm bút viết ra và đang bày bán câu khách đầy
các quầy sạp, phố phường và như không ít cảnh diễn ra trên sâu
khấu các nhà hát, màn ảnh các rạp chiếu bóng và các máy truyền
hình hiện nay không?
Cuối thế kỷ trước, Liep Nhikalaievits Tolxtoi, đã ngoài bảy
mươi tuổi, trải qua khủng hoảng tinh thần, phủ nhận toàn bộ sự
nghiệp văn chương lớn lao của đời mình gồm những Chiến tranh
và hòa bình, Anna Karenina... vì cho là vô đạo đức, rồi quyết tâm
xây dựng một nền văn học khác, lấy đạo lý làm kim chỉ nam, làm
mục đích. Và mở đầu cho cái sự nghiệp không chỉ là đổi đời, mà
là “đẻ ra lại trong một cuộc đời khác” Tolxtoi đã viết gì? Viết Sống
lại, cuốn tiểu thuyết về “ả Maxlova” gái điếm bị ra tòa và kết án
phát vãng đi Xibia. Xây dựng một nền văn hóa phục vụ việc chấn
hưng đạo đức xem như là một nhiệm vụ thiêng liêng mà “đại văn
hào của đất Nga” lại bắt đầu bằng cuốn sách về một gái điếm và
không bỏ sót những cảnh sống nhầy nhụa, ê chề của các kẻ trụy
lạc ấy. Sống lại có hiện thực trong các cảnh đời mô tả, nhưng xây
dựng theo khuynh hướng chủ quan và không tưởng, nhưng ngót
trăm năm nay vẫn được thế giới quý trọng vì tinh thần nhân đạo
và ý thức trách nhiệm của tác giả, và nó cũng xứng đáng được
như thế.
Vũ Trọng Phụng viết Làm đĩ cũng xuất phát từ một ý thức
trách nhiệm. Gần chục cuốn tiểu thuyết của mình có cuốn nào
vũ Trọng Phụng thấy cần phải viết lời tựa đâu. Nhưng cuốn Làm
đĩ, trước khi vào truyện đã có bốn trang “Thay lời tựa” nói rõ
ràng:
“Xã hội Việt Nam này, thật vậy, đã bắt đầu loạn dâm.
“Sự làm giàu đùng đùng của các thầy lang chữa bệnh hoa liễu, sự
phát đạt của những tiệm khiêu vũ, tăng số của bọn giang hồ, nạn
hoang thai, những vụ án mạng vì tình mà hàng ngày các báo đăng
lên mục tin đặc biệt, sự chán đời đến tự tử của một số nam nữ thiếu
niên[2] nạn hiếp dâm, vân vân, đã đủ dẫn chứng cho lời than ấy.
“Đứng trước tình thế ấy mà chỉ khoanh tay kêu: “Ôi phong hóa
suy đồi” thì nào có ích gì cho ai?
“Tìm một nền luân lý cho sự dâm giáo hóa cho thiếu niên. Biết rõ
tình dục là những gì, đó là những việc phải làm ngay vậy.
“Nam nữ thiếu niên vào lúc dậy thì, vào lúc xác thịt rạo rực lên vì
sự biến đổi âm thầm và sự phát triển của những cơ quan sinh dục, là
rất dễ lầm lỗi, rất dễ hư hỏng, nếu không được bậc cha mẹ chỉ bảo
những điều cần biết và đề phòng mọi hoàn cảnh xấu xa hộ cho...
Và Vũ Trọng Phụng khẳng định: “Vì những lẽ ấy mà truyện
Làm đĩ ra đời”:
Một tác phẩm xuất phát từ thiện ý như vậy thì dù có đạt được
mục đích tác giả để ra hay không thì cũng đáng để người đời biết
ơn rồi.
Cuốn Làm đĩ này ra đời là kẻ viết bài này đã thực hiện được
một phần nhiệm vụ mà chị Vũ Mỵ Hằng, con gái ông Phụng trao
cho tôi: “cố gắng công bố cho đồng bào tất cả ngôn ngữ gì mà
sinh thời ông Phụng đã viết. Tôi cũng xin thú thật là đa số các tác
phẩm của ông đã hết lòng tin cậy trao lại cho Nhà xuất bản Văn
học, riêng cuốn Làm đĩ này tôi đã có ý định dành cho một nhà
xuất bản thuộc ngành giáo dục vì nghĩ là cuốn sách gần với chức
năng xã hội của nhà xuất bản ấy, nhưng một người có trách
nhiệm của nhà xuất bản đã thành thực bảo tôi “thông cảm là nhà
xuất bản chúng em mà in Làm đĩ thì cũng khó ăn khó nói quá”.
Tất nhiên là tôi rất “thông cảm” nhưng dù nhà xuất bản nào mà
in Làm đĩ thì tôi cũng cho là đã phục vụ nền giáo dục, và các bạn
đọc được phục vụ trước tiên trên là những cô giáo, thầy giáo có
học trò và các mẹ, cha có con gái, con trai đang đến tuổi dậy thì.
Nhất là dăm năm nay, nhà trường của chúng ta cũng đã phải
thấy ra rằng giáo dục giới tính là quá cần thiết rồi. Mà không
muốn thấy làm sao được trong lúc bệnh Sida đang lan nhanh
như lửa cháy thảo nguyên, đe dọa sinh mệnh của toàn thể nhân
loại ngày mai đây. Mà đến nay nhà trường ta mới có môn giáo
dục giới tính thì chẳng phải là sớm sủa gì, “nước đến chân” rồi.
Trong báo Tương lai ra ngày 11-3-1937, trả lời một độc giả[3] Vũ
Trọng Phụng đã viết “hiện giờ bên Pháp dự án Sciller[4] đương ở
thời kỳ thảo luận. Nay mai, chỉ nay mai thôi, nó sẽ ban hành ở
Pháp và ở nơi đây. Đối với nạn mãi dâm, sẽ có khoản nam nữ giao
cấu giáo dục (éducation sexulle)[5] cho các trường sơ đẳng”[6].
Hai tuần sau, cũng trên tờ báo Tương lai ngày 23- 3-1937 “Đáp
lời báo Ngày nay”[7] Vũ Trọng Phụng nhắc lại:
“Nay mai Pháp đình ưng chuẩn cho dự án của Sciller, thì
những điều các ông cho là dâm uế đã được người ta giảng dạy
cho trẻ con... Tôi tưởng các ông có học vấn như thế, hẳn là phải
biết trước khi mọi người biết, mới là hợp lệ”.
Vũ Trọng Phụng nói đến học vấn của kẻ bút chiến với mình vì
người đó đã cố vạch ra cái mà họ gọi là “bẩn thỉu”, “nhơ nhớp”,
“dơ dáng” trong văn Vũ Trọng Phụng, là vì người đó, Nhất Chi
Mai đã cho Vũ Trọng Phụng là “văn sĩ nửa mùa”, chỉ lòe đời bằng
cái học vấn “sơ học”! Đúng là Vũ Trọng Phụng chỉ được học hết
có bậc sơ học, nghĩa là tiểu học Pháp - Việt ở trường Hàng Vôi,
mà Nhất Chi Mai tức Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, thì đã đỗ cử
nhân khoa học từ bên Pháp về, nhưng trong cuộc luận chiến
không những có tính xã hội mà còn tính khoa học này, phải thấy
là Vũ Trọng Phụng rất đúng, mà đến nay gần sáu mươi năm đã
trôi qua lại càng rõ là nhà văn “sơ học” đã thấy đúng hơn ông
nghè, ông cống Tây học nhiều, và điều đáng ngạc nhiên là Vũ
Trọng Phụng quan niệm vấn đề sinh lý học đúng hơn ông cử
nhân sinh vật học nhiều. Và như thế đã từ gần sáu chục năm rồi,
nghĩa là sớm hơn các nhà giáo dục học của ta ngày nay cũng già
nửa thế kỷ.
II - BÚT CHIẾN VỀ “VĂN CHƯƠNG DÂM UẾ”
CŨNG LÀ LUẬN CHIẾN GIỮA NGHỆ THUẬT VỊ
NGHỆ THUẬT VÀ NGHỆ THUẬT VỊ NHÂN
SINH
Tại sao lại có cuộc bút chiến dữ dội về văn chương dâm uế
giữa Vũ Trọng Phụng với Thái Phỉ rồi với báo Ngày nay như thế.
Thực ra thì đó là cuộc bút chiến giữa hai trường phái tiểu thuyết
những năm 30 giữa phái lãng mạn với phái hiện thực.
“Làm đĩ” của Vũ Trọng Phụng viết xong tháng mười năm
1936, trước đó Khái Hưng và Nhất Linh đã xuất bản cuốn Đời
mưa gió từ năm 1934. Cùng một chủ đề về gái giang hồ hai cuốn
tiểu thuyết ấy đã đặt vấn đề khác hẳn nhau: Đời mưa gió tả lối
sống phóng đãng của một gái giang hồ, Tuyết xinh đẹp, có học và
thông minh, thích sống với cái “đời mưa gió” tuy có nhiều cơ hội
trở lại cuộc sống yên lành, trong sạch, nhưng cứ ngựa theo
đường cũ, không muốn hoàn lương vì chán cuộc đời bình dị như
của mọi người.
Làm đĩ không tả lối sống của gái giang hồ chút nào mà chỉ
vạch lại cái cảnh ngộ đã làm cho Huyền - cô gái con nhà tử tế
xinh đẹp, có học, thông minh phải sa chân, lỡ bước vào cuộc đời
trụy lạc. Rõ ràng Đời mưa gió là cuốn tiểu thuyết lãng mạn hợp
thị hiếu của bạn đọc thời ấy mà đa số là những học sinh, những
tiểu công chức, trình độ học thức phần lớn ở bậc cao đẳng tiểu
học Pháp - Việt và sống trong cảnh xã hội đang đổi mới theo
hướng “Âu hóa”, đổi mới, làng nhàng và chỉ về hình thức. Trong
khi ấy thì Làm đĩ là tiểu thuyết hiện thực đã không ngần ngại đặt
ra một vấn đề: Tại sao lại có người phải làm đĩ, xã hội có nạn mại
dâm? Chính tác giả trong “đoạn cuối” sách đã nói rõ ra với nhân
vật chính của mình: “Đối với thiên hạ thì đời một người như em,
đương ở chốn yên lành mà vào nơi chông gai, chỉ có đoạn ấy là
đáng nói thôi. Tại sao con nhà tử tế hẳn hoi, con nhà quý phái
nữa, mà rồi đến nỗi... trụy lạc, ấy người đời chỉ cần biết rõ những
nguyên nhân ấy... chứ một quyển sách tả một đời trụy lạc kể từ
lúc trụy lạc trở đi, thế thôi, thiết tưởng lại chẳng có ích gì cho
đời... ”.
Mục đích của cuốn Làm đĩ thật đã rõ ràng. Và nhận xét về
cuốn Đời mưa gió “tả một cuộc đời trụy lạc kể từ lúc trụy lạc trở đi
thế thôi” lại cũng xác đáng và công bằng.
Thật ra thì các tác phẩm xuất bản trong mấy năm đầu của Tự
lực Văn đoàn, những Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng mà
Nhất Linh gọi là luận đề tiểu thuyết đã ảnh hưởng lớn đến việc
đấu tranh giải phóng phụ nữ khỏi chế độ gia đình phong kiến và
Nhất Linh và Khái Hưng đã là những nhà văn xã hội công kích
không nhỏ: “Nhưng chỉ ít năm sau, chịu ảnh hưởng của văn hào
Pháp André Gide thời bấy giờ rất lớn trên văn đàn thế giới, nên ra
đời lối viết không cứ phải chăm chú đạo đức mà chỉ cốt phản ánh
được cuộc đời, hai nhà văn Tự lực Văn đoàn bèn đổi hướng sáng
tác và cho ra đời những Trống mái, Bướm trắng, và nhất là Đời
mưa gió. Gần ba mươi năm sau đó, vào cuối đời mình, nhắc lại
việc trước, tự đánh giá sự nghiệp của mình, Nhất Linh còn tiếc là
giá sớm biết đừng gò ép ngòi bút vào các luận đề thì tiểu thuyết
của mình đã có giá trị văn chương lớn hơn nhiều.
Vũ Trọng Phụng viết Làm đĩ chính là viết cái loại mà Nhất
Linh gọi là “luận đề tiểu thuyết ấy” không hơn không kém, nghĩa
là đem văn chương ra phục vụ xã hội, còn Đời mưa gió thì đã là
bước đầu mà các nhà văn Tự lực bỏ luận đề đó (cố chuyển bút
mực sang lối viết không nghĩ đến đạo đức của Gide).
Thời bấy giờ trong làng văn Việt Nam có cuộc bút chiến khá
dữ dội giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị
nhân sinh; Tự lực Văn đoàn cũng như Vũ Trọng Phụng không
tham gia cuộc hỗn chiến ấy. Tự lực thì đứng ngoài thỉnh thoảng
châm biếm như thói quen của mình, còn Vũ Trọng Phụng chỉ
cắm cúi viết, đem lao lực và tài năng của mình ra phản ánh cuộc
đời, mổ xẻ những ung nhọt của xã hội. Tuy vậy, viết Đời mưa gió
Khái Hưng và Nhất Linh đã cố làm nghệ thuật vô tư theo kiểu
Gide mà viết Làm đĩ. Vũ Trọng Phụng đã phục vụ cho đời đã “vị
nhân sinh” trong một vấn đề quan trọng của cuộc đời. Và cái lý
thú là hai cuốn tiểu thuyết lại cũng một chủ đề: gái giang hồ.
Như là để cho người đời đem hai cuốn ra mà đối chiếu với nhau
để thấy thế nào là “vị nghệ thuật” và thế nào là “vị nhân sinh”, rõ
ràng sáng sủa, hơn đọc hàng loạt những bài văn chính luận cao
đàm, hùng biện đại hải tràng giang của các chiến sĩ thuộc hai
phái đối địch kia.
Vũ Trọng Phụng đã có trách nhiệm trong ý định viết cuốn
Làm đĩ, lại còn luôn nhớ đến trách nhiệm trong lúc viết. Từ khi
cuốn sách ra đời cho đến nay đã gần sáu chục năm trời rồi, người
viết bài này chưa hề thấy một ai trích một câu, một chữ nào của
Làm đĩ để nói đến cái gì là dâm ô hay là khêu gợi dục tình dù là
chỉ bóng bẩy như “tám chữ, bảy nghề”. Đọc Làm đĩ mà nghĩ đến
cái gì bậy bạ thì chỉ đáng được cáo lời rủa trứ danh của quốc
vương nước Anh Edward III: “Phải nguyền rủa kẻ nào nghĩ bậy
về việc ấy - homi soit qui mal y pense”
Trái lại, vì nghệ thuật tả Tuyết trong Đời mưa gió của Khái
Hưng và Nhất Linh đã quá thành công theo ý muốn của hai tác
giả mà hình ảnh cô gái nhẩy ấy đã thành mơ ước của không ít
bạn đọc ở cái thời “vui vẻ, trẻ trung” thậm chí đã có ý kiến trong
đám thanh niên là “đĩ mà đẹp thì còn hơn vợ mà xấu”, sắc đẹp và
duyên dáng của Tuyết là cái “triết lý” chán chường của Tuyết, lối
sống phóng đãng say sưa của Tuyết đã có sức cám dỗ không nhỏ,
không những đối với nhiều người trong những năm 30, mãi mãi
cả về sau nữa, đã có những giáo sư thời chúng ta lên lớp thì lên
án, thậm chí mạt sát Khái Hưng, Nhất Linh không để vào đâu
cho hết đúng với lập trường hết sức nhưng có hậu trường lại say
Tuyết như điếu đổ, không những chỉ vì tài nghệ của các nhà văn
Tự lực đã tả Tuyết mà còn thêm sức hút của các trái cấm từ lâu
ngày nữa.
Tác động của tiểu thuyết lãng mạn Tự lực Văn đoàn không chỉ
đơn thuần là lãng mạn sướt mướt kiểu thế kỷ XIX mà còn pha
chút chủ nghĩa Gide của thế kỷ XX ở Việt Nam là thế. “Đáp lời
báo Ngày nay”, trong báo Tương lai ngày 25-3-1937 Vũ Trọng
Phụng viết “Tôi không biết gọi gái đĩ là nàng - chữ ấy nó thi vị
lắm, hoặc tô điểm cho gái đĩ ấy các thi vị mà gái đĩ ấy không có,
đến nỗi đọc xong truyện người ta chỉ thấy gái đĩ làm gương cho
thế gian noi theo...
“Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà
văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết thực sự là ở đời...
Các ông muốn theo tiểu thuyết tuỳ thời, chỉ nói cái gì thiên hạ
thích nghe nhất là sự giả dối. Chúng tôi chỉ muốn nói cái gì cũng
đúng sự thực”[8].
Một đoạn văn luận chiến nhưng cũng là những lời khẳng định
về sự khác nhau giữa hai quan niệm về tiểu thuyết mà Đời mưa
gió và Làm đĩ là hai bức tranh minh họa; một bên là tiểu thuyết
lãng mạn quá sức “tiểu thuyết” đi khá xa cuộc đời, một bên là
tiểu thuyết hiện thực, tả lại “sự thực ở đời”, hay hơn nữa, một
cuốn “phóng sự tiểu thuyết” cái loại tiểu thuyết mà Vũ Trọng
Phụng đã khai sinh và đặt tên để gọi cuốn Cạm bẫy người của
mình xuất bản năm 1935 và năm 1936 đem ra dùng lại để giới
thiệu cuốn Làm đĩ: “hiến quốc dân thiên phóng sự tiểu thuyết
này” vì muốn cho người đọc hiểu là nội dung của nó đã được rút
ra từ đời thực như ở một thiên phóng sự, chứ không phải là hư
cấu theo một nhận thức thiên vị nào.
Là tiểu thuyết hiện thực, là phóng sự tiểu thuyết, Làm đĩ còn
có một đặc tính nữa rất rõ là tiểu thuyết giáo huấn, vì mục đích
của nó là nhắc cho những cô giáo, thầy giáo, những người mẹ,
người cha sự cần thiết phải dạy cho nữ sinh, nam sinh, cho con
gái con trai những điều cần biết về giới tính, về quan hệ nam nữ,
về hôn nhân, gia đình. Và vì mục đích ấy mà Vũ Trọng Phụng đã
hầu như không cần gì đến nghệ thuật tiểu thuyết cả, cứ chia
sách ra những chương theo thứ tự thời gian: “đoạn đầu, tuổi dậy
thì, ra đời, lấy chồng, trụy lạc, đoạn cuối” chẳng khác nào một
cuốn sách giáo khoa khô khan, không hơn, không kém.
III - TRONG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH “PHẢI DẠY
CON DẠY THUỞ CÒN THƠ”
Mở đầu cuốn tiểu thuyết, Vũ Trọng Phụng nhắc đến một cái
dư luận chung của xã hội khi thấy một người con gái làm đĩ. “Tại
nó hư... nó hư thì nó thế” nhưng Vũ Trọng Phụng hỏi lại ngay,
hỏi đi rồi hỏi lại: “Thế nào là hư, tại sao mà hư? Nhưng mà vì sao
nó hư?” Và gần hai trăm trang sách tiếp theo là để thuật lại cho
ta biết, kể lại cho ta nghe những gì, những ai đã đưa Huyền một
người con nhà tử tế, xinh đẹp, có học, thông minh nết na đến chỗ
trụy lạc. Huyền đã thấy và đã nói “tuổi dậy thì, cái hoàn cảnh
xấu, những bạn hữu xấu, một nền giáo dục sai lầm, ngần ấy cái
đã làm cho em hóa ra đến nỗi như ngày nay”.
Là một cô bé thông minh lên chín lên mười, Huyền đã thấy mẹ
đẻ hết em này đến em khác, muốn biết em từ bụng mẹ mà ra
theo đường nào thì cô bảo ra ở nách, u già thì bảo ở đít, và chị thì
bảo ở bụng, hỏi vì sao mà đẻ thì họ bảo ăn no thì khắc đẻ; mỗi
người trả lời một phách chỉ càng làm tăng tính tò mò của cô bé,
mà vì thế mà có lần bố đã nọc Huyền ra đánh một trận nên thân
lại cấm khóc.
Bọn học trò con trai thì nói chuyện vợ chồng sinh, đẻ với
nhau, tranh nhau nói với bạn gái tỏ ra mình cái gì cũng biết; lại
như thằng Ngôn mới chục tuổi ranh đã chứng minh bố mẹ nó ăn
nằm với nhau như thế nào ngay cả với bạn gái của nó bằng cái
“trò chơi vợ chồng” trong gia đình nó bố mẹ ngủ với nhau ngay
cạnh chỗ nó ngủ, cũng chẳng cần tắt đèn, họ không quan tâm
đến tính nghịch ngợm, hay bắt chước của trẻ con. Những trẻ biết
suy nghĩ thì cứ phải nghe người lớn chửi nhau dùng toàn những
chữ gọi các bộ phận sinh dục và chỉ sự nam nữ giao hợp; mẹ
Huyền là bà phán mà nựng con trai bé cứ mó máy bộ phận sinh
dục của nó, thích chí lại giơ ra trước mặt chị nó mà bảo: “Ghét,
ghét cái con bòi ông đây này!” Gia đình Việt Nam ta từ trước đây
lúc nào cũng nói đạo đức nhưng người lớn đã giáo dục gì cho con
em để sống có dạo đức cho ra con người.
Đến lúc dậy thì, khủng hoảng, hoang mang, lo sợ, người con
gái “có bao nhiêu nỗi khổ tâm mà không được đem nói với ai!
Dẫu với mẹ cũng không làm sao hở môi được. Huyền hoảng hốt
nhất là lúc thấy kinh lần đầu tiên, thử hỏi mẹ về vấn đề nam nữ
thì mẹ chỉ bảo “bao giờ lấy chồng con sẽ biết” và Huyền ghi nhận
là “cả sự giáo hóa về vấn đề ấy, gia đình em huấn luyện cho em từ
trước đến sau chỉ một câu ấy mà thôi!”. Và trong khi đó thì chị
em bạn gái, bạn trẻ con, đám tôi tớ cứ hễ động đến vấn đề ấy là
cứ như nói cho sướng mồm như để khiêu khích tình dục vậy.
Vì người lớn không dậy những điều mà con em đến tuổi dậy
thì cần phải biết nên mới có những đứa trẻ nghịch đùa cơ quan
sinh dục, thủ dâm, rồi có thể hiếp dâm nữa. Vai trò của gia đình
và nhà trường trong việc giáo dục giới tính cho trẻ ngay từ bé,
đến nay nhiều người còn chưa thấy là cần thiết, mà năm 1936
Vũ Trọng Phụng đã nhắc đi nhắc lại là rất quan trọng rồi. Cũng
không khỏi có người cho là ngày nay xã hội văn minh, con người
hiện đại hiểu biết nhiều và hiểu biết sớm không dễ hư như trong
thời phong kiến mà cái giáo điều “nam nữ thụ thụ bất thân” cổ
hủ đã bất lực không ngăn ngừa được những việc tai hại. Không
phải xã hội loài người ngày nay cái gì cũng tốt đẹp hơn trước cả.
Một tệ nạn khủng khiếp - nạn mãi dâm trẻ em đang lan ra, nhất
là ở các nước châu Á chẳng phải là cái dã man, vô nhân đạo gấp
bao nhiêu lần chế độ buôn nô lệ mà lịch sử đã xóa bỏ từ lâu rồi
không?
Trong đời người con gái, tuổi dậy thì là lúc mà vai trò gia đình
quan trọng nhất. Huyền kể lại: “lần đầu em mặc cái quần trắng
len lét qua mặt thầy em... thầy em trừng mắt gọi lại hỏi: “đồ đĩ!
Tao đã cho mày ăn mặc như thế đấy à?” Thật là “nghiêm huấn
rành rành”, nhưng mà cái ông bố ấy tối nào mà chẳng đi đến 3
giờ sáng mới về, rồi một hôm “oanh liệt rước cô vợ bé về nhà”
một chị ả đào đã có mang, khiến vợ và các con nhỏ phải bỏ nhà
về quê.
Và Huyền nhớ lại vào một buổi tối trời rả rích mưa, mẹ ôm
đứa em bé mà xì xụp khóc, anh đi theo bọn mất dạy bỏ cả học
hành, bố cùng các bạn già phá gia chi tử đi tìm thú yên hoa hay
đổ bát, mình thì cặm cụi ngồi viết bài Pháp văn tả cảnh gia đình
hạnh phúc có bố ngồi đọc báo, anh ngồi học, mẹ đan áo, em bé
chơi ngoan... Tìm cái bút chì, mở cặp sách của ông anh thì rơi ra
một tập ảnh khiêu dâm, nam nữ trần truồng. Giáo dục của nhà
trường dù có tốt, nhưng đã bị không ít gia đình hủy hoại đi bằng
lối sống thường nhật của họ như vậy.
Huyền có người anh họ xa là Lưu ở nhờ nhà mình để đi học và
họ đã yêu nhau thành thật và đúng đắn, nhưng chưa dám hở
môi ra với ai. Một đêm thức giấc sau những cơn mộng mị hãi
hùng, thì chỉ có cách cái bức vách gỗ, nghe rộn lên “những sự thị
uy của ái tình” giữa ông bố già và cô vợ bé: những cái hôn kêu
choen choét, những hơi thở ì ạch, sự rung động lắc rắc của cái
giường lò xo, những tiếng rú khoái lạc”, Huyền thở dài, rón rén
bỏ xuống nhà dưới, tình cờ Lưu không ngủ được, cũng xuống và
“đã xảy ra cái sự không thể không xảy ra được”. Kiểu ăn ngủ của
người mình theo cách bố trí nhà cửa cộng thêm lối cẩu thả hớ
hênh của những đôi vợ chồng, cha mẹ như thế thì làm sao ngăn
ngừa một nhóc con như thằng Ngôn “vỡ lòng học lấy những
nghề nghiệp hay” lại làm sao lại không đẩy cô Huyền mới lớn lên
vào cảnh “sóng tình dường đã xiêu xiêu”.
Tả quan hệ giữa Huyền và Lưu, Vũ Trọng Phụng như muốn
lưu ý bạn đọc đến cái điều quan trọng mà tục ngữ ta đã nhắc nhở
từ ngàn xưa “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” và Vũ Trọng Phụng
đã chẳng viết về vấn đề ấy cả một cuốn tiểu thuyết lấy nhau về
tình đó sao? Tất nhiên Lưu và Huyền yêu nhau thật sự, biết rõ
bổn phận đối với nhau, không để cho “mây mưa đánh đổ đá
vàng” như Nguyễn Chẩn trong Hội chân lý đời Đường rồi hậu
thân của y là Trương Quân Thụy trong Tây Sương ký[9] đời
Nguyên nhưng mà rồi hậu quả đã đến với Lưu thật là khủng
khiếp, Lưu đã phải trả giá việc ấy bằng chính tính mạng của
mình.
Qua mối tình bi thảm giữa Lưu và Huyền, Vũ Trọng Phụng có
ý nhắc cho các nhà giáo nhớ đến tính chất giới tính, tính chất xác
thịt của tình yêu, trái với quan điểm lãng mạn chủ nghĩa đã quá
lý tưởng hóa tình yêu là tinh thần, là cao thượng; trong Thay lời
tựa, tác giả viết: tình dục đã cần cho xác thịt cũng như sự ăn
uống thì ái tình cao thượng chỉ là một thứ ái tình trong đó sự ham
muốn của xác thịt không được thỏa mãn, nghĩa là nói tóm lại thì
đó chỉ là thứ ái tình thất vọng mà thôi! Nó bị thất vọng thì người
ta gọi nó là ái tình cao thượng, ái tình trong sạch, yêu trong lý
tưởng “yêu bằng tinh thần” tiêu biểu nhất cho thứ ái tình ấy là
mối tình Lan và Ngọc trong Hồn bướm mơ tiên. Quan niệm tình
yêu như thế xa với sự thật trong đời và không giúp ích cho giáo
dục thanh niên để ngăn ngừa những việc không tốt có thể xảy
đến khi họ bắt đầu biết đến tình yêu.
Nhắc đến quan hệ giữa tình yêu và tình dục, Vũ Trọng Phụng
đã bị bao nhiêu lời buộc tội và ngày nay vẫn chưa hết bị buộc tội
là “đồ đệ của thuyết Phờ-rớt phản động”. Những ai nói thế là rõ
ràng chưa hiểu gì, hay chỉ biết loáng thoáng qua những nhận
định rất sơ lược và lệch lạc về học thuyết của S.Freud (đọc là phơ
roi, không phải Phờ rớt) mà thiên hạ chỉ truyền miệng nhau cho
ra vẻ hiểu biết về khoa học mà thôi.
Có âm dương, có vợ chồng,
Dẫu từ thiên địa, cũng vòng phu thê.
Ôn Như Hầu cũng tổng kết cho ra đấy; thánh thiện đến như
các tôn giáo mà có giáo nào phủ nhận âm dương và vợ chồng,
nghĩa là vật chất và giao hợp, thậm chí biết bao tôn giáo, tín
ngưỡng đến nay vẫn còn thờ phụng những vật bắt nguồn từ thực
khí nam nữ.
IV - GIA ĐÌNH RỒI XÃ HỘI ĐẨY CON NGƯỜI
ĐẾN CHỖ “LÀM ĐĨ”
Đoạn đường sa chân lỡ bước của Huyền bắt đầu từ chỗ lấy
chồng. Trước tiên là không tự do trong hôn nhân. Kim - một viên
tham tá, công chức hành chính trung cấp thời Pháp thuộc, hỏi
Huyền làm vợ, bà mẹ tội nghiệp sợ chết đi để lại đàn con bơ vơ
trong cảnh mẹ ghẻ con chồng van xin Huyền nhận lời, dù nhà
trai đòi cưới chỉ trong nửa tháng. Huyền chưa kịp mở miệng, ông
bố đã nổi cơn thịnh nộ đàn áp tức thì: “mày câm đi! ông là bố
mày, ông có quyền gả chồng cho mày lắm, ông bắt mày ngồi đâu
thì mày phải ngồi đấy!”.
Đến bước đường cùng, chẳng có cách nào bảo vệ được tình yêu
nữa, Lưu tự tử để lại thư tuyệt mệnh là đã chán đời không muốn
sống và chẳng hề đả động gì đến tình yêu với người yêu cả. Mấy
hôm sau thì Huyền về nhà chồng.
Cái chết đột ngột như tiếng sét của Lưu thật đúng với tính
cách của anh ta: mê đắm, cuồng si và lại được một cuốn phim
kích thích dữ dội. Anh ta kể lại phim đó là “một chuyện tình, một
thiên thảm sử ghê gớm trong đó có sự âu yếm nồng nàn đến nỗi
đáng sợ như sự căm hờn hằn học, trong đó có đủ mọi ý vị của
máu, của sự khoái lạc, và của cái chết... ”.
Vũ Trọng Phụng không dựng đứng lên đâu. Thời tác giả viết
Làm đĩ, các rạp chiếu bóng ở Việt Nam vừa chiếu cuốn phim
nhan đề Maryerling dựng lại mối tình bi thảm của Rudolf thái tử
đế quốc Áo - Hung, người thừa kế độc nhất của đế quốc lâu đời
nhất châu Âu ấy, vì không thể kết hôn với người yêu là Maria
Vetsera, đã cùng nhau tự tử năm 1889 ở Mayerling; trong cái
thời lãng mạn ấy, cuốn phim đã gây chấn động dữ dội, còn hơn
những tiểu thuyết ái tình bi thảm nữa. Mà thời ấy trong lúc báo
chí cũng vừa đăng vụ Vi Văn Huyền con một viên quan tỉnh giàu
có bậc nhất Bắc Kỳ đã giết chết người yêu rồi tự sát.
Ngoài ảnh hưởng tai hại của gia đình, Vũ Trọng Phụng còn
thấy rõ vai trò nguy hiểm của xã hội, qua những phương tiện
truyền thông, những loại hình nghệ thuật nhất là phim ảnh mà
tác động mạnh mẽ và tức thời vì bằng những hình ảnh cụ thể, lời
nói kích động và âm thanh quyến rũ. về cái hại của tiểu thuyết
tình lãng mạn, Vũ Trọng Phụng đã để cho Huyền nói khá nhiều,
và về phim ảnh, phim ngày ấy đâu đã đến lõa lồ và hung bạo như
ngày nay mà Vũ Trọng Phụng cũng đã để cho Huyền tự nhận
định là “đã nhiễm phải ảnh hưởng của mấy tờ báo mà ngày nào
người ta cũng bàn bạc om sòm về các ngồi sao chớp bóng... mà
người ta cứ viết thẳng một cách ngây thơ chẳng ngượng ngòi bút
là sex appeal... em đã làm cho một người phải ham muốn em...
bằng cách khiêu dâm... Không, bằng sex appeal, nói thế hơn, vì
nói tiếng mẹ đẻ thì việc ấy mất hết thi vị, không có vẻ mỹ thuật
nữa mà lại dâm đãng một cách bản xứ, mặc lòng nghĩa lý của hai
thứ tiếng vẫn chỉ là một!.. Vạn tuế cho bọn “văn sĩ” của mấy rạp
chớp bóng!”.
Chính cái tờ báo hàng ngày đã đăng một số truyện ngắn đầu
tiên của Vũ Trọng Phụng là tờ Ngọ Báo đã khai trương thứ văn
chương chớp bóng ấy bằng cách mỗi tuần vào ngày thứ năm ra
một “phụ chương chớp bóng” bán đắt như tôm tươi.
Cảnh vợ chồng Huyền với Kim lại thật là oái oăm; tối tân hôn,
lang quân rất mực lịch sự, chẳng ép nài mây mưa gì cả, rồi cả
tuần cứ như thế, thì ra anh chàng đang mắc bệnh giang mai, và
đã thanh minh: “Đàn ông bây giờ mắc bệnh phong tình, đó có là
sự quái gở gì đâu! Thiếu niên[10] mắc nhan nhản ra đấy. Mà họ
còn năm lần bảy lượt. Đàn ông như tôi là đã ngoan lắm, mợ biết
chưa”.
Phải kiêng mọi quan hệ tình dục cho đến khi khỏi hẳn bệnh,
thì không đêm nào là Kim không quấy rầy vợ bằng cách “nửa đời
nửa đoạn” làm cho Huyền cứ bị khiêu khích dữ dội. Ban ngày thì
Huyền được chồng đem đi dự các trò tiêu khiển của xã hội
trưởng giả: xem phim, ăn hiệu, chợ phiên, nhảy đầm, đánh cá
ngựa, nơi mà bọn nhà giàu ăn chơi “hiện nguyên hình là một lũ
bợm đĩ dưới hình thức choáng lộn, và tiến bộ, và văn minh... lẫn
lộn với bọn nam nhi cũng đánh phấn, bôi môi gần như đàn bà, và
bọn đàn bà thì nhờ những mốt y phục tối tân kỳ lạ nó phô phang
cả đùi lẫn ngực ra dưới làn voan mỏng một cách rất lịch sự”. Và
chính ở giữa đám người ấy Huyền đã gặp Tân. Kim rối rít khoe
với vợ Tân là bạn cũ, con một viên tổng đốc rất giàu lấy vợ từ
năm mười tám, bỏ vợ sang Pháp du học rồi về nước chẳng làm gì
cả, “sống một mình để hưởng hết mọi lạc thú ở đời”. Kim tấm tắc:
“Thật là một người sung sướng nhất đời! Có danh vọng, có học
thức, có tiền bạc, lại không bận bịu vợ con! Tự do đủ mọi đường,
sướng thật”.
Tân là thần tượng của Kim; và tự hào, đắc chí có một người
bạn sang giàu như thế, đã đưa ô tô mình về đến tận nhà, Kim
mắng vợ: “Mợ lại tiếp đãi người ta nhạt nhẽo như thế. Nói thế mà
cứ cãi thì chó cũng không nhịn được!.. Thì mợ cứ tiếp đãi người
ta cho mặn mà hơn nữa thì đã sao? Mợ là nhà quê đấy à? Mợ ngu
đần xưa nay đấy à?”.
Ít lâu sau thấy Huyền “tự nhiên như đầm, đáng mặt phụ nữ
tân thời”, nghĩa là bạo dạn tiếp đãi Tân thân mật, Kim tỏ vẻ sung
sướng lắm khen “tốt lắm, thế là rất phải” lại tiếp theo bằng một
câu tiếng Pháp “Mình đã thành ra một phu nhân của giới thượng
lưu rồi đấy”.
Tân kiếm cớ mời Huyên đi Lạng Sơn, Huyền tỏ ý ngại, liền bị
Kim mắng cho xối xả: “Nghi hoặc thì là người cả ghen... Thế thì lọ
lắm! Sống cuộc đời mới, theo Âu hóa thì không được nghi ngờ
như người cổ hủ... Thôi đi, mợ cũng hủ bại vừa chứ! Đừng hỏi
nữa! Đồ ngu!..”.
Thái độ sùng bái con Bê vàng của Kim đã đẩy vợ vào tay bạn,
mở đường cho Huyền và Tân cùng nhau ngoại tình. Đến khi việc
vỡ lở, Huyền mới thấy những người đàn ông ấy tàn ác đến thế
nào. Kim bắt Huyền viết theo bản giáp của mình thảo ra “lời thú
tội” đã ngoại tình và “xin cam đoan là chịu thôi không đòi hỏi
những quyền lợi của người vợ chính thất”, lại kết bằng một câu:
“Khi thảo giấy này tôi vui lòng mà thảo chứ không do chồng tôi
bắt ép”. Lời thú lại còn có câu: “Tôi đã đem nhiều tiền của chồng
ra cùng nhân tình tiêu hoang”, Huyền xin chồng đừng vu oan
như thế, Kim hạ lệnh “Phải viết! Phải đúng như thế, không được
sai một chữ! ít ra tôi cũng phải có một thứ khí giới đối ...
Làm Đĩ
TIỂU THUYẾT
Hoàng Thiếu Sơn chú thích và giới thiệu
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Hà Nội - 2005
Làm Đĩ - CUỐN SÁCH CÓ TRÁCH NHIỆM VÀ ĐẦY
NHÂN ĐẠO
Hoàng Thiếu Sơn
I - LÀM ĐĨ RA ĐỜI ĐỂ LÀM GÌ
S
au ba mươi năm bị ghi vào sổ đen, các tác phẩm của Vũ
Trọng Phụng đã lần lượt được tái bản thấm thoắt đã gần
bảy năm rồi, duy có một vài tác phẩm vẫn còn chưa
được thấy lại ánh sáng mặt trời trong đó có cuốn Làm đĩ này. Vì
chỉ nghe cái tên sách là lắm người đã lấy làm sợ quá đi rồi.
Nhưng sợ thế thì nghĩ cho cùng là vì người ta chưa thoát hẳn
được cái thành kiến mà từ năm 1936 Thái Phỉ đã gây ra: văn Vũ
Trọng Phụng là “văn chương dâm uế”[1]. Bốn chữ cái mà hai
mươi năm sau, khi đất nước đã trải qua một cuộc cách mạng
thành công rồi một cuộc kháng chiến thắng lợi rồi, Hoàng Văn
Hoan còn mượn lại để gây ra cả một phong trào đấu tranh chống
Vũ Trọng Phụng, mà không biết Hoàng Văn Hoan có đọc các tác
phẩm hay không. Và cái việc vu hãm, phỉ báng người quá cố ấy Vũ Trọng Phụng làm sao mà thanh minh được như đã tự do trả
lời Thái Phỉ và Nhất Chi Mai trong sinh thời? - cuộc lên án ấy
buồn thay lại đã có nhiều kẻ nghiên cứu, và nhất là nhiều kẻ dạy
học gieo sâu vào nhận thức của bao nhiêu lớp sinh viên trong
suốt ba chục năm trời gấp đôi cái cuộc trầm luân, cái kiếp phong
trần của chị Thuý Kiều ấy. Đến nỗi ngày nay có nói đến “phục
hồi” chân giá trị của Vũ Trọng Phụng vẫn còn không ít người cứ e
dè, để riêng cuốn Làm đĩ ra một bên.
Hôm nay cuốn sách đã ở trước mặt bạn đọc đây rồi, mong
rằng sau khi đọc hết hai trăm rưỡi trang của nó, các bạn sẽ tự kết
luận là có cảnh nào khêu gợi tình dục như trong bao nhiêu tiểu
thuyết dịch của Mỹ và phương Tây và cũng có của một số nhà
văn ta hiện đang cầm bút viết ra và đang bày bán câu khách đầy
các quầy sạp, phố phường và như không ít cảnh diễn ra trên sâu
khấu các nhà hát, màn ảnh các rạp chiếu bóng và các máy truyền
hình hiện nay không?
Cuối thế kỷ trước, Liep Nhikalaievits Tolxtoi, đã ngoài bảy
mươi tuổi, trải qua khủng hoảng tinh thần, phủ nhận toàn bộ sự
nghiệp văn chương lớn lao của đời mình gồm những Chiến tranh
và hòa bình, Anna Karenina... vì cho là vô đạo đức, rồi quyết tâm
xây dựng một nền văn học khác, lấy đạo lý làm kim chỉ nam, làm
mục đích. Và mở đầu cho cái sự nghiệp không chỉ là đổi đời, mà
là “đẻ ra lại trong một cuộc đời khác” Tolxtoi đã viết gì? Viết Sống
lại, cuốn tiểu thuyết về “ả Maxlova” gái điếm bị ra tòa và kết án
phát vãng đi Xibia. Xây dựng một nền văn hóa phục vụ việc chấn
hưng đạo đức xem như là một nhiệm vụ thiêng liêng mà “đại văn
hào của đất Nga” lại bắt đầu bằng cuốn sách về một gái điếm và
không bỏ sót những cảnh sống nhầy nhụa, ê chề của các kẻ trụy
lạc ấy. Sống lại có hiện thực trong các cảnh đời mô tả, nhưng xây
dựng theo khuynh hướng chủ quan và không tưởng, nhưng ngót
trăm năm nay vẫn được thế giới quý trọng vì tinh thần nhân đạo
và ý thức trách nhiệm của tác giả, và nó cũng xứng đáng được
như thế.
Vũ Trọng Phụng viết Làm đĩ cũng xuất phát từ một ý thức
trách nhiệm. Gần chục cuốn tiểu thuyết của mình có cuốn nào
vũ Trọng Phụng thấy cần phải viết lời tựa đâu. Nhưng cuốn Làm
đĩ, trước khi vào truyện đã có bốn trang “Thay lời tựa” nói rõ
ràng:
“Xã hội Việt Nam này, thật vậy, đã bắt đầu loạn dâm.
“Sự làm giàu đùng đùng của các thầy lang chữa bệnh hoa liễu, sự
phát đạt của những tiệm khiêu vũ, tăng số của bọn giang hồ, nạn
hoang thai, những vụ án mạng vì tình mà hàng ngày các báo đăng
lên mục tin đặc biệt, sự chán đời đến tự tử của một số nam nữ thiếu
niên[2] nạn hiếp dâm, vân vân, đã đủ dẫn chứng cho lời than ấy.
“Đứng trước tình thế ấy mà chỉ khoanh tay kêu: “Ôi phong hóa
suy đồi” thì nào có ích gì cho ai?
“Tìm một nền luân lý cho sự dâm giáo hóa cho thiếu niên. Biết rõ
tình dục là những gì, đó là những việc phải làm ngay vậy.
“Nam nữ thiếu niên vào lúc dậy thì, vào lúc xác thịt rạo rực lên vì
sự biến đổi âm thầm và sự phát triển của những cơ quan sinh dục, là
rất dễ lầm lỗi, rất dễ hư hỏng, nếu không được bậc cha mẹ chỉ bảo
những điều cần biết và đề phòng mọi hoàn cảnh xấu xa hộ cho...
Và Vũ Trọng Phụng khẳng định: “Vì những lẽ ấy mà truyện
Làm đĩ ra đời”:
Một tác phẩm xuất phát từ thiện ý như vậy thì dù có đạt được
mục đích tác giả để ra hay không thì cũng đáng để người đời biết
ơn rồi.
Cuốn Làm đĩ này ra đời là kẻ viết bài này đã thực hiện được
một phần nhiệm vụ mà chị Vũ Mỵ Hằng, con gái ông Phụng trao
cho tôi: “cố gắng công bố cho đồng bào tất cả ngôn ngữ gì mà
sinh thời ông Phụng đã viết. Tôi cũng xin thú thật là đa số các tác
phẩm của ông đã hết lòng tin cậy trao lại cho Nhà xuất bản Văn
học, riêng cuốn Làm đĩ này tôi đã có ý định dành cho một nhà
xuất bản thuộc ngành giáo dục vì nghĩ là cuốn sách gần với chức
năng xã hội của nhà xuất bản ấy, nhưng một người có trách
nhiệm của nhà xuất bản đã thành thực bảo tôi “thông cảm là nhà
xuất bản chúng em mà in Làm đĩ thì cũng khó ăn khó nói quá”.
Tất nhiên là tôi rất “thông cảm” nhưng dù nhà xuất bản nào mà
in Làm đĩ thì tôi cũng cho là đã phục vụ nền giáo dục, và các bạn
đọc được phục vụ trước tiên trên là những cô giáo, thầy giáo có
học trò và các mẹ, cha có con gái, con trai đang đến tuổi dậy thì.
Nhất là dăm năm nay, nhà trường của chúng ta cũng đã phải
thấy ra rằng giáo dục giới tính là quá cần thiết rồi. Mà không
muốn thấy làm sao được trong lúc bệnh Sida đang lan nhanh
như lửa cháy thảo nguyên, đe dọa sinh mệnh của toàn thể nhân
loại ngày mai đây. Mà đến nay nhà trường ta mới có môn giáo
dục giới tính thì chẳng phải là sớm sủa gì, “nước đến chân” rồi.
Trong báo Tương lai ra ngày 11-3-1937, trả lời một độc giả[3] Vũ
Trọng Phụng đã viết “hiện giờ bên Pháp dự án Sciller[4] đương ở
thời kỳ thảo luận. Nay mai, chỉ nay mai thôi, nó sẽ ban hành ở
Pháp và ở nơi đây. Đối với nạn mãi dâm, sẽ có khoản nam nữ giao
cấu giáo dục (éducation sexulle)[5] cho các trường sơ đẳng”[6].
Hai tuần sau, cũng trên tờ báo Tương lai ngày 23- 3-1937 “Đáp
lời báo Ngày nay”[7] Vũ Trọng Phụng nhắc lại:
“Nay mai Pháp đình ưng chuẩn cho dự án của Sciller, thì
những điều các ông cho là dâm uế đã được người ta giảng dạy
cho trẻ con... Tôi tưởng các ông có học vấn như thế, hẳn là phải
biết trước khi mọi người biết, mới là hợp lệ”.
Vũ Trọng Phụng nói đến học vấn của kẻ bút chiến với mình vì
người đó đã cố vạch ra cái mà họ gọi là “bẩn thỉu”, “nhơ nhớp”,
“dơ dáng” trong văn Vũ Trọng Phụng, là vì người đó, Nhất Chi
Mai đã cho Vũ Trọng Phụng là “văn sĩ nửa mùa”, chỉ lòe đời bằng
cái học vấn “sơ học”! Đúng là Vũ Trọng Phụng chỉ được học hết
có bậc sơ học, nghĩa là tiểu học Pháp - Việt ở trường Hàng Vôi,
mà Nhất Chi Mai tức Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, thì đã đỗ cử
nhân khoa học từ bên Pháp về, nhưng trong cuộc luận chiến
không những có tính xã hội mà còn tính khoa học này, phải thấy
là Vũ Trọng Phụng rất đúng, mà đến nay gần sáu mươi năm đã
trôi qua lại càng rõ là nhà văn “sơ học” đã thấy đúng hơn ông
nghè, ông cống Tây học nhiều, và điều đáng ngạc nhiên là Vũ
Trọng Phụng quan niệm vấn đề sinh lý học đúng hơn ông cử
nhân sinh vật học nhiều. Và như thế đã từ gần sáu chục năm rồi,
nghĩa là sớm hơn các nhà giáo dục học của ta ngày nay cũng già
nửa thế kỷ.
II - BÚT CHIẾN VỀ “VĂN CHƯƠNG DÂM UẾ”
CŨNG LÀ LUẬN CHIẾN GIỮA NGHỆ THUẬT VỊ
NGHỆ THUẬT VÀ NGHỆ THUẬT VỊ NHÂN
SINH
Tại sao lại có cuộc bút chiến dữ dội về văn chương dâm uế
giữa Vũ Trọng Phụng với Thái Phỉ rồi với báo Ngày nay như thế.
Thực ra thì đó là cuộc bút chiến giữa hai trường phái tiểu thuyết
những năm 30 giữa phái lãng mạn với phái hiện thực.
“Làm đĩ” của Vũ Trọng Phụng viết xong tháng mười năm
1936, trước đó Khái Hưng và Nhất Linh đã xuất bản cuốn Đời
mưa gió từ năm 1934. Cùng một chủ đề về gái giang hồ hai cuốn
tiểu thuyết ấy đã đặt vấn đề khác hẳn nhau: Đời mưa gió tả lối
sống phóng đãng của một gái giang hồ, Tuyết xinh đẹp, có học và
thông minh, thích sống với cái “đời mưa gió” tuy có nhiều cơ hội
trở lại cuộc sống yên lành, trong sạch, nhưng cứ ngựa theo
đường cũ, không muốn hoàn lương vì chán cuộc đời bình dị như
của mọi người.
Làm đĩ không tả lối sống của gái giang hồ chút nào mà chỉ
vạch lại cái cảnh ngộ đã làm cho Huyền - cô gái con nhà tử tế
xinh đẹp, có học, thông minh phải sa chân, lỡ bước vào cuộc đời
trụy lạc. Rõ ràng Đời mưa gió là cuốn tiểu thuyết lãng mạn hợp
thị hiếu của bạn đọc thời ấy mà đa số là những học sinh, những
tiểu công chức, trình độ học thức phần lớn ở bậc cao đẳng tiểu
học Pháp - Việt và sống trong cảnh xã hội đang đổi mới theo
hướng “Âu hóa”, đổi mới, làng nhàng và chỉ về hình thức. Trong
khi ấy thì Làm đĩ là tiểu thuyết hiện thực đã không ngần ngại đặt
ra một vấn đề: Tại sao lại có người phải làm đĩ, xã hội có nạn mại
dâm? Chính tác giả trong “đoạn cuối” sách đã nói rõ ra với nhân
vật chính của mình: “Đối với thiên hạ thì đời một người như em,
đương ở chốn yên lành mà vào nơi chông gai, chỉ có đoạn ấy là
đáng nói thôi. Tại sao con nhà tử tế hẳn hoi, con nhà quý phái
nữa, mà rồi đến nỗi... trụy lạc, ấy người đời chỉ cần biết rõ những
nguyên nhân ấy... chứ một quyển sách tả một đời trụy lạc kể từ
lúc trụy lạc trở đi, thế thôi, thiết tưởng lại chẳng có ích gì cho
đời... ”.
Mục đích của cuốn Làm đĩ thật đã rõ ràng. Và nhận xét về
cuốn Đời mưa gió “tả một cuộc đời trụy lạc kể từ lúc trụy lạc trở đi
thế thôi” lại cũng xác đáng và công bằng.
Thật ra thì các tác phẩm xuất bản trong mấy năm đầu của Tự
lực Văn đoàn, những Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng mà
Nhất Linh gọi là luận đề tiểu thuyết đã ảnh hưởng lớn đến việc
đấu tranh giải phóng phụ nữ khỏi chế độ gia đình phong kiến và
Nhất Linh và Khái Hưng đã là những nhà văn xã hội công kích
không nhỏ: “Nhưng chỉ ít năm sau, chịu ảnh hưởng của văn hào
Pháp André Gide thời bấy giờ rất lớn trên văn đàn thế giới, nên ra
đời lối viết không cứ phải chăm chú đạo đức mà chỉ cốt phản ánh
được cuộc đời, hai nhà văn Tự lực Văn đoàn bèn đổi hướng sáng
tác và cho ra đời những Trống mái, Bướm trắng, và nhất là Đời
mưa gió. Gần ba mươi năm sau đó, vào cuối đời mình, nhắc lại
việc trước, tự đánh giá sự nghiệp của mình, Nhất Linh còn tiếc là
giá sớm biết đừng gò ép ngòi bút vào các luận đề thì tiểu thuyết
của mình đã có giá trị văn chương lớn hơn nhiều.
Vũ Trọng Phụng viết Làm đĩ chính là viết cái loại mà Nhất
Linh gọi là “luận đề tiểu thuyết ấy” không hơn không kém, nghĩa
là đem văn chương ra phục vụ xã hội, còn Đời mưa gió thì đã là
bước đầu mà các nhà văn Tự lực bỏ luận đề đó (cố chuyển bút
mực sang lối viết không nghĩ đến đạo đức của Gide).
Thời bấy giờ trong làng văn Việt Nam có cuộc bút chiến khá
dữ dội giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị
nhân sinh; Tự lực Văn đoàn cũng như Vũ Trọng Phụng không
tham gia cuộc hỗn chiến ấy. Tự lực thì đứng ngoài thỉnh thoảng
châm biếm như thói quen của mình, còn Vũ Trọng Phụng chỉ
cắm cúi viết, đem lao lực và tài năng của mình ra phản ánh cuộc
đời, mổ xẻ những ung nhọt của xã hội. Tuy vậy, viết Đời mưa gió
Khái Hưng và Nhất Linh đã cố làm nghệ thuật vô tư theo kiểu
Gide mà viết Làm đĩ. Vũ Trọng Phụng đã phục vụ cho đời đã “vị
nhân sinh” trong một vấn đề quan trọng của cuộc đời. Và cái lý
thú là hai cuốn tiểu thuyết lại cũng một chủ đề: gái giang hồ.
Như là để cho người đời đem hai cuốn ra mà đối chiếu với nhau
để thấy thế nào là “vị nghệ thuật” và thế nào là “vị nhân sinh”, rõ
ràng sáng sủa, hơn đọc hàng loạt những bài văn chính luận cao
đàm, hùng biện đại hải tràng giang của các chiến sĩ thuộc hai
phái đối địch kia.
Vũ Trọng Phụng đã có trách nhiệm trong ý định viết cuốn
Làm đĩ, lại còn luôn nhớ đến trách nhiệm trong lúc viết. Từ khi
cuốn sách ra đời cho đến nay đã gần sáu chục năm trời rồi, người
viết bài này chưa hề thấy một ai trích một câu, một chữ nào của
Làm đĩ để nói đến cái gì là dâm ô hay là khêu gợi dục tình dù là
chỉ bóng bẩy như “tám chữ, bảy nghề”. Đọc Làm đĩ mà nghĩ đến
cái gì bậy bạ thì chỉ đáng được cáo lời rủa trứ danh của quốc
vương nước Anh Edward III: “Phải nguyền rủa kẻ nào nghĩ bậy
về việc ấy - homi soit qui mal y pense”
Trái lại, vì nghệ thuật tả Tuyết trong Đời mưa gió của Khái
Hưng và Nhất Linh đã quá thành công theo ý muốn của hai tác
giả mà hình ảnh cô gái nhẩy ấy đã thành mơ ước của không ít
bạn đọc ở cái thời “vui vẻ, trẻ trung” thậm chí đã có ý kiến trong
đám thanh niên là “đĩ mà đẹp thì còn hơn vợ mà xấu”, sắc đẹp và
duyên dáng của Tuyết là cái “triết lý” chán chường của Tuyết, lối
sống phóng đãng say sưa của Tuyết đã có sức cám dỗ không nhỏ,
không những đối với nhiều người trong những năm 30, mãi mãi
cả về sau nữa, đã có những giáo sư thời chúng ta lên lớp thì lên
án, thậm chí mạt sát Khái Hưng, Nhất Linh không để vào đâu
cho hết đúng với lập trường hết sức nhưng có hậu trường lại say
Tuyết như điếu đổ, không những chỉ vì tài nghệ của các nhà văn
Tự lực đã tả Tuyết mà còn thêm sức hút của các trái cấm từ lâu
ngày nữa.
Tác động của tiểu thuyết lãng mạn Tự lực Văn đoàn không chỉ
đơn thuần là lãng mạn sướt mướt kiểu thế kỷ XIX mà còn pha
chút chủ nghĩa Gide của thế kỷ XX ở Việt Nam là thế. “Đáp lời
báo Ngày nay”, trong báo Tương lai ngày 25-3-1937 Vũ Trọng
Phụng viết “Tôi không biết gọi gái đĩ là nàng - chữ ấy nó thi vị
lắm, hoặc tô điểm cho gái đĩ ấy các thi vị mà gái đĩ ấy không có,
đến nỗi đọc xong truyện người ta chỉ thấy gái đĩ làm gương cho
thế gian noi theo...
“Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà
văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết thực sự là ở đời...
Các ông muốn theo tiểu thuyết tuỳ thời, chỉ nói cái gì thiên hạ
thích nghe nhất là sự giả dối. Chúng tôi chỉ muốn nói cái gì cũng
đúng sự thực”[8].
Một đoạn văn luận chiến nhưng cũng là những lời khẳng định
về sự khác nhau giữa hai quan niệm về tiểu thuyết mà Đời mưa
gió và Làm đĩ là hai bức tranh minh họa; một bên là tiểu thuyết
lãng mạn quá sức “tiểu thuyết” đi khá xa cuộc đời, một bên là
tiểu thuyết hiện thực, tả lại “sự thực ở đời”, hay hơn nữa, một
cuốn “phóng sự tiểu thuyết” cái loại tiểu thuyết mà Vũ Trọng
Phụng đã khai sinh và đặt tên để gọi cuốn Cạm bẫy người của
mình xuất bản năm 1935 và năm 1936 đem ra dùng lại để giới
thiệu cuốn Làm đĩ: “hiến quốc dân thiên phóng sự tiểu thuyết
này” vì muốn cho người đọc hiểu là nội dung của nó đã được rút
ra từ đời thực như ở một thiên phóng sự, chứ không phải là hư
cấu theo một nhận thức thiên vị nào.
Là tiểu thuyết hiện thực, là phóng sự tiểu thuyết, Làm đĩ còn
có một đặc tính nữa rất rõ là tiểu thuyết giáo huấn, vì mục đích
của nó là nhắc cho những cô giáo, thầy giáo, những người mẹ,
người cha sự cần thiết phải dạy cho nữ sinh, nam sinh, cho con
gái con trai những điều cần biết về giới tính, về quan hệ nam nữ,
về hôn nhân, gia đình. Và vì mục đích ấy mà Vũ Trọng Phụng đã
hầu như không cần gì đến nghệ thuật tiểu thuyết cả, cứ chia
sách ra những chương theo thứ tự thời gian: “đoạn đầu, tuổi dậy
thì, ra đời, lấy chồng, trụy lạc, đoạn cuối” chẳng khác nào một
cuốn sách giáo khoa khô khan, không hơn, không kém.
III - TRONG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH “PHẢI DẠY
CON DẠY THUỞ CÒN THƠ”
Mở đầu cuốn tiểu thuyết, Vũ Trọng Phụng nhắc đến một cái
dư luận chung của xã hội khi thấy một người con gái làm đĩ. “Tại
nó hư... nó hư thì nó thế” nhưng Vũ Trọng Phụng hỏi lại ngay,
hỏi đi rồi hỏi lại: “Thế nào là hư, tại sao mà hư? Nhưng mà vì sao
nó hư?” Và gần hai trăm trang sách tiếp theo là để thuật lại cho
ta biết, kể lại cho ta nghe những gì, những ai đã đưa Huyền một
người con nhà tử tế, xinh đẹp, có học, thông minh nết na đến chỗ
trụy lạc. Huyền đã thấy và đã nói “tuổi dậy thì, cái hoàn cảnh
xấu, những bạn hữu xấu, một nền giáo dục sai lầm, ngần ấy cái
đã làm cho em hóa ra đến nỗi như ngày nay”.
Là một cô bé thông minh lên chín lên mười, Huyền đã thấy mẹ
đẻ hết em này đến em khác, muốn biết em từ bụng mẹ mà ra
theo đường nào thì cô bảo ra ở nách, u già thì bảo ở đít, và chị thì
bảo ở bụng, hỏi vì sao mà đẻ thì họ bảo ăn no thì khắc đẻ; mỗi
người trả lời một phách chỉ càng làm tăng tính tò mò của cô bé,
mà vì thế mà có lần bố đã nọc Huyền ra đánh một trận nên thân
lại cấm khóc.
Bọn học trò con trai thì nói chuyện vợ chồng sinh, đẻ với
nhau, tranh nhau nói với bạn gái tỏ ra mình cái gì cũng biết; lại
như thằng Ngôn mới chục tuổi ranh đã chứng minh bố mẹ nó ăn
nằm với nhau như thế nào ngay cả với bạn gái của nó bằng cái
“trò chơi vợ chồng” trong gia đình nó bố mẹ ngủ với nhau ngay
cạnh chỗ nó ngủ, cũng chẳng cần tắt đèn, họ không quan tâm
đến tính nghịch ngợm, hay bắt chước của trẻ con. Những trẻ biết
suy nghĩ thì cứ phải nghe người lớn chửi nhau dùng toàn những
chữ gọi các bộ phận sinh dục và chỉ sự nam nữ giao hợp; mẹ
Huyền là bà phán mà nựng con trai bé cứ mó máy bộ phận sinh
dục của nó, thích chí lại giơ ra trước mặt chị nó mà bảo: “Ghét,
ghét cái con bòi ông đây này!” Gia đình Việt Nam ta từ trước đây
lúc nào cũng nói đạo đức nhưng người lớn đã giáo dục gì cho con
em để sống có dạo đức cho ra con người.
Đến lúc dậy thì, khủng hoảng, hoang mang, lo sợ, người con
gái “có bao nhiêu nỗi khổ tâm mà không được đem nói với ai!
Dẫu với mẹ cũng không làm sao hở môi được. Huyền hoảng hốt
nhất là lúc thấy kinh lần đầu tiên, thử hỏi mẹ về vấn đề nam nữ
thì mẹ chỉ bảo “bao giờ lấy chồng con sẽ biết” và Huyền ghi nhận
là “cả sự giáo hóa về vấn đề ấy, gia đình em huấn luyện cho em từ
trước đến sau chỉ một câu ấy mà thôi!”. Và trong khi đó thì chị
em bạn gái, bạn trẻ con, đám tôi tớ cứ hễ động đến vấn đề ấy là
cứ như nói cho sướng mồm như để khiêu khích tình dục vậy.
Vì người lớn không dậy những điều mà con em đến tuổi dậy
thì cần phải biết nên mới có những đứa trẻ nghịch đùa cơ quan
sinh dục, thủ dâm, rồi có thể hiếp dâm nữa. Vai trò của gia đình
và nhà trường trong việc giáo dục giới tính cho trẻ ngay từ bé,
đến nay nhiều người còn chưa thấy là cần thiết, mà năm 1936
Vũ Trọng Phụng đã nhắc đi nhắc lại là rất quan trọng rồi. Cũng
không khỏi có người cho là ngày nay xã hội văn minh, con người
hiện đại hiểu biết nhiều và hiểu biết sớm không dễ hư như trong
thời phong kiến mà cái giáo điều “nam nữ thụ thụ bất thân” cổ
hủ đã bất lực không ngăn ngừa được những việc tai hại. Không
phải xã hội loài người ngày nay cái gì cũng tốt đẹp hơn trước cả.
Một tệ nạn khủng khiếp - nạn mãi dâm trẻ em đang lan ra, nhất
là ở các nước châu Á chẳng phải là cái dã man, vô nhân đạo gấp
bao nhiêu lần chế độ buôn nô lệ mà lịch sử đã xóa bỏ từ lâu rồi
không?
Trong đời người con gái, tuổi dậy thì là lúc mà vai trò gia đình
quan trọng nhất. Huyền kể lại: “lần đầu em mặc cái quần trắng
len lét qua mặt thầy em... thầy em trừng mắt gọi lại hỏi: “đồ đĩ!
Tao đã cho mày ăn mặc như thế đấy à?” Thật là “nghiêm huấn
rành rành”, nhưng mà cái ông bố ấy tối nào mà chẳng đi đến 3
giờ sáng mới về, rồi một hôm “oanh liệt rước cô vợ bé về nhà”
một chị ả đào đã có mang, khiến vợ và các con nhỏ phải bỏ nhà
về quê.
Và Huyền nhớ lại vào một buổi tối trời rả rích mưa, mẹ ôm
đứa em bé mà xì xụp khóc, anh đi theo bọn mất dạy bỏ cả học
hành, bố cùng các bạn già phá gia chi tử đi tìm thú yên hoa hay
đổ bát, mình thì cặm cụi ngồi viết bài Pháp văn tả cảnh gia đình
hạnh phúc có bố ngồi đọc báo, anh ngồi học, mẹ đan áo, em bé
chơi ngoan... Tìm cái bút chì, mở cặp sách của ông anh thì rơi ra
một tập ảnh khiêu dâm, nam nữ trần truồng. Giáo dục của nhà
trường dù có tốt, nhưng đã bị không ít gia đình hủy hoại đi bằng
lối sống thường nhật của họ như vậy.
Huyền có người anh họ xa là Lưu ở nhờ nhà mình để đi học và
họ đã yêu nhau thành thật và đúng đắn, nhưng chưa dám hở
môi ra với ai. Một đêm thức giấc sau những cơn mộng mị hãi
hùng, thì chỉ có cách cái bức vách gỗ, nghe rộn lên “những sự thị
uy của ái tình” giữa ông bố già và cô vợ bé: những cái hôn kêu
choen choét, những hơi thở ì ạch, sự rung động lắc rắc của cái
giường lò xo, những tiếng rú khoái lạc”, Huyền thở dài, rón rén
bỏ xuống nhà dưới, tình cờ Lưu không ngủ được, cũng xuống và
“đã xảy ra cái sự không thể không xảy ra được”. Kiểu ăn ngủ của
người mình theo cách bố trí nhà cửa cộng thêm lối cẩu thả hớ
hênh của những đôi vợ chồng, cha mẹ như thế thì làm sao ngăn
ngừa một nhóc con như thằng Ngôn “vỡ lòng học lấy những
nghề nghiệp hay” lại làm sao lại không đẩy cô Huyền mới lớn lên
vào cảnh “sóng tình dường đã xiêu xiêu”.
Tả quan hệ giữa Huyền và Lưu, Vũ Trọng Phụng như muốn
lưu ý bạn đọc đến cái điều quan trọng mà tục ngữ ta đã nhắc nhở
từ ngàn xưa “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” và Vũ Trọng Phụng
đã chẳng viết về vấn đề ấy cả một cuốn tiểu thuyết lấy nhau về
tình đó sao? Tất nhiên Lưu và Huyền yêu nhau thật sự, biết rõ
bổn phận đối với nhau, không để cho “mây mưa đánh đổ đá
vàng” như Nguyễn Chẩn trong Hội chân lý đời Đường rồi hậu
thân của y là Trương Quân Thụy trong Tây Sương ký[9] đời
Nguyên nhưng mà rồi hậu quả đã đến với Lưu thật là khủng
khiếp, Lưu đã phải trả giá việc ấy bằng chính tính mạng của
mình.
Qua mối tình bi thảm giữa Lưu và Huyền, Vũ Trọng Phụng có
ý nhắc cho các nhà giáo nhớ đến tính chất giới tính, tính chất xác
thịt của tình yêu, trái với quan điểm lãng mạn chủ nghĩa đã quá
lý tưởng hóa tình yêu là tinh thần, là cao thượng; trong Thay lời
tựa, tác giả viết: tình dục đã cần cho xác thịt cũng như sự ăn
uống thì ái tình cao thượng chỉ là một thứ ái tình trong đó sự ham
muốn của xác thịt không được thỏa mãn, nghĩa là nói tóm lại thì
đó chỉ là thứ ái tình thất vọng mà thôi! Nó bị thất vọng thì người
ta gọi nó là ái tình cao thượng, ái tình trong sạch, yêu trong lý
tưởng “yêu bằng tinh thần” tiêu biểu nhất cho thứ ái tình ấy là
mối tình Lan và Ngọc trong Hồn bướm mơ tiên. Quan niệm tình
yêu như thế xa với sự thật trong đời và không giúp ích cho giáo
dục thanh niên để ngăn ngừa những việc không tốt có thể xảy
đến khi họ bắt đầu biết đến tình yêu.
Nhắc đến quan hệ giữa tình yêu và tình dục, Vũ Trọng Phụng
đã bị bao nhiêu lời buộc tội và ngày nay vẫn chưa hết bị buộc tội
là “đồ đệ của thuyết Phờ-rớt phản động”. Những ai nói thế là rõ
ràng chưa hiểu gì, hay chỉ biết loáng thoáng qua những nhận
định rất sơ lược và lệch lạc về học thuyết của S.Freud (đọc là phơ
roi, không phải Phờ rớt) mà thiên hạ chỉ truyền miệng nhau cho
ra vẻ hiểu biết về khoa học mà thôi.
Có âm dương, có vợ chồng,
Dẫu từ thiên địa, cũng vòng phu thê.
Ôn Như Hầu cũng tổng kết cho ra đấy; thánh thiện đến như
các tôn giáo mà có giáo nào phủ nhận âm dương và vợ chồng,
nghĩa là vật chất và giao hợp, thậm chí biết bao tôn giáo, tín
ngưỡng đến nay vẫn còn thờ phụng những vật bắt nguồn từ thực
khí nam nữ.
IV - GIA ĐÌNH RỒI XÃ HỘI ĐẨY CON NGƯỜI
ĐẾN CHỖ “LÀM ĐĨ”
Đoạn đường sa chân lỡ bước của Huyền bắt đầu từ chỗ lấy
chồng. Trước tiên là không tự do trong hôn nhân. Kim - một viên
tham tá, công chức hành chính trung cấp thời Pháp thuộc, hỏi
Huyền làm vợ, bà mẹ tội nghiệp sợ chết đi để lại đàn con bơ vơ
trong cảnh mẹ ghẻ con chồng van xin Huyền nhận lời, dù nhà
trai đòi cưới chỉ trong nửa tháng. Huyền chưa kịp mở miệng, ông
bố đã nổi cơn thịnh nộ đàn áp tức thì: “mày câm đi! ông là bố
mày, ông có quyền gả chồng cho mày lắm, ông bắt mày ngồi đâu
thì mày phải ngồi đấy!”.
Đến bước đường cùng, chẳng có cách nào bảo vệ được tình yêu
nữa, Lưu tự tử để lại thư tuyệt mệnh là đã chán đời không muốn
sống và chẳng hề đả động gì đến tình yêu với người yêu cả. Mấy
hôm sau thì Huyền về nhà chồng.
Cái chết đột ngột như tiếng sét của Lưu thật đúng với tính
cách của anh ta: mê đắm, cuồng si và lại được một cuốn phim
kích thích dữ dội. Anh ta kể lại phim đó là “một chuyện tình, một
thiên thảm sử ghê gớm trong đó có sự âu yếm nồng nàn đến nỗi
đáng sợ như sự căm hờn hằn học, trong đó có đủ mọi ý vị của
máu, của sự khoái lạc, và của cái chết... ”.
Vũ Trọng Phụng không dựng đứng lên đâu. Thời tác giả viết
Làm đĩ, các rạp chiếu bóng ở Việt Nam vừa chiếu cuốn phim
nhan đề Maryerling dựng lại mối tình bi thảm của Rudolf thái tử
đế quốc Áo - Hung, người thừa kế độc nhất của đế quốc lâu đời
nhất châu Âu ấy, vì không thể kết hôn với người yêu là Maria
Vetsera, đã cùng nhau tự tử năm 1889 ở Mayerling; trong cái
thời lãng mạn ấy, cuốn phim đã gây chấn động dữ dội, còn hơn
những tiểu thuyết ái tình bi thảm nữa. Mà thời ấy trong lúc báo
chí cũng vừa đăng vụ Vi Văn Huyền con một viên quan tỉnh giàu
có bậc nhất Bắc Kỳ đã giết chết người yêu rồi tự sát.
Ngoài ảnh hưởng tai hại của gia đình, Vũ Trọng Phụng còn
thấy rõ vai trò nguy hiểm của xã hội, qua những phương tiện
truyền thông, những loại hình nghệ thuật nhất là phim ảnh mà
tác động mạnh mẽ và tức thời vì bằng những hình ảnh cụ thể, lời
nói kích động và âm thanh quyến rũ. về cái hại của tiểu thuyết
tình lãng mạn, Vũ Trọng Phụng đã để cho Huyền nói khá nhiều,
và về phim ảnh, phim ngày ấy đâu đã đến lõa lồ và hung bạo như
ngày nay mà Vũ Trọng Phụng cũng đã để cho Huyền tự nhận
định là “đã nhiễm phải ảnh hưởng của mấy tờ báo mà ngày nào
người ta cũng bàn bạc om sòm về các ngồi sao chớp bóng... mà
người ta cứ viết thẳng một cách ngây thơ chẳng ngượng ngòi bút
là sex appeal... em đã làm cho một người phải ham muốn em...
bằng cách khiêu dâm... Không, bằng sex appeal, nói thế hơn, vì
nói tiếng mẹ đẻ thì việc ấy mất hết thi vị, không có vẻ mỹ thuật
nữa mà lại dâm đãng một cách bản xứ, mặc lòng nghĩa lý của hai
thứ tiếng vẫn chỉ là một!.. Vạn tuế cho bọn “văn sĩ” của mấy rạp
chớp bóng!”.
Chính cái tờ báo hàng ngày đã đăng một số truyện ngắn đầu
tiên của Vũ Trọng Phụng là tờ Ngọ Báo đã khai trương thứ văn
chương chớp bóng ấy bằng cách mỗi tuần vào ngày thứ năm ra
một “phụ chương chớp bóng” bán đắt như tôm tươi.
Cảnh vợ chồng Huyền với Kim lại thật là oái oăm; tối tân hôn,
lang quân rất mực lịch sự, chẳng ép nài mây mưa gì cả, rồi cả
tuần cứ như thế, thì ra anh chàng đang mắc bệnh giang mai, và
đã thanh minh: “Đàn ông bây giờ mắc bệnh phong tình, đó có là
sự quái gở gì đâu! Thiếu niên[10] mắc nhan nhản ra đấy. Mà họ
còn năm lần bảy lượt. Đàn ông như tôi là đã ngoan lắm, mợ biết
chưa”.
Phải kiêng mọi quan hệ tình dục cho đến khi khỏi hẳn bệnh,
thì không đêm nào là Kim không quấy rầy vợ bằng cách “nửa đời
nửa đoạn” làm cho Huyền cứ bị khiêu khích dữ dội. Ban ngày thì
Huyền được chồng đem đi dự các trò tiêu khiển của xã hội
trưởng giả: xem phim, ăn hiệu, chợ phiên, nhảy đầm, đánh cá
ngựa, nơi mà bọn nhà giàu ăn chơi “hiện nguyên hình là một lũ
bợm đĩ dưới hình thức choáng lộn, và tiến bộ, và văn minh... lẫn
lộn với bọn nam nhi cũng đánh phấn, bôi môi gần như đàn bà, và
bọn đàn bà thì nhờ những mốt y phục tối tân kỳ lạ nó phô phang
cả đùi lẫn ngực ra dưới làn voan mỏng một cách rất lịch sự”. Và
chính ở giữa đám người ấy Huyền đã gặp Tân. Kim rối rít khoe
với vợ Tân là bạn cũ, con một viên tổng đốc rất giàu lấy vợ từ
năm mười tám, bỏ vợ sang Pháp du học rồi về nước chẳng làm gì
cả, “sống một mình để hưởng hết mọi lạc thú ở đời”. Kim tấm tắc:
“Thật là một người sung sướng nhất đời! Có danh vọng, có học
thức, có tiền bạc, lại không bận bịu vợ con! Tự do đủ mọi đường,
sướng thật”.
Tân là thần tượng của Kim; và tự hào, đắc chí có một người
bạn sang giàu như thế, đã đưa ô tô mình về đến tận nhà, Kim
mắng vợ: “Mợ lại tiếp đãi người ta nhạt nhẽo như thế. Nói thế mà
cứ cãi thì chó cũng không nhịn được!.. Thì mợ cứ tiếp đãi người
ta cho mặn mà hơn nữa thì đã sao? Mợ là nhà quê đấy à? Mợ ngu
đần xưa nay đấy à?”.
Ít lâu sau thấy Huyền “tự nhiên như đầm, đáng mặt phụ nữ
tân thời”, nghĩa là bạo dạn tiếp đãi Tân thân mật, Kim tỏ vẻ sung
sướng lắm khen “tốt lắm, thế là rất phải” lại tiếp theo bằng một
câu tiếng Pháp “Mình đã thành ra một phu nhân của giới thượng
lưu rồi đấy”.
Tân kiếm cớ mời Huyên đi Lạng Sơn, Huyền tỏ ý ngại, liền bị
Kim mắng cho xối xả: “Nghi hoặc thì là người cả ghen... Thế thì lọ
lắm! Sống cuộc đời mới, theo Âu hóa thì không được nghi ngờ
như người cổ hủ... Thôi đi, mợ cũng hủ bại vừa chứ! Đừng hỏi
nữa! Đồ ngu!..”.
Thái độ sùng bái con Bê vàng của Kim đã đẩy vợ vào tay bạn,
mở đường cho Huyền và Tân cùng nhau ngoại tình. Đến khi việc
vỡ lở, Huyền mới thấy những người đàn ông ấy tàn ác đến thế
nào. Kim bắt Huyền viết theo bản giáp của mình thảo ra “lời thú
tội” đã ngoại tình và “xin cam đoan là chịu thôi không đòi hỏi
những quyền lợi của người vợ chính thất”, lại kết bằng một câu:
“Khi thảo giấy này tôi vui lòng mà thảo chứ không do chồng tôi
bắt ép”. Lời thú lại còn có câu: “Tôi đã đem nhiều tiền của chồng
ra cùng nhân tình tiêu hoang”, Huyền xin chồng đừng vu oan
như thế, Kim hạ lệnh “Phải viết! Phải đúng như thế, không được
sai một chữ! ít ra tôi cũng phải có một thứ khí giới đối ...
 





