Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1
CHÂM NGÔN HAY
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Lều chõng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 08h:59' 19-03-2024
Dung lượng: 10.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 08h:59' 19-03-2024
Dung lượng: 10.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NGÔ TẤT TỐ
LỀU CHÕNG
Cao Đắc Điểm & Ngô Thị Thanh Lịch
(sưu tầm và giới thiệu)
Nhà xuất bản Văn học
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Ngày nay nghe đến hai từ "Lều Chõng", có lẽ nhiều người sẽ lấy
làm lạ vì những từ ấy từ biệt chúng ta mà đi tới chỗ mất tích đã gần
ba chục năm nay. Nhưng mà trước hơn hai chục năm đi ngược trở
lên, cho đến hơn một nghìn năm, "Lều Chõng" đã làm chủ vận mệnh
của giang sơn cũ kỹ mà người ta tán khoe là "bốn nghìn năm văn
hiến". Những ông ngồi trong miếu đường làm rường cột cho nhà
nước, những ông ở nơi tuyền thạch, làm khuôn mẫu cho đạo đức
phong hóa, đều ở trong đám "lều chõng" mà ra. Lều chõng với nước
Việt Nam chẳng khác một đôi tạo vật đã chế tạo đủ các hạng người
hữu dụng hay vô dụng. Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên
một nước có văn hóa. Rồi lại chính nó đã đưa nước Việt Nam đến chỗ
diệt vong. Với chúng, nước Việt Nam trong một thời kỳ rất dài kinh
qua nhiều cảnh tượng kỳ quái, khiến cho người ta phải cười, phải
khóc, phải rụng rời hồn vía.
Ngô Tất Tố
Thời vụ số 109 ra ngày 10-3-1939.
CHƯƠNG 1
G
ần nửa tháng rồi, trong làng Văn khoa, lúc nào cũng náo
nức, rộn rịp như sắp kéo hội. Đình trung điếm sở cũng như
quán nước hàng quà chỉ làm chỗ hội họp của các ông già,
bà già và những cây gậy trúc mũi sắt, những gói trầu cau lớn
bằng cái đấu. Chuyện mới, chuyện cũ luôn luôn theo những bãi
cốt trầu, những làn khói thuốc đồng thời tuôn ra và nổ như bỏng
rang. Ông này nhắc làng mình thật được hướng đình. Ông kia
đoán họ Trần kết ngôi mộ tổ. Bà này bảo cụ đồ phúc đức hiền
hậu,chịu khó lễ các đền chùa. Bà kia khen cô nghè tốt nết đủ điều,
biết phân biệt kẻ trên người dưới.
Cái hoa gạo nở đầu tháng giêng đã được tán là điềm tốt. Con
khanh khách kêu trên các đình giữa ngày khai hạ, cũng được tôn
là tin mừng. Câu chuyện tuy duy nhất chỉ quanh quẩn có thế,
nhưng sự nô nức đã bắt người ta cứ phải chiếu đi chiếu lại bàn
tán hết ngày ấy sang ngày khác, đầu làng cuối làng, thường có
những tiếng cười nói rầm rầm.
Hôm nay lại càng tấp nập hơn nữa... Từ lúc trời mới sáng rõ,
một hồi mõ đã tiệp tiếng vang của ba hồi trống cái khua động
góc trời trên đình. Với chiếc dải lưng lụa đỏ bỏ múi sang cạnh
sườn, lý trưởng không khác phó lý, trương tuần, tung tăng vác
tay thước chạy nhảo từ đình đến điếm. Giữa một hồi tí u của
những tiếng hiệu ốc đi đôi với dịp hiệu sừng, người ở các xóm
kéo ra tíu tít. Chỗ này vài chục đàn ông đi với mai, thuổng, xẻng,
cuốc gậy nạng và câu liêm; chỗ kia mươi người đàn bà và những
quang, thúng, sảo, sọt lủng lẳng dưới đầu đòn gánh. Một toán lại
một toán. Một lũ lại một lũ. Ống quần xắn trên đầu gối, gấu váy
kéo lên đến nửa bụng chân, các toán, các lũ lần lượt tiến vào sân
đình.
Một bầu ồn ào chiếm cả khu đình và điếm. Mặt trời từ trên
ngọn tre xuyên sang mái đình tưng bừng đón tiếng chào của đàn
chim sẻ. Ánh sáng lóng lánh chiếu trên núm quả dành của đôi
đồng trụ cửa đình.
Cái ồn ào mỗi lúc một lớn. Chĩnh nước chè khô đã bị mấy chục
bát đàn vục cạn. Hai thùng cau khô để đó dần dần biến thành
đống bã trầu tàn. Hết thảy các toán, các lũ nhất tề đứng dậy. Như
một đạo quân ra trận, mấy trăm con người rầm rập kéo ra đầu
làng và vui vẻ tiến thẳng đến đoạn đường cùng tận địa giới.
Theo mệnh lệnh của ông lý, ông phó, ông trương, dân phu bắt
đầu sang sửa từ đầu địa phận trở về. Các bầu tát nước đều được
bồi đắp phẳng phiu. Những đám cỏ gấu ven đường đều bị giẫy
sạch và hắt xuống ruộng. Người ta cắt hết những cây vẩy ốc bám
vào ven thành. Người ta giật hết những cái nhánh tre khum khum
rủ trên đường cái. Người ta quét hết những đống cặn rác kinh
niên bừa bãi khắp các đầu ngõ ven đường. Hương lý vẫn thúc
giục vội vã. Tù và vẫn rúc từng hồi dài từ xóm này đến xóm kia.
Trời dần dần nóng thêm. Mấy trăm bộ mặt đỏ như đồng tụ mồ
hôi đổ ra bóng nhoáng. Nhưng cái oi bức của tiết đầu hạ vẫn
không ngăn nổi sự nô nức của đám người làm việc hết lòng.
Gần đến nửa buổi, bao nhiêu khúc đường khấp khểnh, gồ ghề
đều trở nên những dải đất óng mượt như tấm lụa mới. Những
tiếng cười nói vui như ngày tết, lại đưa các toán, các lũ dân phu
lần lượt trở về sân đình.
Một tuần trầu nước vừa tàn, lý trưởng đứng trên thềm đình
dõng dạc nói xuống:
- Trưa lắm rồi! Xin "chạ" đi rửa chân tay và cất đồ đạc. Rồi "chạ"
đến luôn nhà quan tân khoa để còn làm rạp, kê phản, sắp sửa
đũa bát mâm nồi, kẻo nữa không kịp?
Một hồi ồn ào dồn dập trong đám đông, đàn ông, đàn bà, lẻ tẻ
ai về nhà nấy. Trương tuần cắt lũ tuần phu canh cổng làng. Lý
trưởng, phó lý và tất cả những hạng đàn anh lật đật kéo vào nhà
ông nghè mới. Ở đây, từ đầu cổng cho đến xó bếp toàn lả những
vẻ vui mừng. Các ông, bà, cô, cậu trong quan họ đã họp tấp nập.
Trên chiếc ghế ngựa quang dầu kê ở gian giữa, cố ông bắt chân
chữ "ngũ", ngồi bằng điệu bộ rất đắc ý. Phía dãy phản ở gian bên
cạnh, ông trưởng họ Trần thong thả đưa chiếc quạt thước phẩy
mấy chòm râu trắng xóa, bàn định các việc sẽ đến trong ngày
mai.
Ngoài sân, cố bà cũng như cô nghè, tất tả chạy ngược chạy
xuôi, vừa sắp sửa các thứ đồ dùng, vừa cắt đặt việc này việc khác.
Sau mấy cái vái cung kính dâng khắp các cố ông, cố bà và các vị
già lão, lý trưởng, phó lý và bọn trùm trưởng ghé ngồi vào hàng
ghế cuối cùng. Dân làng kéo đến mỗi lúc mỗi đông. Từ nhà dưới
đến nhà trên, kẻ đứng, người ngồi, lố nhố như một khu chợ. Theo
lời cắt cử của các vị tôn trưởng, những người "làm giúp" tới tấp đi
tìm công việc. Mượn mâm, mượn nồi, mượn bát đĩa và gánh nước
đổ đầy các chum, các vại, đó là phận sự của đàn bà. Còn phe đàn
ông thì chia ra thành hai ban: một ban chôn tre, dựng rạp, kê
phản, kê ghế, sắp đặt các đồ bài trí, một ban nữa vào chuồng bắt
lợn, làm gấp mấy chục mâm dấm ghém để kịp làng xóm họ mạc
ăn tạm bữa trưa.
Công việc bắt đầu túi bụi. Tiếng người hò thét, tiếng mâm bát
đụng nhau, hòa với tiếng lợn kêu í éc ngoài vườn làm thành cái
vọng ầm ầm của một đình đám to lớn. Hơi lửa trong bếp hợp với
hơi người các nơi càng tăng thêm sức nóng của trời hè. Đúng
trưa, cỗ bàn làm xong, hai tòa rạp lớn cũng vừa lợp kín. Những
chiếc chiếu hoa dài thườn thượt như lá cót đại lần lượt phủ kín
các dãy giường phản từ trong nhà ra ngoài sân. Hàng mấy chục
mâm rau nộm thịt mỡ chất đầy trong những bát đàn, đĩa đàn, la
liệt đặt khắp các nhà các rạp.
- Xin mời bà con hãy đi xơi cơm kẻo đói. Các việc để đó ăn xong
rồi ta hay làm.
Lời nói của ông trưởng họ Trần không kém tiếng hò của ông
đại tướng đứng đầu ba quân, nó có sức mạnh khiến cho mọi
người răm rắp đứng dậy. Đàn ông với đàn ông, đàn bà với đàn
bà, bốn một, tám hai làng xóm, họ mạc tự ý rủ nhau, tiện chiếu
nào ngồi vào chiếu ấy. Mâm này gọi rượu, mâm kia gọi cơm, rồi
mấy mâm khác vấm véo giục lấy nước canh nước mắm. Lối đi
chật hẹp trong mấy gian rạp thành chỗ chen nhau của người ra
vào.
Giống như lớp tằm ăn rỗi, một loạt năm sáu chục mâm nhất tề
nhấc chén cất đũa. Mặt trời chênh chếch chiếu vào đầu rạp, các
mâm chỉ còn bát không, đĩa không. Bằng một giọng nói chững
chạc, ông trưởng họ Trần tỏ ra người rất thạo việc:
- Xin mời bà con ăn trầu, uống nước, rồi thì ai vào việc ấy đi
cho. Xem chừng công việc hãy còn nhiều lắm. Ta phải làm gấp
mới được!
Bao nhiêu mâm cỗ ăn tàn lần lượt bị đưa xuống khu sân bếp,
để nhường các chiếu trong rạp cho những đĩa trầu cau khô và
những đoàn ấm tay đựng nước chè xanh. Tiệc trầu nước không
đầy một khắc. Mọi người ồ ạt đứng lên.
Lúc này công việc càng rộn rịp. Ở đằng sau nhà những người
vật trâu bò reo ầm ĩ. Ở trong rạp, có một đoàn dao thớt ký cốc
băm thịt, băm xương. Và ở trước sân, mấy chục chiếc chày huỳnh
huỵch nện xuống đáy cối đá đại. Một đám vàng vàng đỏ đỏ
nghễu nghện từ dưới nhà bếp lên nhà trên. Đó là các thứ xôi gấc,
xôi dành và xôi lá diễn đóng trong những chiếc "mâm dàng" sơn
son.
Góp vào đó, mỗi mâm thêm một cái sỏ lợn, hoặc cái "lăm" lợn,
một nậm rượu và một đĩa trầu. Ông trưởng họ Trần xúng xính
trong chiếc áo tế màu lam cung kính đi theo mấy mâm xôi thịt để
thay mặt cố ông lễ yết các nơi đình, chùa, văn chỉ, và các nhà thờ
đại tôn, tiểu tôn. Vọng canh đầu cổng 'tùng tùng' mấy tiếng trống
báo. Tiếp đến một tràng pháo nổ liên thanh. Hai mâm cau tươi
đưa hai ông bạn thân của cố ông đến mừng quan nghè. Bằng
một dáng bộ ung dung, cố ông từ trên ghế ngựa quang dầu
khoan thai thò chân xuống đất. Ngài sẽ sàng xỏ chân vào giày và
trịnh trọng bước ra đầu thềm. Rồi vái một vái gần sát mặt đất, cố
ông cung kính mời quí khách lên thẳng nhà trên.
Trống cái ngoài cổng lại điểm mấy tiếng giật giọng. Một lũ cai
tổng, phó tổng, lý dịch các xã trong tổng, lố nhố theo mấy bao
chè sinh hậu và một hòm pháo bàn đào khúm núm tiến vào trong
rạp. Mấy ông quan họ còn đương vồn vã mời khách vào ghế, và
mấy ông khách hàng tổng còn đang đưa đẩy nhường nhau ngồi
trên, thì ở ngoài cổng lại có mấy tiếng trống cái báo hiệu.
Theo hình thế của đám rồng rắn, một bọn chừng bốn mươi
người kéo dài từ cổng vào sân với chiếc khay vuông có để vài bức
câu đối nhiễu đỏ. Giờ này mà đi, trống báo luôn luôn không dứt,
khách đến mỗi lúc mỗi nhiều. Bọn này ngồi chưa yên ghế, bọn
khác đã rầm rập kéo vào. Mấy ông quan họ chuyên việc tiếp
khách, ai nấy nhễ nhại mồ hôi, những cậu học trò bé con cuống
cẳng chạy không kịp nước để khách dấp giọng.
Trên chiếc án trước thềm, chè, pháo, cau tươi chất đầy như
quả non bộ. Liễn con công, câu đối vóc nhiễu, treo khắp vách,
khắp tường. Những cỗ giò, nem, ninh, mọc kế tiếp nhau từ phía
bếp đệ lên. Khách khứa lục đục vào tiệc. Bọn nào đến trước ăn
trước, bọn nào đến sau ăn sau. Mâm này bưng ra, mâm kia bưng
vào. Trong rạp cũng như trong nhà, không lúc nào không có vài
mâm ăn uống.
Trời gần tối, khách đã hơi vãn. Hồi trống thu không của điếm
canh vừa tan, những cây bạch lạp, những quả đèn lồng, những
đĩa dầu trong các quang tre lần lượt theo nhau bắt lửa. Ngoài
sân, trong rạp ánh sáng rực rỡ như ban ngày. Ông trưởng họ
Trần cởi tấm áo lam trao cho người nhà cất đi rồi gọi lý trưởng,
phó lý đến hỏi:
- Thế nào, những đồ hành ngơi ngày mai, các thầy sắp sửa đủ
chưa?
Lý trưởng nhanh nhẩu:
- Trình cụ, chúng con sắm sửa đâu đấy cả rồi.
Phó lý lễ phép nói thêm:
- Trình cụ, còn thiếu hai cái cán cờ tứ linh, vì bị mọt gẫy, chúng
con đã tìm đôi sào phơi dùng tạm.
- Những ai đi rước? Cắt cử xong chưa?
- Bẩm đã! Tất cả hơn một trăm suất, toàn là người làng, chúng
con không dám cắt đến ông nào trong quan họ.
Ông trưởng họ Trần hơi cau lông mày:
- Cái đó là lẽ tất nhiên. Việc khác, dân làng cũng không được
phép cắt người quan họ đi rước, huống chi việc này... Thế các
thầy có dặn những người vào việc phải ăn mặc cho tử tế không?
- Bẩm có. Chúng con đã bắt dân làng đều mặc áo đỏ và thắt dải
lưng màu xanh. Ai không có sẵn thì phải đi mượn.
Ông trưởng họ Trần ra bộ vừa ý:
- Phải cho trang trọng một chút mới được... Còn có hàng tổng,
hàng huyện trông vào. Không nên cẩu thả để cho người ta chê
cười làng mình.
Một người tuần phu ở cổng đi vào, chắp tay đến đứng dưới
thềm:
- Trình cụ, phường chèo đã đến.
Ông trưởng họ Trần ngẫm nghĩ giây lát:
- Ra bảo chúng nó cứ ngồi ngoài ấy. Lúc nào có người ra gọi sẽ
vào.
Rồi, chỉ tay ra thẳng gian rạp chính giữa, ông ấy nhìn mặt lý
trưởng, phó lý:
- Bây giờ, công việc đã thư, các thày hãy sai đứa nào thu xếp
chỗ này, để cho phường chèo vào hát một lúc.
Lý trưởng, phó lý sung sướng như lính lệ được chuyến sai, họ
dạ một tiếng rất gọn và cùng đem theo lệnh của ông trưởng
quan họ xuống nẻo nhà dưới loan báo cho bọn trai làng.
Qua một hồi dọn dẹp, kê cúng, gian rạp chính giữa nghiễm
nhiên thành một sân khấu lâm thời. Trống chầu trên thềm thủng
thẳng điểm bốn, năm tiếng. Chừng hơn mười người phường
chèo theo đôi hòm vuông lố nhố tiến vào. Trẻ con đua nhau hò
reo. Trong rạp ồn ào như đám vỡ chợ. Sau khi mấy bộ quần áo đã
vắt lên sợi dây thừng chăng suốt hai chiếc cột rạp, để ngăn cho
nửa gian rạp thành một căn buồng, hộp 'phấn, hộp son và những
mũ bạc, mũ vàng, mũ lông công, mũ cánh chuồn, la liệt bày ra
nắp hòm mặt án.
Trống rung. Mõ điểm nhát gừng. Phèng phèng, chũm chọe
đồng thời nổi lên. Trò bắt đầu diễn. Trước rạp, sau rạp và hai bên
rạp, người đứng chật như nêm cối. Hết một hồi trống dạo trò, cả
đám đều im phăng phắc để nhìn bộ miệng người kép giáo đầu
đương mấp máy môi sau một chiếc quạt giấy. Đánh sạt một cái,
cái quạt bị cụp hẳn lại, người kép lấy hết gân mặt, gân cổ, gân
môi để ngân cho giọng thật dài:
- Nhớ thuở xưa tích cũ, có một chàng tên gọi Lưu Bình...
Mọi người xôn xao bảo nhau:
- À họ làm trò "Tây Dương nghĩa phụ".
Đêm càng khuya, trò càng xô xát, khán giả càng nô nức. Người
ta vỗ tay cười reo khi nghe anh hề cắt nghĩa "đại phong" là lọ
tương. Và người ta tỏ vẻ ái ngại thương xót, khi thấy Lưu Bình lắc
đầu nhăn mặt trước bát cơm thiu và quả cà mốc của nhà Dương
Lễ.
Nửa đêm, trò vừa hết vở. Khán giả ồn ào giải tán sau một hồi
trống tan trò. Ông trưởng họ Trần oai vệ ra lệnh cho bọn lý
trưởng, phó lý:
- Bây giờ nửa giờ tý rồi, sang giờ sửu thì phải khởi hành.. Các
thầy giục họ bưng mâm để chạ xơi rượu, không thì trễ quá.
CHƯƠNG 2
L
ại một lần nữa, ruột gan cô Thúy không kìm được sự hồi
hộp. Và cái hồi hộp lần này có lẽ còn mạnh hơn mấy lần
trước nhiều lắm. Trí nhớ của cô còn in rành rành. Cách đây
vừa đúng một năm, bấy giờ cô mới có mười chín tuổi. Cái đêm
sắp sửa thắng quần thắng áo để đi làm người nội trợ cho cậu
khóa Trần Đằng Long, tim cô đã bị một phen rung động. Song lúc
ấy cô chỉ tự thấy bẽn lẽn và cứ nghĩ quanh nghĩ quẩn những cảnh
tượng đầu tiên và những câu nói thứ nhất của mình trong khi bắt
đầu giáp mặt người bạn trăm năm. Thế mà thôi. Rồi đến hồi cuối
tháng một năm ngoái, khi được tin chồng cô đỗ cử nhân, bụng cô
lại nôn nao lần nữa. Nhưng cái địa vị của một cô cử vẫn không
thay đổi hoàn cảnh của một cô khóa, cho nên lúc này ở trong
lòng cô chỉ có một sự sung sướng êm đềm, nó không bắt cô kích
thích nhiều quá. Lần này khác hẳn. Tuy quãng đường từ cô cử lên
đến cô nghè cũng không lạ hơn quãng đường từ cô khóa lên đến
cô cử, nhưng cái khó nghĩ cho cô là cuộc vinh qui ngày mai.
Bởi vì từ thuở tấm bé đến giờ, chưa từng thấy người con gái
nào được cái vinh hạnh như mình, và chưa được rõ cái quang
cảnh ấy ra sao, cho nên óc cô cứ phải loanh quanh suy tính:
"Không biết chốc nữa mình sẽ phải ngồi thế nào, phải đứng thế nào,
và phải ăn nói thế nào cho đúng điệu bộ một bà tiến sĩ?". Hỏi mãi, cô
vẫn không tìm thấy câu trả lời. Trống canh ngoài điếm chợt điểm
ba tiếng muốn báo để cô biết cái giờ lên đường sắp đến nơi rồi.
Khêu rõ ngọn đèn trên quang, cô vội xổ đầu ra chải. Mái tóc mấy
lần rẽ đi rẽ lại, mà khi ngó vào trong gương, đường ngôi trên trán
vẫn chưa được ngay. Cô đương băn khoăn, muốn sửa thêm cho
nó thật chỉnh, ngoài rạp vừa nổi hồi trống tan trò. Cố bà ở ngoài
bước vào, giục cô sang phòng bên kia cùng ăn cơm tạm.
Theo lời mẹ chồng, cô vội bỏ gương, bỏ lược đi ra. Sau khi
điểm tâm bằng một đĩa xôi và hai bát chè, cô lại sang phòng bên
này. Bổ cau, têm trầu, giở gói thuốc lá quấn vài chục điếu, rồi cô
xếp cả vào cái tráp tròn sơn son, và thêm vào đó ít cánh hoa
hồng, hoa huệ.
Nhà dưới, làng xóm ăn uống đã xong. Ai nấy tấp nập đi lấy cán
cờ, cán quạt và tìm đòn võng. Trống ngực khi ấy lại càng đập
mạnh, cô vội mở rương lấy hết mấy bộ quần áo mới ra thay. Quần
cũng như áo, các cái đều vừa như in, chỉ tiếc đôi giầy vân hài khí
chật, làm cho hai bàn chân cô đều thừa một ngón chân út.
Ngoài rạp, chiêng, trống xen nhau thôi thúc, hết một hồi thứ
nhất, cố ông, cố bà đã cho gọi cô ra đứng chờ sẵn trên thềm. Bốn
chiếc võng đào, đòn cong, mui luyện cũng đã chực ở dưới sân.
Đợi cho dứt hồi chiêng trống thứ hai, thì ba chiếc võng cũng hạ
thấp xuống, cô và cố ông, cố bà mỗi người bước lên một võng.
Chiêng trống điểm thêm một hồi và ba tiếng nữa, tức thì bốn đôi
đèn lồng dẫn đường cho bốn chiếc võng từ từ tiến ra ngoài cổng.
Cái võng bỏ không ra trước rồi đến võng cố ông, rồi đến võng
cố bà, rồi đến võng của cô nghè. Cuối cùng thì bọn trai làng
khiêng vác cờ quạt tàn lọng.
Ra khỏi cổng nhà, chiêng trống lại im, lọng vẫn cụp cờ vẫn
cuốn, cả đám lần lần tiến trong bóng cây âm thầm. Nếu không có
tiếng nói chuyện rầm rầm và mấy ngọn đèn le lói, có khi nhiều
người sẽ ngờ là toán kỳ binh kéo đi đánh úp chỗ nào. Tới đầu địa
phận, xa trông trước mặt, thấy có bóng người lố nhố trong đám
ánh lửa vàng vàng. Ai nấy đều biết ngay rằng: đó là những người
hàng tổng cũng đi dự vào cuộc rước ấy.
Mấy người đàn anh trong bọn dân phu hàng tổng cung kính
vái chào hai cố và bà nghè. Hai toán người này liền nhập vào làm
một, rồi cùng thẳng đường trẩy đi. Lần này là lần đầu tiên trai
làng Văn khoa được làm những kẻ đồng hương với quan nghè,
cho nên mỗi người đều nhận thấy mình vinh dự hơn hết những
người các làng khác trong tổng. Họ tự coi họ là chủ, còn những
người kia là những kẻ phục dịch. Trời gần sáng. Trên đường đi đã
rõ bóng người. Trong bọn dân làng Văn Khoa, một ông vác cờ
ngoảnh lại nhìn lũ hàng tổng, rồi mỉm cười và nói với người bên
cạnh:
- Thảo nào người ta vẫn bảo: "Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng
tổng". Coi vậy!..., đỗ đến ông nghè cũng có sướng thật. Cả tổng
đều phải đi rước!
Đến ông vác lọng nối lời:
- Ấy là bây giờ đã giảm hơn xưa nhiều lắm... Hôm qua, tôi thấy
các cụ nói rằng: ngày xưa, trong đời nhà Lê nhà liếc gì đó, mỗi khi
có một ông nghè mới đỗ, hàng tổng, hàng huyện, đều phải đem
cờ đem quạt đến tận Kẻ chợ mà đón. Nhưng từ năm Gia Long
nguyên niên mà đi, Kẻ chợ dời vào Thuận Hóa, người Bắc tới đó
xa quá, các quan sợ làm phiền dân, cho nên chỉ bắt rước từ tỉnh
nhà trở về mà thôi.
Rồi ông vác tàn nói xen:
- Phải rồi. Tôi cũng nghe nói thuở xưa ông nghè oai lắm. Hễ mà
đỗ lên một cái thì là nội những ruộng đất trong tổng muốn cắm
chỗ nào cũng được. Chẳng những cắm đâu dân chịu đấy, mà lại
còn được hàng huyện làm cổng, hàng tổng làm nhà cho nữa, thế
mới sướng chứ!
Và ông cầm cờ vắt lại:
- Có thế thật đấy. Tháng trước, khi được tin mừng ở kinh đô
báo về, cô nghè có cho gọi tôi vào dọn nhà cửa, sân vườn. Gần
trưa, các cậu học trò về hết, cố ông bảo tôi lên thềm nhà học hầu
nước. Lúc ấy, tôi thấy cố nói với cụ trưởng họ thế này: "Làng
K.Q.Đ. ở cạnh đường xứ, chỗ gần sông đông, trước kia là đất làng
Vân. Về sau có ông họ Đinh - cố có nói tên nhưng tôi quên mất có ông họ Đinh ở K.Q.Đ. thi đỗ tiến sĩ, mới cắm khu đất ấy làm
dinh. Rồi thì những kẻ tôi tớ cũng theo đến mà ở. Dần dần thành
ra một cái làng". Xem thế thì biết cái chuyện "hàng huyện làm
cổng, hàng tổng làm nhà" mà trong phương ngôn đã nói là
chuyện có thật...
Cả tụi chép miệng ra ý tiếc rẻ:
- Hoài của! Nếu như lệ ấy còn đến ngày nay, có lẽ chúng mình
cũng được đi theo quan nghè để lập thêm làng Văn khoa nữa.
Câu chuyện đương còn tiếp tục, bên đường chợt có dãy quán
bán quà. Theo lời cố ông ở trên đưa xuống, hàng tổng đều được
dừng lại tạm nghỉ. Bước chân ra đi từ đầu canh ba đến giờ, bọn
phu hàng tổng chừng đã thấy đói. Họ kéo ồ vào khắp các quán,
kẻ có tiền ăn quà ăn bánh, kẻ không tiền thì giở cơm nắm ra
chấm với muối vừng.
Lúc ấy mặt trời đã lên độ hai con sào, trên đường, ngoài khách
đi chợ, loáng thoáng có vài bọn đi xem. Bọn phu hàng tổng mỗi
người vừa kịp uống một hớp nước, hút một điếu thuốc thì đã
được lệnh cử bộ. Chuyến này là lượt trở đi, chưa cần phải giữ nghi
vệ. Người đi vẫn quãng thưa quãng mau, cờ quạt tàn, lọng vẫn
nghiêng ngả, ngả nghiêng, cái chổng đầu lên, cái chúc đầu
xuống. Vào khoảng nửa buổi thì tới cửa tỉnh. Hàng phố lố nhố
kéo nhau ra xem.
Ngày trước, những ông nghè mới, sau khi ở kinh, lĩnh cờ biền
về thẳng tỉnh nhà để vào lễ quan tổng đốc đều phải ra luôn nhà
trọ, rồi thì hàng tổng đến đó rước về. Nhưng quan tổng đốc bây
giờ là bậc hiếu học, thấy ông tân khoa Trần Đằng Long trẻ tuổi,
linh lợi, ngài càng yêu mến, nên mới phá cách mà lưu ông ấy ở lại
trong dinh và đã phi trát về huyện, sức các dân xã phải vào trong
dinh đốc bộ mà đón.
Theo lệnh ấy, võng, lọng, cờ quạt, cứ việc nghênh ngang tiến
vào cửa thành. Đến cổng dinh quan tổng đốc, cố ông, cố bà và cô
nghè xuống võng đi bộ. Giữa mấy tiếng trống báo rất hùng dũng
của bọn lính canh trên chòi, một người đội tuần lật đật ở trong
chạy ra. Cố ông, cố bà và cô nghè sửa lại khăn áo cho thật tề
chỉnh để theo hắn đi vào trong dinh.
Làng tổng xúm lại từng tốp ngồi lê ngồi la ở các bãi cỏ ngoài
dinh, kẻ ăn trầu, người hút thuốc vặt. Cờ quạt võng lọng, dựa ở
bên đường ngổn ngang. Nửa giờ sau, giữa lúc dân phu đang vây
quanh chĩnh nước chè tươi và chiếc điếu cày, thình lình mấy ông
bô lão đều quay vào phía cửa dinh, ai nấy cong lưng vái một vái
cực kỳ trịnh trọng.
Quan nghè đã đi với cố ông từ trong dinh ra. Cả bọn hàng tổng
răm rắp đứng lên, ai vào công việc của người ấy. Bốn chiếc đòn
võng ghếch đầu ven tường cũng như số nhiều cờ quạt, tàn, lọng
đều được nhấc ra một cách vội vàng. Các võng đều chế theo kiểu
bát cống, mỗi cái phải tám người khiêng. Với chiếc nón dấu đội
đầu và bộ áo xanh nẹp đỏ, phủ tấm ban kiên màu đỏ, tất cả ba
mươi hai người phu cùng nhất tề đỡ tay vào các đầu đòn để hạ
cho mấy chiếc võng thấp gần mặt đất.
Giống những ông nghè bằng giấy mà hàng năm đến rằm
tháng tám, người ta vẫn thấy ở cỗ trông trăng, quan nghè đi ủng
đen, mang xiêm xanh, bận áo thụng lam và đội mũ cánh chuồn
lóng lánh những bông hoa bạc. Sau khi vị tân khoa ấy đã bệ vệ
bước chân lên võng và ngồi chống tay vào chiếc gối xếp đặt ở đầu
võng, cố ông, cố bà, lần lượt trèo vào võng mình.
Sau rốt đến lượt cô nghè. Với hai gò má đỏ bừng như muốn
biểu lộ một cái tâm trạng nửa mừng nửa thẹn, cô này nhìn trộm
bộ điệu lên võng của chồng và của cha chồng, mẹ chồng. Rồi sè
sẽ xếch cao hai ống quần lĩnh và rón rén cất cái gót của chiếc vân
hài,cô ghé ngồi vào chỗ mép võng để co hai chân lên võng. Mấy
chục người nhất tề nâng các đòn võng lên vai và đứng im lặng
chờ nghe hiệu lệnh.
Đám rước lúc ấy bắt đầu sắp thành hàng ngũ. Đầu quân là lá
cờ đỏ có thêu bốn chữ "nhất giáp tiến sĩ". Rồi đến bốn chiếc lọng
vàng nghiêng đầu vào nhau che cho mấy chữ "ân tứ vinh qui" đề
giữa tấm biển sơn son chung quanh có lớp riềm nhiễu đỏ. Rồi
đến một chiếc trống đánh đu dưới cây đòn gỗ bắc dọc trên vai hai
người dân phu. Kề đó, ông thủ hiệu trống luôn luôn tỏ vẻ oai vệ
bằng bộ mũ tế, áo tế, cái dùi trống chênh chếch gục đầu vào
ngực và đôi hia đen xúng xính dưới hai ống quần màu "dúm".
Tiếp đó, bốn cậu bé con đứng ra bốn góc để chiếm lấy một khu
đất vuông vắn như hình bàn cờ. Cả bốn, ai cũng như nấy, áo đỏ,
dải lưng xanh, xà cạp màu xanh, tay trái chống vào cạnh sườn,
tay phải vác lá cờ phất khuôn khổ vừa bằng vuông yếm. Rồi đến
ông cầm trống khẩu. Rồi đến võng của quan nghè. Đi kèm ở hai
bên võng, hai người rước đôi lọng xanh chóp bạc, hững hờ
giương ở cạnh mui võng. Và thêm vào đó, bên này một người vác
chiếc quạt lông, bên kia, một ông lễ mễ cắp cái tráp sơn đen và
xách một chiếc điếu ống xe trúc.
Sau võng, phấp phới năm lá cờ vuông, đủ cả năm sắc xanh, đỏ,
vàng, trắng và tím. Đứng đúng như năm cái chấm ở mặt "ngũ"
của con thò lò, năm ông vác cờ đi giầy tầu, mặc áo nhiễu điều, đội
mũ đuôi én, và đều khum tròn hai tay để giữ lấy cây cán cờ cắm
trên chiếc cối gỗ đeo ở trước bụng. Rồi đến ông cầm kiểng đồng.
Rồi đến võng của bà nghè.
Bằng tấm áo lụa màu hồng điều và vòng khăn nhiễu màu cánh
chả vấn kiểu vành dây, hai người con gái rón rén đi hầu cạnh
võng để vác cây quạt lá vả và bưng cái quả sơn son. Cũng như
võng của quan nghè, võng của bà nghè cũng được hộ vệ bằng
đôi lọng xanh, chỉ kém có cái chóp bạc.
Rồi đến võng của cố ông. Rồi đến võng của cố bà. Rồi đến mấy
ông bô lão khúm núm trong những tấm áo thụng màu lam. Rồi
đến các thứ kèn trống đàn sáo. Rồi đến một dãy chừng bốn, năm
chục lá cờ sắp theo hàng một, cái nọ cách cái kia độ vài ba thước.
Cuối cùng thì là hai người khiêng chiêng. Ông thủ hiệu chiêng
phục sức và điệu bộ không khác ông thủ hiệu trống, cũng áo tế,
cũng mũ tế, cũng đôi hia đen, và chiếc dùi dựa luôn luôn múa ở
cửa tay áo thụng.
Với chiếc loa đồng vác vai, lý trưởng Văn Khoa và nhiều chức
dịch hàng tổng tung tăng chạy từ đầu nọ đến đầu kia, để làm cho
hết phận sự những người dẹp đám.
Sau ba hồi trống cái gióng nhau với những tiếng chiêng bu bu,
tiếp đến một hồi trống khẩu đi đôi với hồi kiểng đồng, đám rước
lục tục theo con đường cũ đi ra, đàn sáo kèn nhị nổi lên inh ỏi. Ra
khỏi cổng thành độ vài chục bước, ông thủ hiệu trống thình lình
thúc ba tiếng trống díp nhau, để ra hiệu cho hết mọi người đều
phải dừng lại. Rồi thì một tay chống thẳng vào sườn, người giữ
hiệu lệnh của đám rước đó khoan thai lui xuống năm bước. Và
dang hai chân theo hình chữ "bát", ông ấy múa chiếc dùi trống
tiến lên năm bước để nện luôn vào mặt trống mấy tiếng tùng
tùng. Dứt hồi tùng tùng thứ nhất, bốn cậu bé con cầm bốn lá cờ
phất đồng thời quay mình đánh thót và cùng chầu mặt vào nhau.
Sau hồi tùng tùng thứ hai, cả bấy nhiêu cậu nhất tề múa tít lá cờ
trong tay để chạy cho hết chiều ngang của mặt đường cái, người
ở bên tả xông sang phía hữu, người ở bên hữu xông sang phía tả.
Luôn hồi tùng tùng thứ ba, các cậu lại đều quay tròn ngọn cờ và
răm rắp lui về chỗ cũ. Đến hồi tùng tùng thứ tư, cờ lại múa bốn
cậu lại cùng bước vào giữa đường. Rồi ai nấy đều cúi đầu xuống
để phất lá cờ qua mặt và hứ một tiếng thật dài. Thế rồi, mỗi một
tiếng tùng là một cái phất cờ, và mỗi cái phất cờ lại một tiếng
"hứ". Vừa đủ bốn lượt "tùng hứ", ông thủ hiệu trống dõng dạc
điểm thưa dùi trống để ra lệnh cho các cậu đó lùi lại chỗ đứng lúc
nãy và quay mặt nhìn lên tiên quân.
Chiêng trống lại thủng thẳng đánh từng tiếng một, đám rước
lại lần lần tiến lên. Đi hết con đường trong tỉnh, mặt trời vừa lên
đến thẳng đỉnh đầu. Cả một khu vực mông mênh của bầu trời
đều bị nhuộm thành màu vàng chói. Người đi trên đường luôn
luôn ngửi thấy mùi khét. Cờ vuông, cờ chéo, hết thảy rũ rượi như
lũ ấp mồ. Dân phu hàng tổng ai nấy sắc mặt đỏ gay, mồ hôi thấm
ra ngoài áo. Chừng đã khó chịu với sự nóng nực, mấy người đi
đầu sè sẽ giục nhau bước rảo cho chóng đến nhà. Nhưng ông thủ
hiệu trống cố muốn kéo cho công việc của mình thêm dài, chốc
chốc lại tiến ngũ bộ, thoái ngũ bộ, dang cánh tay múa dùi, nháy
trống, để diễn một trận "tùng hứ", làm cho cá đám đều phải dừng
lại. Trời cứ nắng, chiêng trống cứ tùng tùng, bu bu... đàn sáo kèn
nhị cứ thi nhau xuống chìm lên bổng. Thiên hạ đi xem đông như
nước chảy. Nón sơn chen với nón lá, yếm áo lấp ló trong đám áo
the. Người ta dắt nhau. Người ta co nhau. Người ta du nhau, đẩy
nhau. Người ta lội bì bõm dưới ruộng lúa chiêm và leo tót vót trên
các cành đa, cành gạo. Thân đường chật hẹp không đủ chỗ chứa.
Đằng đầu cũng như đằng cuối, chen chúc những người là người.
Cờ quạt võng lọng đều phải ùn lại như một toán quân bị hãm. Lý
trưởng Văn khoa hùng dũng kề loa vào miệng: "Bớ hai bên hàng
xứ! Dẹp ra để quan lớn tr...ẩy!"
Tiếng "trẩy" như bị dính ở miệng loa. Nó đã xoắn lại như vành
trôn ốc và kéo dài ra như một sợi thừng. Đít loa"ngoáy" tròn độ
năm sáu vòng, vẫn chưa tuôn cho đi hết dư hưởng của nó.
Những người đứng gần đều phải chối tai. Cả một góc trời như bị
xé toạc. Hàng xứ vẫn đâu đứng đấy, hình như không ai nhúc
nhích. Ông lý của làng quan nghè lại phải trợn mắt phùng mang
để "bớ hàng xứ" lần nữa. Cũng vẫn thế. Đường đi cứ bị ngăn cản
như thường. Mấy ông tuần phu liền xắn tay áo chạy suốt hai bên
dọc đường, và sẵn roi mây trong tay, họ vụt túi bụi một lượt. Đám
đông tức thì dồn dập như một lớp sóng. Người nọ xô người kia,
cố cướp lấy đường mà chạy. Bà già, trẻ con ngã sấp ngã ngửa ở
các bờ ruộng. Mặt trời chênh chếch về tây. Đường về đã hết
chừng hai phần ba. Vòm trời thỉnh thoảng điểm có bóng râm.
Ánh nắng dần dần êm dịu. Tiếp đó, một trận gió nồm tứ dưới
đồng chiêm nhẹ nhàng đưa lên. Cả đám đều tỉnh người ra.
Những con rồng phượng trong các cờ quạt hết thảy lồng lộng
múa nhảy như muốn theo tiếng đàn sáo cùng bay tít lên mây
xanh.
- Ô kìa ông nghè!
- Ô kìa bà nghè!
Tiếng reo giật giọng thình lình bật lên giữa hồi chiếng trống
vang lừng. Trăm nghìn con mắt đổ dồn vào đám lọng xanh đi
trước. Mấy bức mành mành cánh sáo đã quấn lên sát mui võng
lúc nào. Thiên hạ được dịp xem mặt cả nhà quan nghè. Ít kẻ nói
đến cố ông, cố bà. Người ta chăm chú nhìn vào cô nghè nhiều
nhất.
Trước sự chỉ trỏ của hàng xứ, cô nghè vẫn ra vẻ e lệ sượng
sùng, tuy trong bụng cô đã cảm thấy vinh dự cực điểm. Luôn luôn
cô phải nhai trầu phúng phính, vì sợ để cái mồm không...
LỀU CHÕNG
Cao Đắc Điểm & Ngô Thị Thanh Lịch
(sưu tầm và giới thiệu)
Nhà xuất bản Văn học
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Ngày nay nghe đến hai từ "Lều Chõng", có lẽ nhiều người sẽ lấy
làm lạ vì những từ ấy từ biệt chúng ta mà đi tới chỗ mất tích đã gần
ba chục năm nay. Nhưng mà trước hơn hai chục năm đi ngược trở
lên, cho đến hơn một nghìn năm, "Lều Chõng" đã làm chủ vận mệnh
của giang sơn cũ kỹ mà người ta tán khoe là "bốn nghìn năm văn
hiến". Những ông ngồi trong miếu đường làm rường cột cho nhà
nước, những ông ở nơi tuyền thạch, làm khuôn mẫu cho đạo đức
phong hóa, đều ở trong đám "lều chõng" mà ra. Lều chõng với nước
Việt Nam chẳng khác một đôi tạo vật đã chế tạo đủ các hạng người
hữu dụng hay vô dụng. Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên
một nước có văn hóa. Rồi lại chính nó đã đưa nước Việt Nam đến chỗ
diệt vong. Với chúng, nước Việt Nam trong một thời kỳ rất dài kinh
qua nhiều cảnh tượng kỳ quái, khiến cho người ta phải cười, phải
khóc, phải rụng rời hồn vía.
Ngô Tất Tố
Thời vụ số 109 ra ngày 10-3-1939.
CHƯƠNG 1
G
ần nửa tháng rồi, trong làng Văn khoa, lúc nào cũng náo
nức, rộn rịp như sắp kéo hội. Đình trung điếm sở cũng như
quán nước hàng quà chỉ làm chỗ hội họp của các ông già,
bà già và những cây gậy trúc mũi sắt, những gói trầu cau lớn
bằng cái đấu. Chuyện mới, chuyện cũ luôn luôn theo những bãi
cốt trầu, những làn khói thuốc đồng thời tuôn ra và nổ như bỏng
rang. Ông này nhắc làng mình thật được hướng đình. Ông kia
đoán họ Trần kết ngôi mộ tổ. Bà này bảo cụ đồ phúc đức hiền
hậu,chịu khó lễ các đền chùa. Bà kia khen cô nghè tốt nết đủ điều,
biết phân biệt kẻ trên người dưới.
Cái hoa gạo nở đầu tháng giêng đã được tán là điềm tốt. Con
khanh khách kêu trên các đình giữa ngày khai hạ, cũng được tôn
là tin mừng. Câu chuyện tuy duy nhất chỉ quanh quẩn có thế,
nhưng sự nô nức đã bắt người ta cứ phải chiếu đi chiếu lại bàn
tán hết ngày ấy sang ngày khác, đầu làng cuối làng, thường có
những tiếng cười nói rầm rầm.
Hôm nay lại càng tấp nập hơn nữa... Từ lúc trời mới sáng rõ,
một hồi mõ đã tiệp tiếng vang của ba hồi trống cái khua động
góc trời trên đình. Với chiếc dải lưng lụa đỏ bỏ múi sang cạnh
sườn, lý trưởng không khác phó lý, trương tuần, tung tăng vác
tay thước chạy nhảo từ đình đến điếm. Giữa một hồi tí u của
những tiếng hiệu ốc đi đôi với dịp hiệu sừng, người ở các xóm
kéo ra tíu tít. Chỗ này vài chục đàn ông đi với mai, thuổng, xẻng,
cuốc gậy nạng và câu liêm; chỗ kia mươi người đàn bà và những
quang, thúng, sảo, sọt lủng lẳng dưới đầu đòn gánh. Một toán lại
một toán. Một lũ lại một lũ. Ống quần xắn trên đầu gối, gấu váy
kéo lên đến nửa bụng chân, các toán, các lũ lần lượt tiến vào sân
đình.
Một bầu ồn ào chiếm cả khu đình và điếm. Mặt trời từ trên
ngọn tre xuyên sang mái đình tưng bừng đón tiếng chào của đàn
chim sẻ. Ánh sáng lóng lánh chiếu trên núm quả dành của đôi
đồng trụ cửa đình.
Cái ồn ào mỗi lúc một lớn. Chĩnh nước chè khô đã bị mấy chục
bát đàn vục cạn. Hai thùng cau khô để đó dần dần biến thành
đống bã trầu tàn. Hết thảy các toán, các lũ nhất tề đứng dậy. Như
một đạo quân ra trận, mấy trăm con người rầm rập kéo ra đầu
làng và vui vẻ tiến thẳng đến đoạn đường cùng tận địa giới.
Theo mệnh lệnh của ông lý, ông phó, ông trương, dân phu bắt
đầu sang sửa từ đầu địa phận trở về. Các bầu tát nước đều được
bồi đắp phẳng phiu. Những đám cỏ gấu ven đường đều bị giẫy
sạch và hắt xuống ruộng. Người ta cắt hết những cây vẩy ốc bám
vào ven thành. Người ta giật hết những cái nhánh tre khum khum
rủ trên đường cái. Người ta quét hết những đống cặn rác kinh
niên bừa bãi khắp các đầu ngõ ven đường. Hương lý vẫn thúc
giục vội vã. Tù và vẫn rúc từng hồi dài từ xóm này đến xóm kia.
Trời dần dần nóng thêm. Mấy trăm bộ mặt đỏ như đồng tụ mồ
hôi đổ ra bóng nhoáng. Nhưng cái oi bức của tiết đầu hạ vẫn
không ngăn nổi sự nô nức của đám người làm việc hết lòng.
Gần đến nửa buổi, bao nhiêu khúc đường khấp khểnh, gồ ghề
đều trở nên những dải đất óng mượt như tấm lụa mới. Những
tiếng cười nói vui như ngày tết, lại đưa các toán, các lũ dân phu
lần lượt trở về sân đình.
Một tuần trầu nước vừa tàn, lý trưởng đứng trên thềm đình
dõng dạc nói xuống:
- Trưa lắm rồi! Xin "chạ" đi rửa chân tay và cất đồ đạc. Rồi "chạ"
đến luôn nhà quan tân khoa để còn làm rạp, kê phản, sắp sửa
đũa bát mâm nồi, kẻo nữa không kịp?
Một hồi ồn ào dồn dập trong đám đông, đàn ông, đàn bà, lẻ tẻ
ai về nhà nấy. Trương tuần cắt lũ tuần phu canh cổng làng. Lý
trưởng, phó lý và tất cả những hạng đàn anh lật đật kéo vào nhà
ông nghè mới. Ở đây, từ đầu cổng cho đến xó bếp toàn lả những
vẻ vui mừng. Các ông, bà, cô, cậu trong quan họ đã họp tấp nập.
Trên chiếc ghế ngựa quang dầu kê ở gian giữa, cố ông bắt chân
chữ "ngũ", ngồi bằng điệu bộ rất đắc ý. Phía dãy phản ở gian bên
cạnh, ông trưởng họ Trần thong thả đưa chiếc quạt thước phẩy
mấy chòm râu trắng xóa, bàn định các việc sẽ đến trong ngày
mai.
Ngoài sân, cố bà cũng như cô nghè, tất tả chạy ngược chạy
xuôi, vừa sắp sửa các thứ đồ dùng, vừa cắt đặt việc này việc khác.
Sau mấy cái vái cung kính dâng khắp các cố ông, cố bà và các vị
già lão, lý trưởng, phó lý và bọn trùm trưởng ghé ngồi vào hàng
ghế cuối cùng. Dân làng kéo đến mỗi lúc mỗi đông. Từ nhà dưới
đến nhà trên, kẻ đứng, người ngồi, lố nhố như một khu chợ. Theo
lời cắt cử của các vị tôn trưởng, những người "làm giúp" tới tấp đi
tìm công việc. Mượn mâm, mượn nồi, mượn bát đĩa và gánh nước
đổ đầy các chum, các vại, đó là phận sự của đàn bà. Còn phe đàn
ông thì chia ra thành hai ban: một ban chôn tre, dựng rạp, kê
phản, kê ghế, sắp đặt các đồ bài trí, một ban nữa vào chuồng bắt
lợn, làm gấp mấy chục mâm dấm ghém để kịp làng xóm họ mạc
ăn tạm bữa trưa.
Công việc bắt đầu túi bụi. Tiếng người hò thét, tiếng mâm bát
đụng nhau, hòa với tiếng lợn kêu í éc ngoài vườn làm thành cái
vọng ầm ầm của một đình đám to lớn. Hơi lửa trong bếp hợp với
hơi người các nơi càng tăng thêm sức nóng của trời hè. Đúng
trưa, cỗ bàn làm xong, hai tòa rạp lớn cũng vừa lợp kín. Những
chiếc chiếu hoa dài thườn thượt như lá cót đại lần lượt phủ kín
các dãy giường phản từ trong nhà ra ngoài sân. Hàng mấy chục
mâm rau nộm thịt mỡ chất đầy trong những bát đàn, đĩa đàn, la
liệt đặt khắp các nhà các rạp.
- Xin mời bà con hãy đi xơi cơm kẻo đói. Các việc để đó ăn xong
rồi ta hay làm.
Lời nói của ông trưởng họ Trần không kém tiếng hò của ông
đại tướng đứng đầu ba quân, nó có sức mạnh khiến cho mọi
người răm rắp đứng dậy. Đàn ông với đàn ông, đàn bà với đàn
bà, bốn một, tám hai làng xóm, họ mạc tự ý rủ nhau, tiện chiếu
nào ngồi vào chiếu ấy. Mâm này gọi rượu, mâm kia gọi cơm, rồi
mấy mâm khác vấm véo giục lấy nước canh nước mắm. Lối đi
chật hẹp trong mấy gian rạp thành chỗ chen nhau của người ra
vào.
Giống như lớp tằm ăn rỗi, một loạt năm sáu chục mâm nhất tề
nhấc chén cất đũa. Mặt trời chênh chếch chiếu vào đầu rạp, các
mâm chỉ còn bát không, đĩa không. Bằng một giọng nói chững
chạc, ông trưởng họ Trần tỏ ra người rất thạo việc:
- Xin mời bà con ăn trầu, uống nước, rồi thì ai vào việc ấy đi
cho. Xem chừng công việc hãy còn nhiều lắm. Ta phải làm gấp
mới được!
Bao nhiêu mâm cỗ ăn tàn lần lượt bị đưa xuống khu sân bếp,
để nhường các chiếu trong rạp cho những đĩa trầu cau khô và
những đoàn ấm tay đựng nước chè xanh. Tiệc trầu nước không
đầy một khắc. Mọi người ồ ạt đứng lên.
Lúc này công việc càng rộn rịp. Ở đằng sau nhà những người
vật trâu bò reo ầm ĩ. Ở trong rạp, có một đoàn dao thớt ký cốc
băm thịt, băm xương. Và ở trước sân, mấy chục chiếc chày huỳnh
huỵch nện xuống đáy cối đá đại. Một đám vàng vàng đỏ đỏ
nghễu nghện từ dưới nhà bếp lên nhà trên. Đó là các thứ xôi gấc,
xôi dành và xôi lá diễn đóng trong những chiếc "mâm dàng" sơn
son.
Góp vào đó, mỗi mâm thêm một cái sỏ lợn, hoặc cái "lăm" lợn,
một nậm rượu và một đĩa trầu. Ông trưởng họ Trần xúng xính
trong chiếc áo tế màu lam cung kính đi theo mấy mâm xôi thịt để
thay mặt cố ông lễ yết các nơi đình, chùa, văn chỉ, và các nhà thờ
đại tôn, tiểu tôn. Vọng canh đầu cổng 'tùng tùng' mấy tiếng trống
báo. Tiếp đến một tràng pháo nổ liên thanh. Hai mâm cau tươi
đưa hai ông bạn thân của cố ông đến mừng quan nghè. Bằng
một dáng bộ ung dung, cố ông từ trên ghế ngựa quang dầu
khoan thai thò chân xuống đất. Ngài sẽ sàng xỏ chân vào giày và
trịnh trọng bước ra đầu thềm. Rồi vái một vái gần sát mặt đất, cố
ông cung kính mời quí khách lên thẳng nhà trên.
Trống cái ngoài cổng lại điểm mấy tiếng giật giọng. Một lũ cai
tổng, phó tổng, lý dịch các xã trong tổng, lố nhố theo mấy bao
chè sinh hậu và một hòm pháo bàn đào khúm núm tiến vào trong
rạp. Mấy ông quan họ còn đương vồn vã mời khách vào ghế, và
mấy ông khách hàng tổng còn đang đưa đẩy nhường nhau ngồi
trên, thì ở ngoài cổng lại có mấy tiếng trống cái báo hiệu.
Theo hình thế của đám rồng rắn, một bọn chừng bốn mươi
người kéo dài từ cổng vào sân với chiếc khay vuông có để vài bức
câu đối nhiễu đỏ. Giờ này mà đi, trống báo luôn luôn không dứt,
khách đến mỗi lúc mỗi nhiều. Bọn này ngồi chưa yên ghế, bọn
khác đã rầm rập kéo vào. Mấy ông quan họ chuyên việc tiếp
khách, ai nấy nhễ nhại mồ hôi, những cậu học trò bé con cuống
cẳng chạy không kịp nước để khách dấp giọng.
Trên chiếc án trước thềm, chè, pháo, cau tươi chất đầy như
quả non bộ. Liễn con công, câu đối vóc nhiễu, treo khắp vách,
khắp tường. Những cỗ giò, nem, ninh, mọc kế tiếp nhau từ phía
bếp đệ lên. Khách khứa lục đục vào tiệc. Bọn nào đến trước ăn
trước, bọn nào đến sau ăn sau. Mâm này bưng ra, mâm kia bưng
vào. Trong rạp cũng như trong nhà, không lúc nào không có vài
mâm ăn uống.
Trời gần tối, khách đã hơi vãn. Hồi trống thu không của điếm
canh vừa tan, những cây bạch lạp, những quả đèn lồng, những
đĩa dầu trong các quang tre lần lượt theo nhau bắt lửa. Ngoài
sân, trong rạp ánh sáng rực rỡ như ban ngày. Ông trưởng họ
Trần cởi tấm áo lam trao cho người nhà cất đi rồi gọi lý trưởng,
phó lý đến hỏi:
- Thế nào, những đồ hành ngơi ngày mai, các thầy sắp sửa đủ
chưa?
Lý trưởng nhanh nhẩu:
- Trình cụ, chúng con sắm sửa đâu đấy cả rồi.
Phó lý lễ phép nói thêm:
- Trình cụ, còn thiếu hai cái cán cờ tứ linh, vì bị mọt gẫy, chúng
con đã tìm đôi sào phơi dùng tạm.
- Những ai đi rước? Cắt cử xong chưa?
- Bẩm đã! Tất cả hơn một trăm suất, toàn là người làng, chúng
con không dám cắt đến ông nào trong quan họ.
Ông trưởng họ Trần hơi cau lông mày:
- Cái đó là lẽ tất nhiên. Việc khác, dân làng cũng không được
phép cắt người quan họ đi rước, huống chi việc này... Thế các
thầy có dặn những người vào việc phải ăn mặc cho tử tế không?
- Bẩm có. Chúng con đã bắt dân làng đều mặc áo đỏ và thắt dải
lưng màu xanh. Ai không có sẵn thì phải đi mượn.
Ông trưởng họ Trần ra bộ vừa ý:
- Phải cho trang trọng một chút mới được... Còn có hàng tổng,
hàng huyện trông vào. Không nên cẩu thả để cho người ta chê
cười làng mình.
Một người tuần phu ở cổng đi vào, chắp tay đến đứng dưới
thềm:
- Trình cụ, phường chèo đã đến.
Ông trưởng họ Trần ngẫm nghĩ giây lát:
- Ra bảo chúng nó cứ ngồi ngoài ấy. Lúc nào có người ra gọi sẽ
vào.
Rồi, chỉ tay ra thẳng gian rạp chính giữa, ông ấy nhìn mặt lý
trưởng, phó lý:
- Bây giờ, công việc đã thư, các thày hãy sai đứa nào thu xếp
chỗ này, để cho phường chèo vào hát một lúc.
Lý trưởng, phó lý sung sướng như lính lệ được chuyến sai, họ
dạ một tiếng rất gọn và cùng đem theo lệnh của ông trưởng
quan họ xuống nẻo nhà dưới loan báo cho bọn trai làng.
Qua một hồi dọn dẹp, kê cúng, gian rạp chính giữa nghiễm
nhiên thành một sân khấu lâm thời. Trống chầu trên thềm thủng
thẳng điểm bốn, năm tiếng. Chừng hơn mười người phường
chèo theo đôi hòm vuông lố nhố tiến vào. Trẻ con đua nhau hò
reo. Trong rạp ồn ào như đám vỡ chợ. Sau khi mấy bộ quần áo đã
vắt lên sợi dây thừng chăng suốt hai chiếc cột rạp, để ngăn cho
nửa gian rạp thành một căn buồng, hộp 'phấn, hộp son và những
mũ bạc, mũ vàng, mũ lông công, mũ cánh chuồn, la liệt bày ra
nắp hòm mặt án.
Trống rung. Mõ điểm nhát gừng. Phèng phèng, chũm chọe
đồng thời nổi lên. Trò bắt đầu diễn. Trước rạp, sau rạp và hai bên
rạp, người đứng chật như nêm cối. Hết một hồi trống dạo trò, cả
đám đều im phăng phắc để nhìn bộ miệng người kép giáo đầu
đương mấp máy môi sau một chiếc quạt giấy. Đánh sạt một cái,
cái quạt bị cụp hẳn lại, người kép lấy hết gân mặt, gân cổ, gân
môi để ngân cho giọng thật dài:
- Nhớ thuở xưa tích cũ, có một chàng tên gọi Lưu Bình...
Mọi người xôn xao bảo nhau:
- À họ làm trò "Tây Dương nghĩa phụ".
Đêm càng khuya, trò càng xô xát, khán giả càng nô nức. Người
ta vỗ tay cười reo khi nghe anh hề cắt nghĩa "đại phong" là lọ
tương. Và người ta tỏ vẻ ái ngại thương xót, khi thấy Lưu Bình lắc
đầu nhăn mặt trước bát cơm thiu và quả cà mốc của nhà Dương
Lễ.
Nửa đêm, trò vừa hết vở. Khán giả ồn ào giải tán sau một hồi
trống tan trò. Ông trưởng họ Trần oai vệ ra lệnh cho bọn lý
trưởng, phó lý:
- Bây giờ nửa giờ tý rồi, sang giờ sửu thì phải khởi hành.. Các
thầy giục họ bưng mâm để chạ xơi rượu, không thì trễ quá.
CHƯƠNG 2
L
ại một lần nữa, ruột gan cô Thúy không kìm được sự hồi
hộp. Và cái hồi hộp lần này có lẽ còn mạnh hơn mấy lần
trước nhiều lắm. Trí nhớ của cô còn in rành rành. Cách đây
vừa đúng một năm, bấy giờ cô mới có mười chín tuổi. Cái đêm
sắp sửa thắng quần thắng áo để đi làm người nội trợ cho cậu
khóa Trần Đằng Long, tim cô đã bị một phen rung động. Song lúc
ấy cô chỉ tự thấy bẽn lẽn và cứ nghĩ quanh nghĩ quẩn những cảnh
tượng đầu tiên và những câu nói thứ nhất của mình trong khi bắt
đầu giáp mặt người bạn trăm năm. Thế mà thôi. Rồi đến hồi cuối
tháng một năm ngoái, khi được tin chồng cô đỗ cử nhân, bụng cô
lại nôn nao lần nữa. Nhưng cái địa vị của một cô cử vẫn không
thay đổi hoàn cảnh của một cô khóa, cho nên lúc này ở trong
lòng cô chỉ có một sự sung sướng êm đềm, nó không bắt cô kích
thích nhiều quá. Lần này khác hẳn. Tuy quãng đường từ cô cử lên
đến cô nghè cũng không lạ hơn quãng đường từ cô khóa lên đến
cô cử, nhưng cái khó nghĩ cho cô là cuộc vinh qui ngày mai.
Bởi vì từ thuở tấm bé đến giờ, chưa từng thấy người con gái
nào được cái vinh hạnh như mình, và chưa được rõ cái quang
cảnh ấy ra sao, cho nên óc cô cứ phải loanh quanh suy tính:
"Không biết chốc nữa mình sẽ phải ngồi thế nào, phải đứng thế nào,
và phải ăn nói thế nào cho đúng điệu bộ một bà tiến sĩ?". Hỏi mãi, cô
vẫn không tìm thấy câu trả lời. Trống canh ngoài điếm chợt điểm
ba tiếng muốn báo để cô biết cái giờ lên đường sắp đến nơi rồi.
Khêu rõ ngọn đèn trên quang, cô vội xổ đầu ra chải. Mái tóc mấy
lần rẽ đi rẽ lại, mà khi ngó vào trong gương, đường ngôi trên trán
vẫn chưa được ngay. Cô đương băn khoăn, muốn sửa thêm cho
nó thật chỉnh, ngoài rạp vừa nổi hồi trống tan trò. Cố bà ở ngoài
bước vào, giục cô sang phòng bên kia cùng ăn cơm tạm.
Theo lời mẹ chồng, cô vội bỏ gương, bỏ lược đi ra. Sau khi
điểm tâm bằng một đĩa xôi và hai bát chè, cô lại sang phòng bên
này. Bổ cau, têm trầu, giở gói thuốc lá quấn vài chục điếu, rồi cô
xếp cả vào cái tráp tròn sơn son, và thêm vào đó ít cánh hoa
hồng, hoa huệ.
Nhà dưới, làng xóm ăn uống đã xong. Ai nấy tấp nập đi lấy cán
cờ, cán quạt và tìm đòn võng. Trống ngực khi ấy lại càng đập
mạnh, cô vội mở rương lấy hết mấy bộ quần áo mới ra thay. Quần
cũng như áo, các cái đều vừa như in, chỉ tiếc đôi giầy vân hài khí
chật, làm cho hai bàn chân cô đều thừa một ngón chân út.
Ngoài rạp, chiêng, trống xen nhau thôi thúc, hết một hồi thứ
nhất, cố ông, cố bà đã cho gọi cô ra đứng chờ sẵn trên thềm. Bốn
chiếc võng đào, đòn cong, mui luyện cũng đã chực ở dưới sân.
Đợi cho dứt hồi chiêng trống thứ hai, thì ba chiếc võng cũng hạ
thấp xuống, cô và cố ông, cố bà mỗi người bước lên một võng.
Chiêng trống điểm thêm một hồi và ba tiếng nữa, tức thì bốn đôi
đèn lồng dẫn đường cho bốn chiếc võng từ từ tiến ra ngoài cổng.
Cái võng bỏ không ra trước rồi đến võng cố ông, rồi đến võng
cố bà, rồi đến võng của cô nghè. Cuối cùng thì bọn trai làng
khiêng vác cờ quạt tàn lọng.
Ra khỏi cổng nhà, chiêng trống lại im, lọng vẫn cụp cờ vẫn
cuốn, cả đám lần lần tiến trong bóng cây âm thầm. Nếu không có
tiếng nói chuyện rầm rầm và mấy ngọn đèn le lói, có khi nhiều
người sẽ ngờ là toán kỳ binh kéo đi đánh úp chỗ nào. Tới đầu địa
phận, xa trông trước mặt, thấy có bóng người lố nhố trong đám
ánh lửa vàng vàng. Ai nấy đều biết ngay rằng: đó là những người
hàng tổng cũng đi dự vào cuộc rước ấy.
Mấy người đàn anh trong bọn dân phu hàng tổng cung kính
vái chào hai cố và bà nghè. Hai toán người này liền nhập vào làm
một, rồi cùng thẳng đường trẩy đi. Lần này là lần đầu tiên trai
làng Văn khoa được làm những kẻ đồng hương với quan nghè,
cho nên mỗi người đều nhận thấy mình vinh dự hơn hết những
người các làng khác trong tổng. Họ tự coi họ là chủ, còn những
người kia là những kẻ phục dịch. Trời gần sáng. Trên đường đi đã
rõ bóng người. Trong bọn dân làng Văn Khoa, một ông vác cờ
ngoảnh lại nhìn lũ hàng tổng, rồi mỉm cười và nói với người bên
cạnh:
- Thảo nào người ta vẫn bảo: "Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng
tổng". Coi vậy!..., đỗ đến ông nghè cũng có sướng thật. Cả tổng
đều phải đi rước!
Đến ông vác lọng nối lời:
- Ấy là bây giờ đã giảm hơn xưa nhiều lắm... Hôm qua, tôi thấy
các cụ nói rằng: ngày xưa, trong đời nhà Lê nhà liếc gì đó, mỗi khi
có một ông nghè mới đỗ, hàng tổng, hàng huyện, đều phải đem
cờ đem quạt đến tận Kẻ chợ mà đón. Nhưng từ năm Gia Long
nguyên niên mà đi, Kẻ chợ dời vào Thuận Hóa, người Bắc tới đó
xa quá, các quan sợ làm phiền dân, cho nên chỉ bắt rước từ tỉnh
nhà trở về mà thôi.
Rồi ông vác tàn nói xen:
- Phải rồi. Tôi cũng nghe nói thuở xưa ông nghè oai lắm. Hễ mà
đỗ lên một cái thì là nội những ruộng đất trong tổng muốn cắm
chỗ nào cũng được. Chẳng những cắm đâu dân chịu đấy, mà lại
còn được hàng huyện làm cổng, hàng tổng làm nhà cho nữa, thế
mới sướng chứ!
Và ông cầm cờ vắt lại:
- Có thế thật đấy. Tháng trước, khi được tin mừng ở kinh đô
báo về, cô nghè có cho gọi tôi vào dọn nhà cửa, sân vườn. Gần
trưa, các cậu học trò về hết, cố ông bảo tôi lên thềm nhà học hầu
nước. Lúc ấy, tôi thấy cố nói với cụ trưởng họ thế này: "Làng
K.Q.Đ. ở cạnh đường xứ, chỗ gần sông đông, trước kia là đất làng
Vân. Về sau có ông họ Đinh - cố có nói tên nhưng tôi quên mất có ông họ Đinh ở K.Q.Đ. thi đỗ tiến sĩ, mới cắm khu đất ấy làm
dinh. Rồi thì những kẻ tôi tớ cũng theo đến mà ở. Dần dần thành
ra một cái làng". Xem thế thì biết cái chuyện "hàng huyện làm
cổng, hàng tổng làm nhà" mà trong phương ngôn đã nói là
chuyện có thật...
Cả tụi chép miệng ra ý tiếc rẻ:
- Hoài của! Nếu như lệ ấy còn đến ngày nay, có lẽ chúng mình
cũng được đi theo quan nghè để lập thêm làng Văn khoa nữa.
Câu chuyện đương còn tiếp tục, bên đường chợt có dãy quán
bán quà. Theo lời cố ông ở trên đưa xuống, hàng tổng đều được
dừng lại tạm nghỉ. Bước chân ra đi từ đầu canh ba đến giờ, bọn
phu hàng tổng chừng đã thấy đói. Họ kéo ồ vào khắp các quán,
kẻ có tiền ăn quà ăn bánh, kẻ không tiền thì giở cơm nắm ra
chấm với muối vừng.
Lúc ấy mặt trời đã lên độ hai con sào, trên đường, ngoài khách
đi chợ, loáng thoáng có vài bọn đi xem. Bọn phu hàng tổng mỗi
người vừa kịp uống một hớp nước, hút một điếu thuốc thì đã
được lệnh cử bộ. Chuyến này là lượt trở đi, chưa cần phải giữ nghi
vệ. Người đi vẫn quãng thưa quãng mau, cờ quạt tàn, lọng vẫn
nghiêng ngả, ngả nghiêng, cái chổng đầu lên, cái chúc đầu
xuống. Vào khoảng nửa buổi thì tới cửa tỉnh. Hàng phố lố nhố
kéo nhau ra xem.
Ngày trước, những ông nghè mới, sau khi ở kinh, lĩnh cờ biền
về thẳng tỉnh nhà để vào lễ quan tổng đốc đều phải ra luôn nhà
trọ, rồi thì hàng tổng đến đó rước về. Nhưng quan tổng đốc bây
giờ là bậc hiếu học, thấy ông tân khoa Trần Đằng Long trẻ tuổi,
linh lợi, ngài càng yêu mến, nên mới phá cách mà lưu ông ấy ở lại
trong dinh và đã phi trát về huyện, sức các dân xã phải vào trong
dinh đốc bộ mà đón.
Theo lệnh ấy, võng, lọng, cờ quạt, cứ việc nghênh ngang tiến
vào cửa thành. Đến cổng dinh quan tổng đốc, cố ông, cố bà và cô
nghè xuống võng đi bộ. Giữa mấy tiếng trống báo rất hùng dũng
của bọn lính canh trên chòi, một người đội tuần lật đật ở trong
chạy ra. Cố ông, cố bà và cô nghè sửa lại khăn áo cho thật tề
chỉnh để theo hắn đi vào trong dinh.
Làng tổng xúm lại từng tốp ngồi lê ngồi la ở các bãi cỏ ngoài
dinh, kẻ ăn trầu, người hút thuốc vặt. Cờ quạt võng lọng, dựa ở
bên đường ngổn ngang. Nửa giờ sau, giữa lúc dân phu đang vây
quanh chĩnh nước chè tươi và chiếc điếu cày, thình lình mấy ông
bô lão đều quay vào phía cửa dinh, ai nấy cong lưng vái một vái
cực kỳ trịnh trọng.
Quan nghè đã đi với cố ông từ trong dinh ra. Cả bọn hàng tổng
răm rắp đứng lên, ai vào công việc của người ấy. Bốn chiếc đòn
võng ghếch đầu ven tường cũng như số nhiều cờ quạt, tàn, lọng
đều được nhấc ra một cách vội vàng. Các võng đều chế theo kiểu
bát cống, mỗi cái phải tám người khiêng. Với chiếc nón dấu đội
đầu và bộ áo xanh nẹp đỏ, phủ tấm ban kiên màu đỏ, tất cả ba
mươi hai người phu cùng nhất tề đỡ tay vào các đầu đòn để hạ
cho mấy chiếc võng thấp gần mặt đất.
Giống những ông nghè bằng giấy mà hàng năm đến rằm
tháng tám, người ta vẫn thấy ở cỗ trông trăng, quan nghè đi ủng
đen, mang xiêm xanh, bận áo thụng lam và đội mũ cánh chuồn
lóng lánh những bông hoa bạc. Sau khi vị tân khoa ấy đã bệ vệ
bước chân lên võng và ngồi chống tay vào chiếc gối xếp đặt ở đầu
võng, cố ông, cố bà, lần lượt trèo vào võng mình.
Sau rốt đến lượt cô nghè. Với hai gò má đỏ bừng như muốn
biểu lộ một cái tâm trạng nửa mừng nửa thẹn, cô này nhìn trộm
bộ điệu lên võng của chồng và của cha chồng, mẹ chồng. Rồi sè
sẽ xếch cao hai ống quần lĩnh và rón rén cất cái gót của chiếc vân
hài,cô ghé ngồi vào chỗ mép võng để co hai chân lên võng. Mấy
chục người nhất tề nâng các đòn võng lên vai và đứng im lặng
chờ nghe hiệu lệnh.
Đám rước lúc ấy bắt đầu sắp thành hàng ngũ. Đầu quân là lá
cờ đỏ có thêu bốn chữ "nhất giáp tiến sĩ". Rồi đến bốn chiếc lọng
vàng nghiêng đầu vào nhau che cho mấy chữ "ân tứ vinh qui" đề
giữa tấm biển sơn son chung quanh có lớp riềm nhiễu đỏ. Rồi
đến một chiếc trống đánh đu dưới cây đòn gỗ bắc dọc trên vai hai
người dân phu. Kề đó, ông thủ hiệu trống luôn luôn tỏ vẻ oai vệ
bằng bộ mũ tế, áo tế, cái dùi trống chênh chếch gục đầu vào
ngực và đôi hia đen xúng xính dưới hai ống quần màu "dúm".
Tiếp đó, bốn cậu bé con đứng ra bốn góc để chiếm lấy một khu
đất vuông vắn như hình bàn cờ. Cả bốn, ai cũng như nấy, áo đỏ,
dải lưng xanh, xà cạp màu xanh, tay trái chống vào cạnh sườn,
tay phải vác lá cờ phất khuôn khổ vừa bằng vuông yếm. Rồi đến
ông cầm trống khẩu. Rồi đến võng của quan nghè. Đi kèm ở hai
bên võng, hai người rước đôi lọng xanh chóp bạc, hững hờ
giương ở cạnh mui võng. Và thêm vào đó, bên này một người vác
chiếc quạt lông, bên kia, một ông lễ mễ cắp cái tráp sơn đen và
xách một chiếc điếu ống xe trúc.
Sau võng, phấp phới năm lá cờ vuông, đủ cả năm sắc xanh, đỏ,
vàng, trắng và tím. Đứng đúng như năm cái chấm ở mặt "ngũ"
của con thò lò, năm ông vác cờ đi giầy tầu, mặc áo nhiễu điều, đội
mũ đuôi én, và đều khum tròn hai tay để giữ lấy cây cán cờ cắm
trên chiếc cối gỗ đeo ở trước bụng. Rồi đến ông cầm kiểng đồng.
Rồi đến võng của bà nghè.
Bằng tấm áo lụa màu hồng điều và vòng khăn nhiễu màu cánh
chả vấn kiểu vành dây, hai người con gái rón rén đi hầu cạnh
võng để vác cây quạt lá vả và bưng cái quả sơn son. Cũng như
võng của quan nghè, võng của bà nghè cũng được hộ vệ bằng
đôi lọng xanh, chỉ kém có cái chóp bạc.
Rồi đến võng của cố ông. Rồi đến võng của cố bà. Rồi đến mấy
ông bô lão khúm núm trong những tấm áo thụng màu lam. Rồi
đến các thứ kèn trống đàn sáo. Rồi đến một dãy chừng bốn, năm
chục lá cờ sắp theo hàng một, cái nọ cách cái kia độ vài ba thước.
Cuối cùng thì là hai người khiêng chiêng. Ông thủ hiệu chiêng
phục sức và điệu bộ không khác ông thủ hiệu trống, cũng áo tế,
cũng mũ tế, cũng đôi hia đen, và chiếc dùi dựa luôn luôn múa ở
cửa tay áo thụng.
Với chiếc loa đồng vác vai, lý trưởng Văn Khoa và nhiều chức
dịch hàng tổng tung tăng chạy từ đầu nọ đến đầu kia, để làm cho
hết phận sự những người dẹp đám.
Sau ba hồi trống cái gióng nhau với những tiếng chiêng bu bu,
tiếp đến một hồi trống khẩu đi đôi với hồi kiểng đồng, đám rước
lục tục theo con đường cũ đi ra, đàn sáo kèn nhị nổi lên inh ỏi. Ra
khỏi cổng thành độ vài chục bước, ông thủ hiệu trống thình lình
thúc ba tiếng trống díp nhau, để ra hiệu cho hết mọi người đều
phải dừng lại. Rồi thì một tay chống thẳng vào sườn, người giữ
hiệu lệnh của đám rước đó khoan thai lui xuống năm bước. Và
dang hai chân theo hình chữ "bát", ông ấy múa chiếc dùi trống
tiến lên năm bước để nện luôn vào mặt trống mấy tiếng tùng
tùng. Dứt hồi tùng tùng thứ nhất, bốn cậu bé con cầm bốn lá cờ
phất đồng thời quay mình đánh thót và cùng chầu mặt vào nhau.
Sau hồi tùng tùng thứ hai, cả bấy nhiêu cậu nhất tề múa tít lá cờ
trong tay để chạy cho hết chiều ngang của mặt đường cái, người
ở bên tả xông sang phía hữu, người ở bên hữu xông sang phía tả.
Luôn hồi tùng tùng thứ ba, các cậu lại đều quay tròn ngọn cờ và
răm rắp lui về chỗ cũ. Đến hồi tùng tùng thứ tư, cờ lại múa bốn
cậu lại cùng bước vào giữa đường. Rồi ai nấy đều cúi đầu xuống
để phất lá cờ qua mặt và hứ một tiếng thật dài. Thế rồi, mỗi một
tiếng tùng là một cái phất cờ, và mỗi cái phất cờ lại một tiếng
"hứ". Vừa đủ bốn lượt "tùng hứ", ông thủ hiệu trống dõng dạc
điểm thưa dùi trống để ra lệnh cho các cậu đó lùi lại chỗ đứng lúc
nãy và quay mặt nhìn lên tiên quân.
Chiêng trống lại thủng thẳng đánh từng tiếng một, đám rước
lại lần lần tiến lên. Đi hết con đường trong tỉnh, mặt trời vừa lên
đến thẳng đỉnh đầu. Cả một khu vực mông mênh của bầu trời
đều bị nhuộm thành màu vàng chói. Người đi trên đường luôn
luôn ngửi thấy mùi khét. Cờ vuông, cờ chéo, hết thảy rũ rượi như
lũ ấp mồ. Dân phu hàng tổng ai nấy sắc mặt đỏ gay, mồ hôi thấm
ra ngoài áo. Chừng đã khó chịu với sự nóng nực, mấy người đi
đầu sè sẽ giục nhau bước rảo cho chóng đến nhà. Nhưng ông thủ
hiệu trống cố muốn kéo cho công việc của mình thêm dài, chốc
chốc lại tiến ngũ bộ, thoái ngũ bộ, dang cánh tay múa dùi, nháy
trống, để diễn một trận "tùng hứ", làm cho cá đám đều phải dừng
lại. Trời cứ nắng, chiêng trống cứ tùng tùng, bu bu... đàn sáo kèn
nhị cứ thi nhau xuống chìm lên bổng. Thiên hạ đi xem đông như
nước chảy. Nón sơn chen với nón lá, yếm áo lấp ló trong đám áo
the. Người ta dắt nhau. Người ta co nhau. Người ta du nhau, đẩy
nhau. Người ta lội bì bõm dưới ruộng lúa chiêm và leo tót vót trên
các cành đa, cành gạo. Thân đường chật hẹp không đủ chỗ chứa.
Đằng đầu cũng như đằng cuối, chen chúc những người là người.
Cờ quạt võng lọng đều phải ùn lại như một toán quân bị hãm. Lý
trưởng Văn khoa hùng dũng kề loa vào miệng: "Bớ hai bên hàng
xứ! Dẹp ra để quan lớn tr...ẩy!"
Tiếng "trẩy" như bị dính ở miệng loa. Nó đã xoắn lại như vành
trôn ốc và kéo dài ra như một sợi thừng. Đít loa"ngoáy" tròn độ
năm sáu vòng, vẫn chưa tuôn cho đi hết dư hưởng của nó.
Những người đứng gần đều phải chối tai. Cả một góc trời như bị
xé toạc. Hàng xứ vẫn đâu đứng đấy, hình như không ai nhúc
nhích. Ông lý của làng quan nghè lại phải trợn mắt phùng mang
để "bớ hàng xứ" lần nữa. Cũng vẫn thế. Đường đi cứ bị ngăn cản
như thường. Mấy ông tuần phu liền xắn tay áo chạy suốt hai bên
dọc đường, và sẵn roi mây trong tay, họ vụt túi bụi một lượt. Đám
đông tức thì dồn dập như một lớp sóng. Người nọ xô người kia,
cố cướp lấy đường mà chạy. Bà già, trẻ con ngã sấp ngã ngửa ở
các bờ ruộng. Mặt trời chênh chếch về tây. Đường về đã hết
chừng hai phần ba. Vòm trời thỉnh thoảng điểm có bóng râm.
Ánh nắng dần dần êm dịu. Tiếp đó, một trận gió nồm tứ dưới
đồng chiêm nhẹ nhàng đưa lên. Cả đám đều tỉnh người ra.
Những con rồng phượng trong các cờ quạt hết thảy lồng lộng
múa nhảy như muốn theo tiếng đàn sáo cùng bay tít lên mây
xanh.
- Ô kìa ông nghè!
- Ô kìa bà nghè!
Tiếng reo giật giọng thình lình bật lên giữa hồi chiếng trống
vang lừng. Trăm nghìn con mắt đổ dồn vào đám lọng xanh đi
trước. Mấy bức mành mành cánh sáo đã quấn lên sát mui võng
lúc nào. Thiên hạ được dịp xem mặt cả nhà quan nghè. Ít kẻ nói
đến cố ông, cố bà. Người ta chăm chú nhìn vào cô nghè nhiều
nhất.
Trước sự chỉ trỏ của hàng xứ, cô nghè vẫn ra vẻ e lệ sượng
sùng, tuy trong bụng cô đã cảm thấy vinh dự cực điểm. Luôn luôn
cô phải nhai trầu phúng phính, vì sợ để cái mồm không...
 





