Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Lũ trẻ đường tầu

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 09h:49' 05-03-2024
    Dung lượng: 792.7 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    LŨ TRẺ ĐƯỜNG TÀU

    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Edith Nesbit (15/08/1858 - 04/05/1924) ngày nhỏ là một cô nhóc tinh quái, lớn lên tính
    cách cũng chẳng giống ai. Bà là một trong những thành viên sáng lập Hội Fablan; nhà bà trở
    thành trung tâm của giới văn sĩ và những người theo chủ nghĩa xã hội thời bấy giờ. Lũ trẻ
    đường tàu là tác phẩm nổi tiếng nhất của bà, được liên tục tái bản trong cả thế kỷ qua, cùng 6
    lần chuyển thể thành phim.
    GIỚI THIỆU
    Một tối, cha đi khỏi nhà cùng hai ngườỉ đàn ông lạ mặt và không trở về. Mẹ lẳng lặng gói
    ghém đồ đạc đưa lũ trẻ về sống tại Ba Ống Khói, ngôi nhà nằm bên một nhà ga tưởng tượng ở
    miền quê Yorkshire. Từ ngày về đây, đường tàu đã trở thành trung tâm cuộc sống ba chị em
    Bobbie, cuốn chúng vào những chuyến phiêu lưu mạo hiểm nhưng vô cùng kỳ thú: Cứu cả đoàn
    tàu thoát khỏi tai nạn trong trận lở đất, giúp ông người Nga tha hương tìm gia đình, cứu em bé
    nhà "ông sà lan" thoát khỏi đám cháy... Nhưng đằng sau những chiến tích rực rỡ vẫn là một nỗi
    buồn thầm lặng khôn nguôi. Bởi vì, bao giờ cha sẽ về ?
    Câu chuyện về ba đứa trẻ nghèo sống bên dường tàu đã cuốn độc giả vào một thế giới tinh
    nghịch, trong trẻo mà đầy cảm động, một xâu chuỗi khéo léo những tình tiết tưởng như rời xa
    nhau nhưng hóa ra lại đồng quy ở kết thúc đầy bất ngờ nơi cuối truyện.
    Đến từ nuớc Anh và sau hơn một thế kỷ ra mắt, Lũ trẻ đường tàu của Edith Nesblt vẫn luôn
    là một tượng đài tác phẩm thiếu nhi kinh điển không thể bỏ qua, một viên ngọc còn lại mãi
    trong ký úc nhiều thế hệ độc giả trẻ thế giới.

    Dành tặng con trai yêu quý của tôi PAUL BLAND, kiến thức của con về ĐƯỜNG TÀU là chỗ
    dựa đáng tin cậy cho hiểu biết đầy thiếu hụt của tôi.

    Chương 1
    Mọi chuyện bắt đầu
    Chúng vốn không phải là trẻ con đường tàu. Tôi không cho là chúng từng suy nghĩ về đường
    tàu, có chăng thì chúng coi đó chỉ là phương tiện để tới sân khấu ảo thuật Maskelyne và Cooke,
    đi xem kịch câm, tới vườn bách thú và bảo tàng tượng sáp Madame Tussaud. Chúng là những
    đứa trẻ ngoại ô bình thường, sống cùng cha mẹ trong một biệt thự bình thường có mặt trước
    xây bằng gạch đỏ, cửa chính lắp kính màu, tiền sảnh lát đá hoa, một phòng tắm có nước nóng
    lạnh, chuông điện, cửa sổ lớn, tường sơn trắng, và "mọi tiện nghi hiện đại", như đám môi giới
    nhà đất thường nói.
    Có ba đứa trẻ. Roberta là chị cả. Tất nhiên là mẹ thì không bao giờ phân biệt các con nhưng
    nếu có đứa nào mẹ chúng yêu nhất thì đó là Roberta. Giữa là Peter, nó mơ ước lớn lên sẽ làm
    nghề lái tàu; và em út là Phyllis, con bé luôn muốn mình có sức khỏe đáng nể.
    Mẹ chúng không có thói quen cả ngày gọi cho mấy bà rỗi việc nói mấy chuyện tầm phào
    cũng không quen ngồi nhà ôm điện thoại chờ mấy bà kia gọi lại. Hầu như lúc nào bà cũng có
    mặt để chơi với các con, đọc cho chúng nghe, giúp chúng làm bài tập. Ngoài ra, bà cũng hay
    viết truyện cho các con khi chúng ở trường rồi đọc cho chúng nghe sau bữa trà. Bà bao giờ
    cũng sáng tác những bài thơ ngộ nghĩnh vào dịp sinh nhật bọn trẻ và những dịp long trọng
    khác, như là lễ rửa tội cho lũ mèo con, trang hoàng lại ngôi nhà búp bê, hay khi bọn trẻ bị quai
    bị.
    Ba đứa trẻ may mắn này luôn có mọi thứ chúng cần: quần áo đẹp, lò sưởi ấm áp, một phòng
    trẻ con đầy đồ chơi với giấy dán tường có hình Ngỗng Mẹ. Chúng có một cô bảo mẫu tốt bụng
    và vui vẻ, một con chó của riêng chúng tên là James. Chúng còn có một người cha hoàn hảo ông chẳng bao giờ giận dữ, chẳng bao giờ thiên vị và luôn sẵn sàng cho một trò chơi - ít nhất
    thì khi nào không thể ông luôn có lý do tuyệt vời, giải thích cho bọn trẻ một cách thú vị và
    buồn cười đến nỗi chúng tin chắc ngay là ông không thể.
    Các bạn sẽ nghĩ rằng chúng hẳn là đã rất hạnh phúc. Và đúng là như vậy. Nhưng chúng
    không biết chúng hạnh phúc nhường nào cho đến khi cuộc sống vui tươi trong ngôi Biệt thự
    Đỏ trôi qua và kết thúc. Và chúng phải sống một cuộc đời hoàn toàn khác.
    Sự thay đổi khủng khiếp xảy ra hết sức bất ngờ.

    Vào lần sinh nhật thứ mười của Peter. Trong số các món quà nó nhận được có một cái xe
    lửa tinh xảo hơn bất cứ thứ gì nó có thể mơ ước. Những món quà khác cũng rất đẹp nhưng cái
    xe lửa đẹp hơn tất cả.
    Vẻ đẹp hoàn hảo của nó tồn tại được đúng ba ngày. Sau đó, hoặc là do lỗi của Peter, hoặc
    Phyllis đã hơi mạnh tay hay vì nguyên nhân nào đó, chiếc xe bỗng vỡ bung ra với một tiếng nổ
    mạnh đến nỗi con James lao vụt ra ngoài và biến mất cả ngày. Toàn bộ cư dân muông thú trên
    con thuyền Nô-ê cạnh đó đều vỡ tan từng mảnh. Ngoài ra không có gì khác bị tổn thương trừ
    cái xe lửa tội nghiệp và cảm xúc của Peter. Mọi người trong nhà bảo nó đã khóc. Nhưng tất
    nhiên là những cậu bé lên mười rồi thì không dễ khóc, dù thảm họa có nặng nề đến mức phủ
    bóng đen lên đời các cậu đi chăng nữa. Peter nói rằng mắt nó đỏ vì nó bị cảm lạnh. Điều này
    hóa ra lại đúng, mặc dù khi nói thế Peter không hề biết. Ngày hôm sau nó không được ra khỏi
    giường mà phải nằm yên đó. Mẹ đã bắt đầu sợ rằng nó có thể mắc bệnh sởi thì bỗng nhiên nó
    ngồi dậy nói, "Con ghét cháo trắng, con ghét nước đại mạch, con ghét bánh mì và sữa. Con
    muốn dậy ăn cái gì đó hẳn hoi."
    "Thế con muốn ăn gì ?" mẹ hỏi.
    "Bánh nướng nhân thịt bồ câu ạ," Peter háo hức nói, "một cái bánh nướng bồ câu to. Thật to
    vào."
    Mẹ liền bảo đầu bếp làm một cái bánh bồ câu to. Thế là có ngay cái bánh. Bánh làm xong
    liền được cho vào lò nướng. Khi bánh chín, Peter ăn một ít. Ăn xong, bệnh của nó khá hơn. Mẹ
    đã sáng tác một bài thơ để nó vui trong khi chờ bánh chín. Mở đầu bài thơ cho biết cậu bé
    Peter can đảm không may thế nào. Tiếp theo là:
    Cậu có chiếc xe lửa quý
    Yêu xe với trọn lòng thành,
    Giá trời cho đây điều ước
    Ước gì xe lại nguyên lành.
    Rồi một hôm kia, bạn ạ
    Ôi trời tệ hại xiết bao
    Bỗng chốc thằng đinh vít ốm
    Cả nồi hơi vỡ đánh ào !
    Não lòng cúi nhặt xe lên
    Cậu chạy ù ngay tới mẹ,

    Dẫu lòng chẳng dám tin rằng
    Xe lại hồi sinh nhờ mẹ.
    Hành khách không may tử nạn
    Cậu chẳng hề chút bận tâm,
    Xe, xe là tất cả
    Hơn hàng đoàn lũ cư dân.
    Thế là giờ đây bạn biết Peter ngã bệnh vì sao
    Bánh rồi sẽ an ủi cậu
    Nỗi buồn rồi sẽ qua mau.
    Quấn mình chăn ấm nệm êm
    Nằm ườn chả dậy đúng giờ,
    Lòng đã quyết bằng cách đó
    Quên đi nỗi buồn trong mơ.
    Còn nếu mắt cậu hoe đỏ,
    Ấy là do cậu cảm thôi.
    Bánh bồ câu thơm điếc mũi,
    Cậu đâu cần đợi được mời.
    Cha ở vùng nông thôn ba bốn ngày vừa mới về. Niềm hy vọng sửa được chiếc xe giờ đây
    dồn cả vào ông. Cha có những ngón tay cực khéo léo. Ông có thể sửa bất cứ thứ gì. Ông từng là
    bác sĩ thú y cho con ngựa gỗ bập bênh. Có lần ông đã cứu nó khi mọi giúp đỡ dường như vô
    vọng. Con vật khốn khổ đã bị coi như đồ bỏ đi rồi, thậm chí ông thợ mộc còn nói là không thể
    làm gì hơn. Cũng chính cha đã chữa cái nôi của búp bê khi không ai chữa được. Và chỉ cần ít
    keo, vài mẩu gỗ, một con dao nhíp là ông có thể giữ cho toàn bộ cư dân của con thuyền Nô-ê
    gắn chặt vào trục như trước, nếu không nói là chặt hơn.
    Peter vốn biết nghĩ cho người khác nên đã không hề để lộ chút gì về chiếc xe lửa của mình
    mà đợi cho đến khi cha ăn xong bữa tối và hút điếu xì gà kết thúc bữa ăn. Nghĩ cho người khác
    là ý tưởng của mẹ, nhưng Peter là người thực hiện. Ngoài ra, làm thế còn phải rất kiên nhẫn
    nữa.
    Cuối cùng mẹ nói với cha, "Anh à, giờ anh đã nghỉ ngơi và thấy thoải mái rồi thì mẹ con em

    muốn kể cho anh nghe một tai nạn xe lửa nghiêm trọng và xin anh lời khuyên."
    "Được rồi," cha nói, "bắt đầu đi nào !"
    Peter kể lại câu chuyện và bày ra những gì còn lại của con tàu.
    "Hừm," cha nói sau khi đã xem xét kỹ lưỡng.
    Bọn trẻ nín thở chờ đợi.
    "Có hy vọng không cha ?" Peter ấp ứng hỏi nhỏ.
    "Hy vọng à ? Nhiều ra phết ! Hàng tấn hy vọng," cha nói vui, "nhưng còn cần vài thứ ngoài
    hy vọng - một miếng đồng, ừ, hoặc hợp kim hàn vá một cái van mới. Có lẽ nên để việc này lại
    tới lúc nào thích hợp hơn. Nói cách khác là cha sẽ dành cả chiều thứ Bảy để sửa con tàu và tất
    cả các con sẽ phải giúp cha đấy."
    "Con gái có thể giúp chữa tàu không ạ ?" Peter hỏi đầy nghi ngờ.
    "Tất nhiên là có rồi. Con gái cũng thông minh như con trai, con đừng quên chứ ! Con có
    muốn trở thành người lái tàu hỏa không, Phil ?"
    "Mặt con lúc nào cũng sẽ bị nhọ, đúng không ạ ?" Phyllis hỏi, vẻ thiếu nhiệt tình, "mà con sợ
    sẽ làm hỏng một cái gì đó mất."
    "Con rất thích việc ấy," Roberta nói. "Cha có nghĩ là lớn lên con có thể lái tàu không ? Hay
    thậm chí làm người giữ lửa cũng được ?"
    "Con muốn nói là người đốt lò chứ gì," cha vừa nói vừa kéo và vặn cái xe lửa. "Ồ, nếu lớn lên
    con vẫn muốn làm việc đó, chúng ta sẽ nghĩ cách giúp con thành một cô đốt lò. Cha nhớ hồi cha
    còn nhỏ..."
    Đúng lúc đó có tiếng gõ cửa.
    "Ai chứ !" cha nói. "Nhà của một người Anh là pháo đài của anh ta, tất nhiên, nhưng cha ước
    gì họ xây những biệt thự liền vách có hào bao quanh và cầu rút."
    Ruth - cô giúp việc phòng khách có mái tóc đỏ - bước vào nói rằng có hai ông muốn gặp ông
    chủ.
    "Thưa ông, tôi đã đưa họ vào thư viện," chị ta nói.
    "Mong rằng chỉ là việc đăng ký mua quà lưu niệm cho cha xứ," mẹ nói; "không thì là quỹ
    nghỉ hè cho dàn đồng ca. Tiễn họ về nhanh đi anh à. Cũng hết buổi tối rồi và đã gần đến giờ cho
    các con đi ngủ."
    Nhưng có vẻ cha không thể tiễn họ nhanh được.

    "Con ước gì chúng ta có một con hào và cầu rút ?”, Roberta nói; "lúc đó, nếu không muốn có
    người đến, chúng ta có thể kéo cầu lên và chẳng ai vào được. Con sợ cha sẽ quên chuyện hồi
    cha còn bé nếu họ ngồi lâu quá."
    Mẹ cố gắng lấp chỗ trống bằng cách kể cho chúng một truyện cổ tích mới về nàng công chúa
    có đôi mắt màu xanh lá cây nhưng khó quá, vì chúng có thể nghe được giọng của cha và những
    người kia từ thư viện vọng ra. Giọng của cha vang to hơn và khác cái lối ông thường nói với
    những người đến nhà mình về chuyện quà lưu niệm hay quỹ nghỉ hè.
    Rồi chuông thư viện rung và mọi người thở phào.
    "Họ sắp về rồi," Phyllis nói; "cha nhấn chuông để tiễn họ về đấy."
    Nhưng thay vì tiễn ai đó về, Ruth lại xuất hiện và chị ta trông khá kỳ cục, bọn trẻ nghĩ vậy.
    "Thưa bà, ông chủ muốn bà vào ngay phòng đọc. Ông trông như người chết, thưa bà. Tôi
    cho là ông có tin xấu. Bà nên chuẩn bị đón tin xấu nhất, thưa bà... có thể là ai đó trong gia đình
    vừa qua đời hay ngân hàng phá sản hay..
    "Được rồi, Ruth," mẹ nói nhẹ nhàng, "chị có thể đi."
    Sau đó mẹ vào thư viện. Có tiếng nói chuyện. Rồi chuông lại rung, và Ruth đi gọi xe. Bọn trẻ
    nghe thấy tiếng giày bước ra, xuống thềm. Xe chuyển bánh và cửa trước đóng lại. Mẹ bước vào.
    Khuôn mặt thân yêu của mẹ trắng bệch như cổ áo đăng ten, mắt mẹ to và sáng khác thường,
    miệng mẹ khép chặt trông như một đường đỏ nhợt - đôi môi mẹ mỏng hơn, trông không còn là
    môi nữa.
    "Đến giờ ngủ rồi," mẹ nói. "Ruth sẽ cho các con đi ngủ”.
    "Nhưng mẹ đã hứa là chúng ta sẽ ngủ muộn vì hôm nay cha về mà," Phyllis nói.
    "Cha được gọi đi có việc," mẹ nói. "Đi, các con yêu, ngay lập tức."
    Bọn trẻ hôn mẹ rồi bước ra. Roberta nấn ná ôm mẹ thật chặt và thầm thì.
    "Không phải tin xấu, đúng không mẹ ? Là ai đó chết... hay..."
    "Không ai chết cả, không," mẹ nói, bà gần như đẩy Roberta ra. "Mẹ không thể kể cho con
    nghe điều gì tối nay, con yêu. Đi, con, đi ngay."
    Nên Roberta đi.
    Ruth chải tóc cho hai đứa con gái và giúp chúng thay quần áo. (Thường mẹ vẫn tự mình làm
    việc này.) Khi Ruth tắt đèn đi ra thì thấy Peter, vẫn mặc nguyên quần áo trong ngày, đợi ở cầu
    thang.

    "Em hỏi cái đã, Ruth, có chuyện gì vậy ?" thằng bé hỏi.
    "Đừng hỏi gì kẻo tôi phải nói dối," Ruth tóc đỏ trả lời. "Cậu sẽ sớm biết thôi."
    Khuya hôm ấy mẹ vào phòng hôn ba đứa con đang say ngủ. Roberta là đứa duy nhất tỉnh
    giấc nhưng nó nằm yên như khúc gỗ, không nói gì.
    "Nếu mẹ không muốn cho bọn mình biết là mẹ khóc, bọn mình sẽ không biết," nó tự nhủ
    khi nghe trong bóng tối hơi thở của mẹ. "Sẽ như vậy."
    Khi bọn trẻ xuống ăn sáng sớm hôm sau, mẹ đã đi rồi.
    "Đi Luân Đôn”, Ruth nói, và để chúng ngồi ăn sáng.
    "Có gì đó tồi tệ xảy ra rồi” Peter nói lúc đập trứng. "Tối qua Ruth bảo em sẽ sớm biết thôi."
    "Em hỏi chị ta chắc ?" Roberta nói, vẻ khinh thường.
    "Chứ còn gì !" Peter giận dữ đáp. "Chị có thể đi ngủ mà không quan tâm mẹ có lo lắng hay
    không. Nhưng em thì không thể. Thế đấy !"
    "Chị không nghĩ ta nên yêu cầu người khác làm điều mà mẹ không bảo ta”, Roberta nói.
    "Đúng thế, thưa quý cô ngoan ngoãn," Peter nói, "không phải thuyết giáo."
    "Em không phải là quý cô ngoan ngoãn”, Phyllis nói, "nhưng em nghĩ lần này Bobbie đúng."
    "Tất nhiên, chị ấy lúc nào chả đúng. Theo ý chị ấy," Peter nói.
    "Ồ, không”, Roberta kêu lên, đặt thìa xuống.
    "Đừng hục hặc với nhau nữa. Chị chắc là có một tai họa khủng khiếp đang xảy ra. Bọn mình
    đừng làm nó tồi tệ hơn nữa đi !"
    "Thế ai khơi mào trước chứ ?" Peter hỏi.
    Roberta cố kềm chế, trả lời, "Chị, chị cho là thế, nhưng..."
    "Vậy thì xong," Peter đắc thắng tuyên bố.
    Tuy nhiên, trước khi đi học nó đấm nhẹ vào giữa hai vai chị và bảo chị vui lên.
    Bọn trẻ về nhà vào giờ ăn lúc một giờ, nhưng mẹ vẫn chưa về. Đến giờ uống trà cũng vậy.
    Phải đến gần bảy giờ mẹ mới về. Trông mẹ mệt mỏi đến nỗi bọn trẻ cảm thấy không thể hỏi
    bà bất kỳ câu nào. Bà chìm vào trong ghế bành. Phyllis gỡ những cái cặp ghim dài ra khỏi mũ
    mẹ trong khi Roberta cởi găng tay và Peter tháo đôi giày đi bộ rồi lồng đôi dép nhung mềm đi
    trong nhà vào chân mẹ.
    Khi mẹ uống trà xong, và Roberta lấy chút nước hoa xoa hai bên thái dương mệt mỏi đến

    phát ốm của mẹ, bà mới nói, "Bây giờ, các con yêu của mẹ, mẹ muốn nói với các con điều này.
    Mấy ông tối qua đã mang đến tin rất xấu. Cha sẽ vắng nhà một thời gian. Nên giờ mẹ lo lắng
    lắm, mẹ muốn tất cả các con giúp mẹ, và đừng làm mọi việc khó khăn thêm."
    "Vâng, nếu mà chúng con làm được gì !" Roberta nói, cầm tay mẹ áp vào mặt mình.
    "Các con có thể giúp mẹ rất nhiều," mẹ nói, "nếu các con ngoan ngoãn, vui vẻ và không cãi
    nhau khi mẹ vắng nhà" - Roberta và Peter liếc nhìn nhau vẻ hối lỗi - "vì mẹ sẽ phải vắng nhà
    nhiều."
    "Chúng con sẽ không cãi nhau đâu ạ. Nhất định không," cả ba nói. Và chúng cũng thực sự
    nghĩ thế.
    "Vậy," mẹ tiếp tục, "mẹ muốn các con không hỏi mẹ bất kỳ câu nào về việc này, và không
    hỏi bất kỳ ai khác bất kỳ câu nào."
    Peter ngồi khép nép, rê giày trên thảm.
    "Các con cũng sẽ hứa với mẹ thế chứ ?" mẹ lại nói.
    "Con đã hỏi Ruth," Peter đột nhiên nói. "Con xin lỗi, nhưng con đã hỏi mất rồi."
    "Và chị ấy nói gì ?"
    "Chị ấy nói con sẽ sớm biết thôi."
    "Các con không cần biết bất kỳ điều gì về việc này," mẹ nói; "đó là chuyện làm ăn, mà
    chuyện làm ăn thì các con chẳng bao giờ hiểu được, đúng không ?"
    "Đúng ạ," Roberta nói. "Đó là chuyện nhà nước ạ ?" Bởi vì cha làm việc ở một cơ quan nhà
    nước.
    "Phải rồi," mẹ nói, "bây giờ đã đến lúc đi ngủ, các con yêu của mẹ. Và các con đừng lo lắng.
    Rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi."
    "Vậy mẹ cũng đừng lo lắng, mẹ nhé," Phyllis nói, "tất cả chúng con sẽ ngoan như cún con."
    Mẹ gật đầu và hôn các con.
    "Bọn mình sẽ bắt đầu ngoan từ việc đầu tiên mình làm sáng mai," Peter nói khi chúng lên
    gác.
    "Tại sao không phải là bây giờ ?" Roberta hỏi.
    "Chẳng có gì để ngoan vào lúc này, chị khờ ạ," Peter nói.
    "Bọn mình có thể bắt đầu tỏ ra ngoan ngoãn," Phyilis nói, "và đừng nói nặng lời với nhau."

    "Ai nói nặng lời chứ ?" Peter bẻ lại. "Bobbie biết thừa là khi anh nói 'chị khờ' thì cũng y như
    anh nói Bobbie thôi."
    "Ừ." Roberta nói.
    "Không, em không nói chuyện đó. Em muốn nói về... cha gọi là cái gì í nhỉ ?... hạt giống yêu
    thương ! Chúc ngủ ngon."
    Hai con bé gấp váy áo gọn gàng hơn mọi ngày - đó là cách ngoan ngoãn duy nhất mà lúc này
    chúng có thể nghĩ ra.
    "Em nhớ là," Phyllis vừa nói vừa vuốt thẳng cái áo choàng không tay, "chị thường nói nếu
    chẳng có chuyện gì xảy ra, giống như trong sách ấy, thì thật tẻ nhạt. Bây giờ thì đã có chuyện
    rồi đấy."
    "Chị không bao giờ muốn điều gì xảy ra làm mẹ buồn," Roberta nói. "Mọi thứ vô cùng đáng
    sợ."
    Mấy tuần sau mọi thứ vẫn vô cùng đáng sợ. Mẹ hầu như vắng nhà suốt. Bữa ăn nào cũng
    buồn chán và nhạt nhẽo. Cô hầu phòng bị sa thải, và bác Emma đến chơi. Bác già hơn mẹ
    nhiều. Bác sắp sang Đức làm gia sư. Bác đang tất bật chuẩn bị quần áo, mà cái nào cũng xấu xí,
    màu xám xịt, được bác bày ra khắp chốn, còn cái máy may dường như xòe xòe suốt ngày và
    gần như suốt cả đêm. Bác Emma tin rằng bọn trẻ phải được cho chơi ở nơi phù hợp với chúng.
    Và chúng không chỉ đền đáp lòng tin của bác không thôi. Chúng nghĩ nơi phù hợp của bác
    Emma là ở đâu đó không có mặt chúng. Do đó chúng ít khi gặp bác. Chúng thích chơi với những
    người làm. Chơi với họ vui hơn. Ông đầu bếp nếu gặp lúc tâm trạng phấn chấn, có thể hát
    những bài hát buồn cười, và chị hầu phòng, nếu không phải lúc bị quở trách, có thể bắt chước
    tiếng một con gà mái vừa đẻ trứng hay tiếng mở sâm banh, rồi lại có thể meo meo như hai con
    mèo đang tỉ thí. Những người làm không hề kể cho bọn trẻ tin xấu mà hai người kia mang đến
    cho cha. Nhưng họ nói bóng gió rằng họ có nhiều điều để kể nếu họ được phép - và điều này
    không dễ chịu chút nào.
    Một hôm Peter làm một cái bẫy treo trên cánh cửa phòng tắm. Nó hoạt động miễn chê khi
    Ruth đi qua khiến chị hầu tóc đỏ túm lấy Peter mà bạt tai thằng bé.
    "Mày rồi sẽ chẳng nên cơm cháo gì đâu," chị ta giận điên lên, "mày là thằng mất dạy, mày ấy
    ! Nếu mày không sửa cách cư xử thì mày rồi cũng lại vào chỗ ông bố quý hóa của mày cho mà
    xem. Tao nói thẳng cho mày biết thế !"
    Roberta nhắc lại những lời này cho mẹ. Ngày hôm sau Ruth bị sa thải.
    Rồi một hôm mẹ về nhà và lên giường nằm hai ngày liền. Bác sĩ đến thăm bệnh còn bọn trẻ

    lầm lụi khổ sở quanh nhà, tự hỏi có phải đến hồi tận thế rồi hay chăng.
    Đến hôm mẹ xuống ăn sáng, mẹ rất xanh xao, trên mặt mẹ xuất hiện những nếp nhăn trước
    kia chưa từng có. Bà ráng hết sức mỉm cười tự nhiên, và nói, "Bây giờ, các con yêu của mẹ, mọi
    chuyện được quyết định rồi. Chúng ta sẽ rời ngôi nhà này đến sống ở nông thôn. Đó là một
    ngôi nhà trắng nhỏ rất đáng yêu. Mẹ biết là các con sẽ thích."
    Một tuần đóng gói bận tít mù sau đó - không chỉ đóng gói quần áo như khi đi biển, mà cả
    bàn ghế đủ loại, mặt bàn mặt ghế bọc bằng bao bố còn bốn chân thì bọc bằng rơm.
    Tất cả đồ đạc đã được đóng gói. Những thứ ta vẫn thường để ở nhà khi đi nghỉ. Đồ sứ, chăn,
    chân nến, thảm, khung giường, nồi niêu xoong chảo, thậm chí cả tấm chắn lửa lò sưởi và que
    cời nữa.
    Ngôi nhà trông như cửa hàng bán đồ gia dụng. Tôi cho là bọn trẻ rất thích cảnh này. Mẹ rất
    bận, nhưng không quá bận đến mức không thể nói chuyện với chúng, đọc cho chúng nghe, và
    thậm chí bà viết cả một bài thơ khích lệ Phyllis lúc nó ngã khi đang cầm tuốc nơ vít và bị đâm
    vào tay.
    "Mẹ không gói cái này à ?" Roberta hỏi, chỉ vào cái tủ khảm trai và dát đồng rất đẹp.
    "Chúng ta không thể mang hết đi được”, mẹ bảo.
    "Nhưng chúng ta lại mang toàn đồ xấu xí," Roberta nói.
    "Chúng ta mang những đồ cần thiết," mẹ giải thích, "chúng ta phải làm người nghèo một
    thời gian, con yêu ạ."
    Khi những đồ đạc xấu xí cần thiết đã được đóng gói, được những người khuân vác mặc tạp
    dề vải len tuyết màu xanh lá cây chuyển lên xe tải, hai đứa con gái cùng mẹ và bác Emma ngủ ở
    hai buồng dự phòng có nội thất đẹp đẽ. Giường đã chuyển đi hết rồi. Một chỗ ngủ được dọn cho
    Peter trên xô pha phòng khách.
    "Con thấy thế này mới vui," Peter nói, thích thú ngọ nguậy lúc mẹ đắp chăn cho nó. "Con
    thích chuyển nhà. Ước gì mình chuyển nhà mỗi tháng một lần."
    Mẹ bật cười.
    "Mẹ thì không !" bà nói. "Chúc ngủ ngon, Pete của mẹ."
    Khi mẹ quay ra, Roberta nhìn thấy khuôn mặt mẹ. Nó sẽ không bao giờ quên nét mặt ấy.
    "Ôi, mẹ," nó tự nhủ lúc lên giường, "mẹ dũng cảm biết bao ! Con yêu mẹ vô cùng ! Phải dũng
    cảm lắm mẹ mới có thể cười được khi trong lòng đang cảm thấy như thế !"
    Ngày hôm sau tất cả các hộp đã đầy, cơ man nào hộp là hộp; và chiều muộn ngày hôm đó

    một chiếc xe đến đưa họ ra ga. Bác Emma tiễn họ. Bọn trẻ lại cảm thấy như chúng đang tiễn
    bác, và chúng khoái chí về chuyện đó.
    "Nhưng mà, tội nghiệp mấy đứa trẻ Đức mà bác sẽ dạy quá !" Phyllis thầm thì. "Cho gì thì
    cho em cũng chẳng muốn bị như chúng đâu !"
    Thoạt đầu bọn trẻ thích thú nhìn qua cửa sổ, nhưng trời tối dần, chúng buồn ngủ ríu mắt, và
    không đứa nào biết chúng đã ở trên tàu bao lâu khi mẹ khẽ lay chúng và giục, "Dậy thôi, các
    con, ta đến rồi."
    Chúng tỉnh giấc, vừa rét vừa rầu rĩ, đứng run rẩy trên ke ga gió lùa trong khi hành lý trên tàu
    được khuân xuống. Sau đó đầu máy lại phì phà phì phụt kéo theo các toa tàu lên đường. Bọn
    trẻ dõi theo những ngọn đèn đuôi của toa công cụ mất hút trong bóng tối.
    Đây là con tàu đầu tiên bọn trẻ nhìn thấy trên đường tàu đó, nó rồi sẽ trở lên rất thân thiết
    với chúng. Lúc này chúng chưa biết rằng chúng sẽ yêu mến đường tàu biết bao, nó sẽ trở thành
    trung tâm cuộc sống mới của chúng nhanh đến thế nào, nó sẽ mang lại những đổi thay, những
    điều kỳ diệu gì.
    Chúng chỉ run và hắt hơi, hy vọng quãng đường tới nhà mới không xa. Mũi Peter lạnh chưa
    từng thấy. Mũ của Roberta cong lên và quai mũ hình như chặt hơn bình thường. Dây giày của
    Phyllis lại tuột.
    "Đi," mẹ nói, "chúng ta phải đi bộ. Ở đây không có xe."
    Đường đi tối và lầy lội. Mặt đường gồ ghề khiến bọn trẻ hơi loạng choạng, và một lần Phyllis
    ngã phải vũng nước, mẹ đỡ nó lên, nó ướt rượt đến là khổ sở. Không hề có đèn đường và con
    đường đang lên dốc. Chiếc xe thồ đi túc tắc phía trước và bọn trẻ bám theo tiếng bánh xe
    nghiến lạo xạo. Khi mắt đã quen với bóng tối, chúng có thể lờ mờ nhìn thấy đống hộp lắc lư
    trước mặt.
    Một cái cổng dài mở ra cho xe đi qua. Sau đó con đường có vẻ như đi ngang qua cánh đồng
    và bây giờ nó xuống dốc. Một vật to lớn, cục mịch, tối tăm hiện lên bên phải.
    "Nhà ta kia rồi," mẹ nói. "Không hiểu sao bà ấy lại đóng các cửa chớp nhỉ ?"
    "Bà ấy là ai vậy mẹ ?" Roberta hỏi.
    "Người mẹ thuê tới lau dọn, sắp xếp đồ đạc và chuẩn bị bữa tối."
    Có một bức tường thấp có cây cối bên trong.
    "Đó là vườn," mẹ bảo.
    "Trông như cái chảo hứng mỡ đầy những bắp cải đen ấy," Peter nhận xét.

    Chiếc xe đi dọc theo bức tường, vòng ra sau nhà rồi lóc cóc vào một sân lát đá và dừng lại
    trước cửa hậu.
    Không cửa sổ nào sáng đèn.
    Tất cả đập cửa, nhưng không có ai ra.
    Ông đánh xe nói hẳn là bà Viney đã về nhà.
    "Bà thấy đấy, tàu về muộn thế cơ mà," ông ta nói.
    "Nhưng bà ấy cầm chìa khóa”, mẹ nói. "Chúng tôi biết làm thế nào bây giờ ?"
    "Ồ, có khi bà ấy để dưới bậc cửa cũng nên” - người đánh xe nói; "mọi người vẫn làm thế
    mà." Ông ta nhấc cái đèn trên xe xuống và cúi tìm.
    "Đây, nó đây, đã bảo mà," ông ta nói.
    Ông ta mở cửa bước vào và đặt đèn lên bàn.
    "Bà có nến không ?"
    "Tôi không biết cái gì ở đâu nữa," giọng mẹ kém vui.
    Người đánh xe quẹt diêm. Có một ngọn nến ở trên bàn, và ông châm nến. Dưới ánh sáng
    mỏng mạnh le lói, bọn trẻ nhìn thấy một cái bếp rộng tuềnh toàng có sàn lát đá. Không rèm
    cửa, không thảm trải cửa lò. Cái bàn bếp mang từ nhà nằm giữa phòng. Ghế tựa để hết ở một
    góc, nồi niêu xoong chảo, chổi, bàn chải, bát đĩa ở một góc khác. Không củi lửa, cái vỉ lò đen
    thui đầy tro lạnh.
    Người đánh xe quay ra sau khi đã khuân đống hộp vào, có tiếng sột soạt đây đó hình như
    ngay trong nhà.
    "Ôi, cái gì đấy ?" hai đứa con gái kêu lên.
    "Là chuột cống thôi," người đánh xe nói. Ông ta đi ra và sập cửa khiến luồng gió lùa đột
    ngột thổi tắt cây nến.
    "Ôi trời," Phyllis kêu lên, "ước gì chúng ta không đến đây !" và làm đổ một cái ghế.
    "Chỉ là chuột cống thôi chứ có gì đâu !" Peter nói trong bóng tối.

    Chương 2
    Mỏ than của Peter
    “Vui chưa !" mẹ nói trong bóng tối, sờ soạng tìm diêm trên bàn. "Lũ chuột nhắt tội nghiệp
    hẳn đã sợ chết khiếp, mẹ không tin đó là chuột cống đâu." Mẹ đánh một que diêm, châm lại nến
    và cả nhà nhìn nhau trong ánh sáng lắt lay.
    "Ồ," mẹ nói, "các con thường muốn có sự kiện xảy ra, bây giờ thì có rồi đấy. Quả là một cuộc
    phiêu lưu, phải không ? Mẹ đã dặn bà Viney chuẩn bị cho chúng ta một ít bánh mì bơ, thịt và
    vài thứ cho bữa tối. Chắc bà ấy dọn lên bàn bên phòng ăn rồi đấy. Nào ta sang đó đi."
    Phòng ăn mở thông sang bếp. Trông nó tối hơn bếp khi họ cầm một ngọn nến bước vào. Bởi
    vì bếp quét vôi trắng, còn phòng ăn ốp gỗ sẫm màu từ sàn đến trần. Chạy suốt trần là những
    thanh xà đen nặng nề. Cả một mê cung hỗn độn đồ đạc phủ bụi - những thứ từ phòng ăn của
    ngôi nhà cũ, nơi chúng đã sống từ khi mới lọt lòng mẹ. Tưởng như đã từ thuở nào, ở nơi xa lắc
    nào.
    Rõ ràng là ở đây có bàn ăn và ghế, nhưng không hề có bữa tối.
    "Chúng ta sẽ xem những phòng khác”, mẹ nói; và họ đi. Phòng nào cũng toàn đồ đạc kê dọn
    dở chừng, que cời lò, gắp than, bát đĩa và đủ thứ linh tinh trên sàn, mỗi đồ ăn là không có.
    Thậm chí trong chạn thức ăn chỉ có một hộp bánh đã gỉ, một cái đĩa vỡ đựng vôi bột.
    "Bà ta tệ thật !" mẹ nói; "bà ta cầm tiền đi thế mà không cho chúng ta chút gì để ăn."
    "Vậy là ta sẽ không có bữa tối ạ ?" Phyllis sững sờ hỏi, bước lùi lại và giẫm ngay phải cái đĩa
    đựng xà phòng làm nó kêu răng rắc.
    "Ồ, có chứ," mẹ nói, "có điều ta phải mở một cái thùng lớn mà ta để ở hầm chứa. Phil, đi cẩn
    thận kẻo vấp. Peter, cầm nến cho mẹ."
    Bếp mở thông xuống hầm chứa. Có năm bậc thang gỗ dẫn xuống. Nó không giống hầm chứa
    chút nào, bọn trẻ nghĩ vậy, bởi vì trần của nó cũng cao như trần bếp. Một giá thịt muối treo
    trên trần. Có củi, và than. Và những cái thùng lớn. Peter cầm nến đứng yên một bên trong khi
    mẹ cố gắng mở một thùng to được đóng đinh rất cẩn thận.
    "Búa đâu hả mẹ ?" Peter hỏi.
    "Đây," mẹ trả lời, "ở trong thùng, chắc thế. Nhưng ta còn có một cái xẻng xúc than và que

    cời lò."
    Mẹ cố mở thùng bằng mấy thứ dụng cụ đó.
    "Để con làm”, Peter đề nghị, nghĩ rằng mình có thể làm tốt hơn. Ai cũng nghĩ thế khi nhìn
    người khác cời bếp, mở hộp hay tháo một nút dây.
    "Mẹ sẽ đau tay mất," Roberta nói; "để con."
    "Giá mà cha ở đây nhỉ” Phyllis nói, "cha sẽ mở trong chớp mắt. Sao chị lại đá em, Bobbie ?"
    "Đâu có," Roberta nói.
    Liền đó cái đinh dài đầu tiên đã bật ra trong tiếng kèn kẹt. Rồi một chốt được gạt lên, một
    chốt nữa, cho đến khi cả bốn cái được gạt lên với đám đinh dài lóe lên đáng sợ như những cái
    răng thép trong ánh nến.
    "Đây rồiiiii," mẹ reo lên, "trước tiên là có nến đã này ! Các con gái, đi châm nến đi. Các con
    tìm mấy cái đĩa đặt nến. Nhớ nhỏ vài giọt nến xuống đĩa thì mới dính vào được."
    "Đốt mấy cây hả mẹ ?"
    "Các con thích đốt bao nhiêu thì đốt," mẹ vui vẻ. "Cái chính là các con vui. Không ai có thể
    vui trong bóng tối trừ bọn cú mèo và chuột sóc."
    Vậy là hai đứa đi châm nến. Que diêm đầu tiên bắt lửa vào ngón tay Phyllis, nhưng, như
    Roberta nói, nó chỉ là một nốt bỏng nhỏ thôi, nếu em là một người La Mã tử vì đạo thì em còn
    bị thiêu cháy nữa cơ, nếu chẳng may em sống vào thời những vụ đó được coi là mốt.
    Khi phòng ăn đã rực sáng nhờ mười bốn ngọn nến, Roberta đi lấy than và gỗ rồi nhóm lò.
    "Tháng Năm rồi mà trời vẫn lạnh thế này," con bé nói y như người lớn.
    Ánh lửa bếp lò và ánh nến làm cho phòng ăn trông khác hẳn. Giờ thì có thể nhận ra trên các
    bức tường ốp gỗ tối màu, đây đó có khắc những vòng nguyệt quế và vòng tròn móc vào nhau.
    Hai đứa con gái vội vã "thu dọn" phòng. Nghĩa là đặt ghế tựa sát tường, xếp các đồ linh tinh
    vào một góc và che kín lại bằng cái ghế bành da lớn cha thường ngồi sau bữa tối.
    "Đâyyyyy !" mẹ reo lên khi bước vào với một khay đầy thức ăn. "Cũng không đến nỗi nào !
    Mẹ sẽ kiếm ngay một cái khăn trải bàn rồi..."
    Khăn trải bàn ở trong một hộp có khóa hẳn hoi, mở bằng chìa chứ không phải bằng xẻng, và
    khăn trải xong thì một bữa ăn thịnh soạn được bày ra.
    Cả nhà đều quá là mệt, nhưng tất cả đều phấn chấn trước bữa tối đầy thức ăn ngon lành. Có
    bánh quy loại Marie và loại thường, cá mòi, mứt gừng, nho khô nấu, mứt vỏ hoa quả và mứt

    cam.
    "Thật may là bác Emma đã gói tất cả đồ ăn còn lại trong chạn cho mẹ con mình," mẹ nói.
    "Phil, không được đặt thìa mứt vào đĩa cá mòi nhé."
    "Không đâu, mẹ," Phyllis nói, vội đặt thìa vào đĩa bánh Marie.
    "Chúng ta sẽ uống chúc sức khỏe bác Emma," Roberta đột ngột lên tiếng; "không có bác gói
    thức ăn cho thì chúng ta biết làm gì chứ ? Vì sức khỏe bác !" Và mọi người cạn chén với rượu
    gừng và nước đựng trong chén trà vẽ hình cây liễu bởi vì không tìm thấy ly đâu.
    Bọn trẻ đều cảm thấy là đã cư xử có phần không phải với bác Emma. Bác không phải là
    người ấm áp đáng yêu như mẹ, nhưng nói đi thì phải nói lại, chính bác là người chu đáo gói hết
    đồ ăn còn lại cho chúng mang đi.
    Cũng chính bác Emma là người đã hong khô khăn trải giường cho chuyến đến nơi ở mới, và
    cánh thợ chuyển đồ đã đặt các khung giường vào cùng một chỗ, nhờ đó lắp lại giường cũng
    nhanh.
    "Chúc ngủ ngon, đàn gà con của mẹ," mẹ nói. "Mẹ chắc là không có chuột. Nhưng mẹ sẽ để
    cửa phòng mẹ mở, nếu có chuột thì các con chỉ cần hét lên, mẹ sẽ vào nói cho nó biết mẹ nghĩ
    gì về nó."
    Sau đó mẹ vào phòng mình. Roberta thức đến lúc nghe thấy chuông đồng hồ điểm hai tiếng.
    Âm thanh như là tiếng đồng hồ nhà thờ ở đâu đó rất xa vọng lại, nó luôn luôn nghĩ thế. Và nó
    cũng nghe thấy mẹ vẫn còn đi lại trong phòng bà.
    Sáng hôm sau Roberta đánh thức Phyllis bằng cách kéo nhẹ tóc em, nhưng cũng đủ mạnh
    để đạt được mục đích.
    "Co...ó...gi...i...ì...a...à ?," Phyllis hỏi, vẫn chìm trong giấc ngủ.
    "Dậy đi ! Dậy đi !" Roberta giục. "Bọn mình đang ở nhà mới, em nhớ chưa ? Không có người
    giúp việc gì hết. Nào, dậy mà bắt đầu ngoan đi. Bọn mình sẽ đi xuống êm như chuột và làm mọi
    việc đâu vào đấy trước khi mẹ dậy. Chị đã đánh thức Peter. Mình mặc quần áo xong là Peter
    cũng xong đấy."
    Thế là chúng mặc quần áo, lặng lẽ, nhanh chóng. Hiển nhiên là không có nước trong phòng,
    nên chúng xuống dưới rửa ráy trong chừng mực chúng cho là cần thiết dưới vòi nước của cái
    bơm tay trong sân. Đứa này bơm cho đứa kia rửa. Bắn tung tóe nhưng thú vị.
    "Còn thích hơn là rửa bồn," Roberta nói. "Cỏ len lên giữa các tảng đá này, rêu trên mái nhà
    mới lấp lánh chưa kìa, ôi lại còn cả hoa nữa."

    Mái của gian bếp dốc xuống khá thấp. Trên mái lợp rạ, có rêu mọc, có hoa đá cạn trắng, hoa
    quế trúc, thậm chí cả một lùm hoa cờ tía ở góc đằng kia.
    "Ở đây đẹp hơn hơn hơn rất nhiều biệt thự ở Edgecombe," Phyllis trầm trồ. "Không biết
    vườn trông thế nào nhỉ ?"
    "Giờ chưa phải lúc nghĩ đến vườn đâu," Roberta nói với quyết tâm mạnh mẽ. "Vào nhà bắt
    đầu công việc thôi."
    Bọn trẻ đốt bếp lò và đặt ấm nước, rồi chúng sắp xếp bát đĩa cho bữa sáng. Chúng không
    tìm thấy những đồ vật cần thiết nên gạt tàn thủy tinh biến thành lọ đựng...
     
    Gửi ý kiến