Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1
CHÂM NGÔN HAY
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Người bán hàng vĩ đại nhất thế giới

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 09h:28' 19-03-2024
Dung lượng: 479.1 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 09h:28' 19-03-2024
Dung lượng: 479.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NGƯỜI BÁN HÀNG VĨ ĐẠI NHẤT THẾ GIỚI
(Ấn bản lần thứ tư có sửa chữa hoàn thiện)
OG MANDINO
Người dịch: THÁI HÙNG TÂM
Ngay cả lời nói của Thượng đế
cũng cần phải bán được cho con người để họ có thể lắng nghe
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Tác giả: OG MANDINO
Người dịch: Thái Hùng Tâm
Nhà xuất bản: Tp. Hồ Chí Minh
Số trang: 128
--------------------Nguồn: MBook
Chuyển sang ebook: Venus (TVE)
Ngày hoàn thành: 8/7/2006
Chương I
Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V
Chương VI
Chương VII
Chương VIII
Cuộn thứ nhất
Chương IX
Cuộn thứ hai
Chương X
Cuộn thứ ba
Chương XI
Cuộn thứ tư
Chương XII
Cuộn thứ năm
Chương XIII
Cuộn thứ sáu
Chương XIV
Cuộn thứ 7
Chương XV
Cuộn thứ 8
Chương XVI
Cuộn thứ 9
Chương XVII
Cuộn thứ 10
Chương XVIII
ĐOẠN KẾT
Một vài suy nghĩ,
Tất cả chúng ta, ai cũng đều đang rao bán một thứ gì đó trong mọi lúc của cuộc sống. Là một tu sĩ,
chúng ta đang rao bán niềm tin của chúng ta về thương đế. Là một nhà giáo, chúng ta đang rao bán
kiến thức của mình về khoa học. Là một nhà chính trị, chúng ta đang rao bán chính kiến của mình về
một xã hội. Và là một con người chúng ta đang rao bán tình yêu của chúng ta đối với mọi người quanh
ta.
Một ý nghĩ có vẻ quá thực dụng nhưng lại là một thực tế mà chúng ta thường vẫn luôn tránh né,
một cách vô thức, chẳng muốn nhìn nhận.
Nếu chúng ta chấp nhận bán hàng là một hành động phục vụ, chúng ta sẽ nhận ra những hàm ý
thực sự cao đẹp và đáng trọng của hai từ này. Nếu chúng ta thực tâm hiểu ra và tôn trọng hai từ này, ai
trong chúng cũng có thể trở thành một người bán hàng vĩ đại nhất thế giới này.
“The Greatest Salesman in the World” là một cuốn sách tuyệt vời đã từng được con người viết ra.
Cuốn “Người Bán hàng Vĩ đại Nhất Thế giới” này là một cuốn sách mà những thông điệp ẩn mật đáng
trân trọng của nó thường bị bỏ quên bởi chính cái tên của cuốn sách.
Chúng ta cần phải hiểu hai chữ bán hàng được nói ở đây có nghĩa rộng hơn nhiều chứ không chỉ là
công việc bán hàng bình thường như mọi người ngầm hiểu.
Og Mandino là một tác già sách 'self help' (tự thân cải tiến) nổi tiếng chứ không phải một tác giả
sách marketing. Chính vì lý do này mà chúng ta cần phải hiểu đây không thể là một cuốn sách về một
ý thức hay những phương pháp bán hàng một cách đơn thuần.
Theo ý của tác giả Og Mandino thì đây là một cuốn sách mượn công việc bán hàng để nói đến một
phong cách sống phục vụ sẽ đưa ta đạt đến những thành công to lớn trong cuộc sống và nếu có, thì
quan trọng hơn nữa là –cảm nhận niềm hạnh phúc của việc “được sống” một cách độc lập và tự do
trong giới hạn của TÌNH YÊU.
Thái Hùng Tâm
hungmbook@gmail.com
Chương I
Hafid nghiêng người trước tấm gương đồng sáng bóng, chăm chú quan sát gương mặt của mình
phản chiếu trên đó.
“Chỉ có đôi mắt là còn phản ảnh tuổi trẻ,”ông tự nói với mình và rồi quay ra đi chầm chậm dọc
theo hành lang dài bằng đá cẩm thạch xanh biếc. Hafid đi giữa hai hàng cột đá đen bóng vươn lên đỡ
lấy vòm mái trang trí lộng lẫy với hoa văn bằng bạc và vàng, đôi chân nặng nề vì tuổi tác đưa ông đi
qua những chiếc bàn gỗ bách chạm khảm với ngà voi.
Khắp nơi, trên tường, trên các ghế dài, phản gỗ đều được trổ khảm bằng các loại vỏ trai sò quý
hiếm điểm xuyết bằng đá quý thành hình các hoa văn tuyệt mỹ. Những cây cọ lớn vươn lên từ một hồ
nước đáy bọc đồng với những vòi nước tạo hình các dã thần cũng được cẩn đầy đá quý. Không một ai
khi đến lâu đài của Hafid lại có thể nghi ngờ gì về sự giàu có quá mức của ông ta.
Người đàn ông già bước qua khu vườn trong nhà, đi vào khu nhà kho rộng lớn. Erasmus, người
quản lý đã chờ sẵn ở ngay lối vào.
“Chào mừng ông, ông chủ.”
Hafid gật đầu, vẫn tiếp tục bước đi. Erasmus đi theo, mặt không hề biểu lộ chút cảm xúc hay thắc
mắc nào về việc gặp mặt ông chủ của mình tại nơi này, vào lúc này. Hafid ngừng lại nhìn những dẫy
hàng hoá được xếp thành từng hàng thứ tự.
Nào là len, tơ lụa, mật, da thuộc, thảm và dầu thơm từ Trung Đông; thủy tinh, chà là, cọ dầu, hạt
dẻ từ Damacus - quê hương của ông ; vải vóc, thuốc men từ Palmyra ; gừng, quế, đá quý từ Ả Rập ;
bắp, giấy, đá hoa cương, đá trắng, đá xanh, đá đỏ từ Ai Cập ; tấm trải từ Babylon ; tranh từ La Mã và
tượng từ Hy Lạp. Mùi của hạt dẻ ngập tràn trong không khí và cái mũi già nua nhưng vẫn nhạy cảm
của Hafid còn phân biệt được cả sự hiện diện của mùi táo, bơ và gừng.
Cuối cùng ông ta quay lại với Erasmus.”Ông bạn già, tài sản của ta tính ra là bao nhiêu tiền vàng?”
Erasmus nói, mặt hơi xanh: “Tất cả ư, thưa ông.”
“Tất cả”
“Tôi chưa kiểm tra số liệu mới đây nhưng tôi biết là có hơn 7 triệu đồng vàng, thưa ông.”
“Cộng với tất cả hàng hoá ở khắp các cửa hàng và kho ở các nơi thì sẽ là bao nhiêu nữa?”
“Mùa bán hàng năm nay vẫn chưa hoàn tất nhưng tôi tính là ít nhất cũng thêm 3 triệu nữa.”
Hafid gật đầu,”Không mua thêm hàng nữa. Hãy lên một kế hoạch để bán hết mọi thứ còn lại và
chuyển tất cả thành vàng.”
Người quản lý há hốc miệng, không nói được tiếng nào. Ông ta hơi lùi ra sau sửng sốt và cuối
cùng cũng mở miệng, ông ta nói một cách cố gắng.
“Tôi không hiểu, thưa ông. Năm nay đang là năm lợi nhuận tốt nhất của chúng ta. Sức bán ra của
tất cả các cửa hàng đều vượt trội hơn năm ngoái. Ngay cả cư dân của các lãnh địa của La Mã cũng đã
trở thành khách hàng của chúng ta. Xin ông thứ lỗi cho sự chậm chạp của tôi, nhưng tôi không thể
hiểu được lý do của mệnh lệnh này.”
Hafid cười, nắm lấy tay của Erasmus thân mật.
“Người bạn tin tưởng của tôi ơi ! Ông có nhớ cái mệnh lệnh đầu tiên mà tôi đã ra cho ông khi ông
mới vào làm việc với tôi từ nhiều năm trước không?”
Erasmus hơi cau mày lại và rồi như bừng tỉnh.”Tôi được lệnh của ông là trích ra hàng năm một
nửa số lợi nhuận để phân phát cho người nghèo.”
“Ông đã không cho tôi là một người khùng trong kinh doanh vào lúc đó sao?”
“Tôi đã hết sức lo phiền khi đó, thưa ông.”
Hafid gật đầu,”Và ông đã nhận thấy là sự lo phiền của ông là vô căn cứ?”
“Vâng, thưa ông.”
“Hãy tin vào tôi ông bạn già, cứ thi hành các quyết định của tôi cho đến khi tôi giải thích rõ ràng
với ông. Tôi lúc này chỉ là một ông già và các nhu cầu của tôi cũng đơn giản. Kể từ ngày Lisha yêu
dấu của tôi mất đi sau nhiều năm hạnh phúc, tôi chỉ mong muốn được phân phát hết tài sản của tôi cho
những người còn thiếu thốn trên thế giới này. Tôi chỉ giữ lại vừa đủ cho mình để có thể sống yên cho
đến hết quãng đời còn lại. Erasmus này, ngoài việc chuyển đổi thành vàng các hàng hóa còn lại của
tôi, ông hãy sửa soạn giấy tờ để chuyển giao các cửa hàng cho những ai đang quản lý chúng. Tôi cũng
muốn ông hãy phát cho những người quản lý này, mỗi người 5 ngàn đồng vàng như là một phần
thưởng cho những năm tận tuỵ vì tôi và cũng để họ có thể tiếp tục việc buôn bán theo như ý họ muốn.”
Erasmus định nói nhưng Hafid giơ tay lên ngăn lại.
“Những mệnh lệnh này làm ông phiền lòng sao?”
Người quản lý già lắc đầu, cố gắng mỉm cười. “Không, thưa ông, tôi chỉ không thể hiểu nổi lý lẽ
của ông. Ông nói cứ như là những ngày còn lại của ông có thể đếm được.”
“Đúng là tính tình của ông, ông bạn già. Sự lo phiền của ông là vì tôi chứ không hề vì bản thân
mình. Ông không nghĩ một chút nào đến bản thân ông sao, nếu thương quốc của chúng ta không còn
nữa?”
“Ông đã coi tôi như một người bạn từ bao nhiêu năm nay, làm sao tôi có thể chỉ nghĩ đến mình
thưa ông?”
Hafid ôm lấy người bạn già, nói: “Không cần phải vậy đâu. Tôi yêu cầu ông lập tức chuyển 50.000
đồng vàng sang cho chính ông và hãy ở lại với tôi cho đến khi nào lời hứa mà tôi đã tự hứa với mình
từ lâu được thực hiện. Khi lời hứa này hoàn tất, tôi sẽ chuyển giao lại toà lâu đài và kho hàng này lại
cho ông để tôi có thể sẵn sàng gặp lại Lisha yêu quí của tôi.”
Erasmus chăm chú nhìn chủ nhân của mình, không tài nào hiểu hết những gì vừa nghe.
“50.000 đồng vàng, toà lâu đài và kho hàng... tôi không đủ sức đâu...”
Hafid gật đầu: “Tôi luôn đánh giá cao tình bạn mà ông dành cho tôi và xem nó là quí nhất. Những
gì mà tôi trao cho ông chỉ là một phần rất nhỏ nhoi so với lòng trung thành bền bỉ của ông đối với tôi.
Ông đã hoàn thiện các nghệ thuật sống không phải chỉ cho mình, mà còn cho cả người khác nữa, điểm
quan tâm này được đánh giá cao hơn tất cả. Bây giờ tôi yêu cầu ông hãy hết lòng với những mệnh lệnh
của tôi. Thời gian là cái quí giá duy nhất mà tôi còn lại, và chúng chỉ còn ít lắm.”
Erasmus quay mặt đi dể che giấu những giọt nước mắt đã trào ra. Ông ta nói, giọng như vỡ ra:
“Vậy lời hứa mà ông nói đó là lời hứa gì? Mặc dù chúng ta đã sống như là anh em một nhà nhưng tôi
chưa hề được nghe ông nói đến.”
Hafid khoanh tay cười, nói: “Tôi sẽ gặp lại ông bạn khi nhiệm vụ cuối cùng này của ông đã hoàn
tất. Và tôi sẽ cho ông biết cái bí mật đó, điều mà tôi chưa từng chia xẻ với một ai ngoài người vợ yêu
dấu của tôi, từ hơn 30 năm qua.”
***
Chương II
Và rồi thật nhanh chóng, một đoàn xe được bảo vệ nghiêm ngặt rời khỏi Damascus mang theo các
giấy chứng nhận chủ quyền và vàng đến cho những ai đang quản lý các cửa hàng của thương quốc
Hafid. Từ Obed ở Joppa đến Reuel ở Petra, từng người quản lý một đều nhận được lời giã biệt và tặng
vật của Hafid trong sự im lặng đến mức sững sờ. Cuối cùng, khi đến cửa hàng ở Autipatris, nhiệm vụ
được giao của Eramus đã hoàn tất.
Thương quốc mạnh mẽ và rộng lớn nhất một thời đã không còn tồn tại nữa.
Trái tim nặng trĩu, Eramus báo về cho ông chủ của mình biết là các kho hàng nay đã hoàn toàn
trống rỗng và các cửa hàng một thời là niềm tự hào của Hafid nay đã không còn nữa. Người đưa tin trở
lại với yêu cầu của Hafid. Eramus nhanh chóng trở về và gặp lại chủ nhân của mình bên hồ nước trong
lâu đài.
Khi gặp lại, Hafid quan sát nét mặt của người quản lý già:
“Mọi việc đã xong?”
“Vâng thưa ông, đã xong.”
“Đừng đau khổ, ông bạn. Hãy theo tôi.”
Chỉ có tiếng bước chân của họ dội lên trong căn phòng rộng lớn, trống rỗng khi Hafid dẫn Eramus
dọc theo lối đi bằng cẩm thạch xanh dẫn ra phía sau. Đôi khi bước chân của Hafid chậm lại khi đi
ngang qua những bình hoa trống rỗng, cô đơn trên các chân đế bằng gỗ cam cao nghệu và ông mỉm
cười khi nhìn thấy những tia nắng đang làm cho màu của thuỷ tinh chuyển từ trắng thành tím nhạt.
Rồi 2 người bạn già bắt đầu leo lên những bực thang dẫn đến một căn phòng nằm ngay bên dưới
mái vòm của lâu đài. Erasmus nhận thấy những người canh gác vẫn thường hiện diện ở đây trong bao
năm qua nay không còn nữa. Hai người lên đến tầng giữa, họ tạm ngừng để lấy lại hơi thở đã mất vì
những bậc thang quá dài, rồi lại tiếp tục leo lên tầng hai trong im lặng. Đến trước một khung cửa,
Hafid lấy ra một cái chìa khoá nhỏ vẫn đeo nơi lưng quần và mở cánh cửa bằng gỗ sồi nặng trịch ra.
Ông nghiêng người đẩy cánh cửa mở ra một cách khó khăn và bước vào. Erasmus chần chừ cho đến
khi ông chủ của mình yêu cầu ông bước vào, Erasmus thận trọng bước vào trong căn phòng mà từ hơn
30 năm qua chưa từng một ai được cho phép bước vào.
Ánh sáng mờ nhạt len vào từ những khe hở chung quanh mái vòm ở bên trên, Erasmus nắm chặt
lấy tay chủ nhân của mình cho đến khi đôi mắt dần quen đi với ánh sáng tù mù trong căn phòng bí mật
đó. Với một nụ cười mơ hồ, Hafid nhìn người bạn trung thành của mình đang chậm chạp nhìn quanh
căn phòng trống rỗng. Chỉ có một cái rương nhỏ thấp thoáng phản chiếu ánh sáng nằm ở một góc
phòng.
“Bạn cảm thấy thấy thất vọng ư, Erasmus?.”
“Tôi không biết nói gì, thưa ông.”
“Ông không thất vọng vì mọi thứ ở đây ư, ông bạn già. Chắc chắn là những gì chứa chất trong căn
phòng này là một trong những bí mật đối với mọi người đã từng làm việc với tôi. Ông không thắc mắc
hay quan tâm gì đến những gì được cất giấu ở đây dưới sự canh gác cẩn mật bao lâu nay sao?”
Erasmus gật đầu: “Thực sự là có. Đã có rất nhiều lời đồn đại trong nhiều năm nay về những bí mật
được cất giữ tại đây, thưa ông.”
“Đúng vậy ông bạn. Và tôi đã từng nghe hầu hết những câu chuyện đồn đại đó. Nào là những
thùng kim cương được giấu ở đây, những thỏi vàng hay thậm chí thú hoang hay chim quý được cất giữ
tại nơi này. Có lần một tay lái buôn ở vịnh Persik còn cho rằng có thể tôi đang cất giấu một nàng hầu
trẻ đẹp tại đây. Lisha đã cười với cái ý nghĩ rằng tôi có thể sưu tầm các cô nhân tình trẻ đẹp. Nhưng
bạn ơi, ông thấy đó, chẳng có gì ở đây ngoại trừ cái rương nhỏ đó. Nào bây giờ hãy đến đây.”
Hai người đàn ông cúi xuống bên chiếc rương nhỏ và Hafid từ tốn gỡ những dây da buộc quanh
chiếc rương bí mật đó. Ông ta hít sâu vào mùi gỗ cũ ẩm của chiếc rương và cuối cùng ông mở nắp
rương lên. Erasmus nghiêng người nhìn qua vai ông Hafid để xem xem có gì trong chiếc rương nhỏ
đó. Bên trong chiếc rương chỉ có những cuộn tròn tròn... những cuộn tròn bằng da cũ kỹ.
Hafid lấy ra một cuộn da. Ông nhắm mắt lại ôm cuộn da vào ngực trong chốc lát. Một sự an bình
lặng lẽ ánh lên trên gương mặt của ông như làm biến đi những nếp nhăn của tuổi tác. Rồi Hafid đứng
thẳng dậy với cuộn da trước ngực.
“Căn phòng này có chấp chiếu hào quang của đá quí không? Không có gì cả, gía trị của nó ở ngay
trước mắt bạn trong chiếc rương gỗ đơn giản này. Mọi thành công, hạnh phúc, tình yêu, tự do trong tư
tưởng và giầu có mà tôi đã vui hưởng đều đến trực tiếp từ những gì chứa đựng ở đây, trong những
cuộn da này. Và tôi nợ chúng cũng như con người khôn ngoan đã tin tưởng và trao chúng cho tôi gìn
giữ, một món nợ mà đến giờ tôi vẫn chưa trả được.”
Rung động bởi giọng điệu của Hafid, Erasmus hơi lùi lại: “Có phải đây là điều bí mật mà ông đã
nhắc đến? Có phải chiếc rương có quan hệ đến lời thề mà ông đã hứa?”
“Câu trả lời là 'đúng', cho cả hai câu hỏi của ông.”
Erasmus lau cái trán rịn mồ hôi của mình, nhìn Hafid một cách ngờ vực: “Điều gì ẩn giấu trong
những cuộn da đó mà giá trị của nó còn cao hơn cả kim cương, vàng bạc?”
“Ngoại trừ 1 cuộn, còn lại tất cả đều chứa đựng những nguyên tắc, luật lệ hay sự thật căn bản được
viết theo một cách để giúp người đọc hiểu rõ hơn nữa những gì ẩn kín giữa hai dòng chữ của chúng.
Để trở thành một bậc thầy trong nghệ thuật bán hàng, một người phải học và thực hành những nguyên
tắc được ghi lại ở đây và người đó sẽ có được khả năng để gom góp lấy mọi tài sản trên thế gian này
mà hắn ta mong muốn.”
Erasmus nhìn vào những cuộn da, vẻ không mấy tin tưởng: “Ngay cả giàu có như ông ư, thưa ông”
“Còn hơn là giàu có nữa, nếu hắn ta muốn.”
“Ông đã nói, tất cả những cuộn da này đều ghi nhận những nguyên tắc bán hàng, ngoại trừ một
cuộn. Vậy cuộn da đó có những gì trong đó thưa ông?”
“Cuộn da cuối cùng đó, ông bạn có thể gọi nó như vậy, chính là cuộn đầu tiên cần phải đọc. Các
cuộn còn lại đều được đánh số tiếp, theo thứ tự. Cuộn đầu tiên này chứa đựng một bí mật mà chỉ
những ai thật sự khôn ngoan và được chọn. Cuộn da này, thật sự chỉ dạy cho người ta cái cách hiệu
qủa nhất để học và hiểu sâu hơn nữa những gì được viết trong những cuộn da còn lại.”
“Nó có vẻ như là một nhiệm vụ mà bất cứ ai cũng có thể hoàn thành.”
“Quả thế, một nhiệm vụ đơn giản dành cho những ai thật sự ham muốn đạt đến sự hoàn hảo.
Những ai thực lòng nỗ lực chỉ cần trả giá bằng thời gian và sự tập trung cao độ cho đến khi từng
nguyên tắc một trở thành cá tính của người đó, cho đến khi từng nguyên tắc một trở thành một thói
quen trong cuộc sống của người đó.”
Erasmus lại bên chiếc rương, lấy ra một cuộn da. Ông ta cầm nó một cách cẩn trọng trong tay:
“Xin tha lỗi cho tôi, thưa ông, nhưng tại sao ông không chia sẽ những nguyên tắc này cho người khác,
cho những ai đã làm việc lâu năm trong thương quốc của ông? Ông vẫn luôn chứng tỏ sự hào phóng
trong mọi việc, vậy tại sao những người bán hàng cho ông lại không nhận được cơ hội để học những
nguyên tắc này và từ đó cũng trở nên giàu có? Và hơn nữa, không tốt hơn sao nếu mọi người đều có
thể trở thành một người bán hàng tốt hơn với những hiểu biết giá trị này? Tại sao ông lại giữ lấy những
nguyên tắc này cho riêng mình trong bao năm qua?”
“Tôi không được phép lựa chọn. Nhiều năm trước khi tôi được tin tưởng giao phó những cuộn da
này, tôi đã lập một lời thề là sẽ chia sẽ chúng với chỉ một người mà thôi. Đến nay tôi vẫn chưa hiểu
được tại sao lại có yêu cầu này. Dù sao thì tôi cũng được yêu cầu hãy áp dụng những nguyên tắc này
cho riêng mình. Cho đến một ngày, có một người sẽ cần đến sự trợ giúp còn hơn là tôi đã từng cần đến
ngày xưa, một người chưa từng biết đến sự hiện hữu của những cuộn da này ở trên đời. Tôi sẽ được
hướng dẫn qua một dấu hiệu nào đó để nhận ra người này, và tôi sẽ trao những cuộn da này lại cho
người đó.
“Tôi đã kiên nhẫn đợi chờ và trong khi chờ đợi, tôi áp dụng và thực hành những nguyên tắc này
như đã được cho phép. Và với những hiểu biết từ những cuộn da này tôi đã trở thành một người bán
hàng mà nhiều người gọi là “Người bán hàng vĩ đại nhất thế giới”, cũng như người đã trao lại cho tôi
những cuộn da này đã một thời từng được tôn xưng. Lúc này, ông bạn già, có thể ông đã hiểu tại sao
một số quyết định của tôi trong những năm qua có vẻ như khù khờ và vô ích nhưng lại đã chứng tỏ
thành công. Các hành động và quyết định của tôi luôn được hướng dẫn bởi những nguyên tắc được ghi
nhận trong các cuộn da này. Vì vậy, không phải sự khôn ngoan của tôi đã mang lại tất cả sự giàu có
này, tôi cũng chỉ là một công cụ để hoàn thành một công việc nào đó như mọi người mà thôi.
“Erasmus này, ông vẫn còn tin là sẽ có một người rồi sẽ xuất hiện để nhận lấy những cuộn da này
sau những năm dài như vậy chứ?...”
“Vâng, thưa ông, tôi tin”
Hafid chậm rãi xếp lại những cuộn da và đóng nắp rương lại. Ông nói nhỏ khi vẫn đang quì trước
rương:
“Ông sẽ vẫn ở lại với tôi cho đến cái ngày đó chứ, ông bạn già Erasmus?”
Erasmus lặng lẽ với tay nắm lấy tay chủ nhân mình siết nhẹ, gật đầu. Ông ta rời khỏi phòng trong
im lặng với yêu cầu không được nói ra với bất cứ một ai từ Hafid. Người bán hàng vĩ đại nhất thế giới
của một thời ràng lại các đai da chung quanh chiếc rương rồi đứng dậy đi về phía một mái vòm nhỏ.
Ông đi qua đó, ra ngoài hàng hiên bao quanh mái vòm.
Một làn gió nhẹ từ phương đông thổi lại, táp vào mặt của Hafid, mang theo hương vị của những hồ
nước mặn và sa mạc bỏng cháy ngoài xa kia. Ông mỉm cười, đứng trên mái vòm cao nhất của thành
Damascus và tâm trí của ông quay lại với nhiều năm trước...
***
Chương III
Lúc này là mùa Đông và cái giá lạnh như càng rét buốt hơn trên đỉnh ngọn đồi của những cây Ôliu. Từ Jerusalem, xuyên qua hẻm núi hẹp của thung lũng Kidron, thoảng đến mùi khói, nhang và cả
thịt da cháy khét từ một đền thờ đâu đây gần đó. Trên một sườn đồi thấp hơn một khoảng so với làng
Bethpage, đoàn thương hành của ông Pathros thành Palmyra đang dừng chân tại đó. Lúc này đã trể và
ngay cả những con lạc đà cũng đã thôi không nhai những cành hồ trăn nữa mà nằm xuống nghỉ yên
bên những bụi nguyệt quế mềm mại.
Bên dãy lều bạt lặng lẽ, những bụi gai dầu quây quanh bốn cây ô liu cổ thụ tạo thành một hàng rào
vây lấy đám lạc đà đang chen chúc vào nhau tìm hơi ấm. Ngoại trừ hai người canh gác đang đi dọc
theo những dãy xe hàng, chỉ còn có bóng của một người cao lớn là còn chuyển động in lên nền bạt da
dê chiếc lều lớn của ông chủ Pathros.
Bên trong, ông Pathros đang đi lại đầy giận giữ, chốc chốc chau mày dừng lại lúc lắc cái đầu với
cậu thanh niên đang quỳ ngay lối vào của căn lều. Cuối cùng ông ngồi xuống và vẫy cậu trai đến gần.
“Hafid, lúc nào ta cũng đối xử tốt với ngươi. Ta hoàn toàn bất ngờ và không tin nổi cái yêu cầu lạ
lùng của ngươi. Mi không hài lòng với công việc của mi sao?”
Cậu trai chỉ cúi nhìn xuống đất, không dám ngẩng đầu dậy: “Không đâu, thưa ông.”
Ông Pathros nhìn cậu thanh niên chăm chú: “Hay là đoàn lạc đà của ta tăng lên quá nhanh làm
nhiệm vụ của ngươi trở nên quá nặng.”
“Không phải vậy, thưa ông.”
“Vậy hãy nhắc lại rõ ràng yêu cầu của ngươi một lần nữa, cả những lý do dẫn đến yêu cầu bất
thường đó nữa.”
“Đó chỉ là lòng ham muốn của con, được trở thành người bán hàng cho ông thay vì chỉ là một
người chăm sóc lạc đà. Con mong muốn trở thành một người bán hàng như Hadad, Simon, Caled và
những người khác, ra đi với đoàn xe nặng trĩu hàng hoá và trở về với những đồng tiền vàng cho ông và
cả cho họ nữa. Con muốn cải thiện vị trí của mình trong đời sống. Là một người chăn lạc đà con sẽ
chẳng là gì cả, nhưng là một người bán hàng cho ông con có thể đạt được nhiều hơn. Con sẽ có thể
giàu có và đạt được thành công.”
“Làm sao ngươi biết như vậy?.”
“Con vẫn thường nghe ông nói, không một nghề nghiệp hay việc buôn bán nào mang lại nhiều cơ
hội hơn để một người từ nghèo khó trở nên giàu có cho bằng làm người bán hàng.”
Ông Pathros bắt đầu gật đầu, nhưng ông nghĩ tốt hơn nên tiếp tục tra vấn cậu thanh niên: “thế
ngươi có tin là ngươi có đủ khả năng để làm việc như Hadad hay những người khác không?”
Hafid ngẩng lên nhìn ông chủ của mình nói: “Rất nhiều lần con nghe thấy Caled phàn nàn với ông
về sự không may của ông ta khi không bán được hàng, và cũng đã nhiều lần con nghe ông nhắc nhở
Caled rằng bất cứ ai cũng có thể bán mọi thứ trong kho hàng của ông trong một khoảng thời gian nếu
áp dụng chặt chẽ những nguyên tắc và luật lệ của việc bán hàng. Nếu ông có thể tin là Caled, người mà
ai cũng cho là khờ khạo, có thể học được những nguyên tắc ấy thì tại sao con lại không thể học được
những hiểu biết đó?”
“Nếu ngươi tin là mình có thể thấm nhuần những nguyên tắc đó, vậy đâu là mục đích của… con
trong đời sống?” Ông Pathros bắt đầu thay đổi giọng điệu.
Hafid hơi chần chừ chốc lát rồi nói: “Việc ông là một người bán hàng vĩ đại nhất thế giới đã được
rao truyền trên khắp miền đất này. Cả thế giới này chưa bao giờ có một vương quốc buôn bán nào rộng
lớn như thương quốc mà ông đã tạo dựng nên sau bao năm buôn bán. Khát vọng của con là trở thành
còn vĩ đại hơn cả ông nữa, người giàu có nhất, và là người bán hàng vĩ đại nhất trên toàn thế giới này.”
Ông Pathros ngả người ra sau quan sát khuôn mặt trẻ trung của cậu bé. Mùi của các con lạc đà vẫn
còn đượm trên quần áo của cậu nhưng chỉ có một chút ngại ngùng ẩn hiện trong phong thái.
“Vậy rồi con sẽ làm gì với tất cả những thứ đó và với quyền lực đáng sợ chắc chắn là luôn đi theo
cùng với sự giầu có đó?”
“Con sẽ làm như ông đã làm. Gia đình con sẽ được cung cấp đầy đủ với những vật dụng tốt nhất và
phần còn lại con sẽ chia sẽ với những ai đang còn thiếu thốn.”
Ông Pathros nhẹ lắc đầu: “Sự giàu có, con ơi, không bao giờ nên là mục đích của con người trong
đời sống. Con nói rất trôi chảy nhưng chúng chỉ là từ ngữ. Sự giàu có thực sự là ở trong trái tim của
con chứ không phải ở túi tiền.”
Hafid chống chế: “Không lẽ ông không giàu hay sao, thưa ông?”
Người đàn ông cười vì sự ương ngạnh của cậu bé: “Hafid ạ! Còn nhiều điều để quan tâm hơn là chỉ
sự giàu có vật chất, ở đây chỉ có một sự khác biệt giữa ta trong lâu đài Herod và tên ăn mày hạng bét lê
lết ngoài đường. Tên ăn mày chỉ nghĩ đến bữa ăn sắp tới, còn ta thì chỉ nghĩ đến bữa ăn cuối cùng.
Không, con trai ơi, đừng khát vọng chỉ vì sự giàu có và cố sức lao động cật lực để được giàu sang.
Thay vì vậy, hãy nổ lực vì hạnh phúc, để yêu người và được người yêu. Quan trọng hơn hết là đạt đến
sự an bình trong tâm tưởng và tĩnh lặng trong suy nghĩ.”
Hafid tiếp tục phản ứng: “Nhưng những điều này không thể đạt được nếu không có vàng. Ai lại có
thể sống an bình trong tư tưởng một khi nghèo khổ? Làm sao một người có thể hạnh phúc khi bụng
đói? Làm sao có thể bày tỏ tình yêu với gia đình khi mình không thể nuôi nấng được vợ con? Ông đã
từng nói, sự giàu có là tốt khi nó đem lại niềm vui cho người khác. Vậy sao mong muốn được giàu có
của con lại là không tốt? Sự nghèo khó có thể là chứng nhân hay một cách sống chỉ dành cho một nhà
tu hành trong sa mạc, vì ông ta chỉ có mỗi một Chúa của ông ta để mà phụng sự. Nhưng con, con cho
rằng sự nghèo khó là dấu chỉ cho sự yếu kém của năng lực cũng như khát vọng. Con không phải là
người thiếu những phẩm chất đó.”
Ông Pathros cau mày: “Điều gì đã khiến con nẩy lên những khát vọng bất ngờ đó? Con nói về việc
nuôi nấng một gia đình, nhưng con chưa có gia đình mà? Con đã không còn gia đình riêng của con nữa
kể từ khi trận dịch năm đó cướp mất cha mẹ của con đi, và ta đã nhận nuôi con từ đó.”
Nước da sạm nắng của Hafid cũng không thể nào che giấu được màu hồng đang ửng lên trên hai
gò má: “Khi chúng ta dựng trại ở Hebron trước khi lên đường, con đã... đã gặp con gái của Calneh ở
đó... cô ta...cô...”
“À...à... sự thật là như vậy đó.” Ông Pathros ngắt ngang. “Tình yêu chứ không phải các lý tưởng
sang giầu đã chuyển người chăm sóc lạc đà của ta thành một chiến binh sẵn sàng đương đầu với cả thế
giới. Calneh thực sự là một người giàu có. Con gái ông ta với 1 tên chăn lạc đà ư?... Không bao giờ!
Nhưng con gái của ông ta với một lái buôn trẻ, đẹp trai, giàu có lại là một vấn đề khác hẳn. Tốt thôi,
chàng chiến binh trẻ của ta. Ta sẽ giúp con bắt đầu nghề nghiệp của con, một người bán hàng.”
Chàng thiếu niên sụp xuống chân ông Pathros, nắm lấy gấu áo của ông ta: “Ôi, thưa ông. Con
không biết nói gì để cảm ơn ông nữa.”
Ông Pathros gỡ tay chàng trai trẻ ra, bước lùi lại: “Hãy giữ lại những lời cảm ơn đó, con trai.
Những gì ta sẽ cho con chỉ là những hạt cát so với những ngọn núi mà con sẽ phải tự mình giành lấy.”
Niềm vui của Hafid bị chặn lại, cậu ngập ngừng: “Thế ông sẽ không dạy con những nguyên tắc và
luật lệ để con trở thành người bán hàng vĩ đại hay sao?”
“Không đâu. Sẽ không hơn những gì ta đã làm cho tuổi trẻ của con được yên ổn thong dong bằng
những lời dỗ ngọt. Ta đã từng bị chỉ trích vì để con nuôi của mình làm người chăn lạc đà nhưng ta đã
nghĩ rằng nếu ngọn lửa đúng đắn bùng cháy trong con thì nó sẽ nhấn chìm hết những lời dị nghị đó...
Và một khi nó thực sự bùng cháy, con sẽ là người đàn ông đã trưởng thành từ những năm tháng khó
nhọc. Tối nay, yêu cầu của con đã khiến ta cảm thấy hạnh phúc vì ngọn lửa khát vọng lấp loé trong
mắt và gương mặt con rạng rỡ vì ham muốn. Điều này là tốt và quyết định của ta cũng đã được chứng
tỏ nhưng con, con vẫn cần phải chứng minh, còn những gì nữa sau lời nói của con chứ không chỉ là
không khí.”
Hafid im lặng và người đàn ông già tiếp tục: “Đầu tiên, con phải chứng tỏ với ta, và quan trọng
hơn nữa là với chính bản thân, con phải thực nghiệm đời sống của một người bán hàng chứ không chỉ
dễ dàng như con đã lựa chọn để trở thành. Thực thế, đã nhiều lần con nghe thấy ta nói phần thưởng là
to lớn cho một người thành đạt nhưng phần thưởng chỉ to lớn với một vài người thành công mà thôi.
Rất nhiều người đã thất vọng và rồi đánh mất chính mình mà không hề biết rằng họ luôn có sẵn những
công cụ cần thiết để gặt hái sự giàu sang. Biết bao nhiêu người đã từng đối diện với trở ngại và xem
chúng như những kẻ thù địch, trong khi thật ra những trở ngại chính là bạn hữu, là người trợ đỡ. Trở
ngại là cần thiết cho sự thành công bởi trong nghề bán hàng, cũng như trong mọi nghề nghiệp quan
trọng khác, vinh quang chỉ đến sau vô số nỗ lực. Đúng, mỗi một nỗ lực, mỗi một cố gắng sẽ trau chuốt
sự khéo léo và sức mạnh của con, lòng can đảm và sự trải nghiệm của con, khả năng và niềm tin của
con và vì thế mỗi một chướng ngại là một người bạn thân thiết thúc đẩy để con trở thành tốt hơn... hay
con sẽ bỏ cuộc vì xem những ngăn trở đó là thù địch. Mỗi một lời chối từ sẽ là một cơ hội để tiến lên;
quay lưng lại với chúng, từ chối chúng và con sẽ quẳng cả tương lai của mình đi.”
Người tuổi trẻ gật đầu và mở miệng muốn nói nhưng ông già đã giơ tay ngăn lại: “Và hơn nữa, con
đã chọn lấy một nghề cô độc nhất trên thế giới này. Ngay cả những người thu thuế rồi cũng trở về nhà
khi mặt trời lặn xuống và đế quốc La Mã có những rào chặn để buộc mọi người phải trở về nhà khi
đêm tới. Nhưng con, là một người bán hàng, con sẽ phải chứng kiến vô số lần mặt trời lặn và mọc ở
xa, thật xa những bạn bè và những người thân yêu nhất của con. Không gì có thể làm cho một người
đàn ông đau khổ và cô đơn bằng những lúc chỉ một mình đi ngang một ngôi nhà xa lạ trong bóng tối
và chứng kiến cảnh gia đình người ta quây quần ăn uống trong ánh sáng và hạnh phúc.
“Con sẽ phải đối đầu với những khoảng thời gian cô đơn như thế.” Ông Pathros tiếp tục:
“Con sẽ phải đương đầu với bao nhiêu khuấy động như thế, những khuấy động sẽ ảnh hưởng mạnh
mẽ đến nghề nghiệp của con. Khi con đang trên đường với chỉ những con lạc đà của mình là một cảm
giác đáng sợ và xa lạ. Thường thì đôi lúc tầm nhìn và phẩm giá của ta bị lãng quên và ta sẽ xử sự
không khác gì những đứa trẻ, chỉ mong muốn sự an toàn và tình yêu cho riêng mình. Biết bao nhiêu
người đã phải bỏ ngang giữa chừng, bao gồm cả hàng ngàn người được đánh giá là có khả năng tiềm
tàng lớn trong nghề. Và còn hơn nữa, sẽ không có một ai làm cho con cười hay an ủi con khi mà con
không bán được một món hàng nào. Không một ai ngoại trừ những người đang tìm cách lấy đi những
hàng hóa của con.” “Con sẽ cẩn trọng và ghi nhớ những cảnh báo này.”
“Nào chúng ta hãy tiếp tục. Lúc này, con sẽ không được nhận thêm một lời hướng dẫn nào nữa.
Con đang đứng trước mặt ta như một trái chà là còn xanh. Một trái chà là chưa thực sự chín, vẫn chưa
được gọi là chà là và con cũng vậy, khi con chưa thực sự trải nghiệm và hiểu biết, con cũng chưa được
gọi là một người bán hàng.”
“Con sẽ phải bắt đầu ra sao?”
“Sáng ngày mai con hãy gặp Silvio tại chỗ các xe hàng. Hắn sẽ trao cho con một chiếc áo dài, loại
tốt nhất, không bị nhăn nhàu. Chúng được dệt từ lông dê và có thể chịu được những trận mưa lớn nhất,
được nhuộm bằng rễ cây mắm đỏ nên không bị bay màu. Ở bên trong cổ áo, con sẽ thấy có một ngôi
sao nhỏ được may vào đó. Đó là nhãn hiệu của Tola, nhà may áo dài tốt nhất. Cạnh ...
(Ấn bản lần thứ tư có sửa chữa hoàn thiện)
OG MANDINO
Người dịch: THÁI HÙNG TÂM
Ngay cả lời nói của Thượng đế
cũng cần phải bán được cho con người để họ có thể lắng nghe
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Tác giả: OG MANDINO
Người dịch: Thái Hùng Tâm
Nhà xuất bản: Tp. Hồ Chí Minh
Số trang: 128
--------------------Nguồn: MBook
Chuyển sang ebook: Venus (TVE)
Ngày hoàn thành: 8/7/2006
Chương I
Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V
Chương VI
Chương VII
Chương VIII
Cuộn thứ nhất
Chương IX
Cuộn thứ hai
Chương X
Cuộn thứ ba
Chương XI
Cuộn thứ tư
Chương XII
Cuộn thứ năm
Chương XIII
Cuộn thứ sáu
Chương XIV
Cuộn thứ 7
Chương XV
Cuộn thứ 8
Chương XVI
Cuộn thứ 9
Chương XVII
Cuộn thứ 10
Chương XVIII
ĐOẠN KẾT
Một vài suy nghĩ,
Tất cả chúng ta, ai cũng đều đang rao bán một thứ gì đó trong mọi lúc của cuộc sống. Là một tu sĩ,
chúng ta đang rao bán niềm tin của chúng ta về thương đế. Là một nhà giáo, chúng ta đang rao bán
kiến thức của mình về khoa học. Là một nhà chính trị, chúng ta đang rao bán chính kiến của mình về
một xã hội. Và là một con người chúng ta đang rao bán tình yêu của chúng ta đối với mọi người quanh
ta.
Một ý nghĩ có vẻ quá thực dụng nhưng lại là một thực tế mà chúng ta thường vẫn luôn tránh né,
một cách vô thức, chẳng muốn nhìn nhận.
Nếu chúng ta chấp nhận bán hàng là một hành động phục vụ, chúng ta sẽ nhận ra những hàm ý
thực sự cao đẹp và đáng trọng của hai từ này. Nếu chúng ta thực tâm hiểu ra và tôn trọng hai từ này, ai
trong chúng cũng có thể trở thành một người bán hàng vĩ đại nhất thế giới này.
“The Greatest Salesman in the World” là một cuốn sách tuyệt vời đã từng được con người viết ra.
Cuốn “Người Bán hàng Vĩ đại Nhất Thế giới” này là một cuốn sách mà những thông điệp ẩn mật đáng
trân trọng của nó thường bị bỏ quên bởi chính cái tên của cuốn sách.
Chúng ta cần phải hiểu hai chữ bán hàng được nói ở đây có nghĩa rộng hơn nhiều chứ không chỉ là
công việc bán hàng bình thường như mọi người ngầm hiểu.
Og Mandino là một tác già sách 'self help' (tự thân cải tiến) nổi tiếng chứ không phải một tác giả
sách marketing. Chính vì lý do này mà chúng ta cần phải hiểu đây không thể là một cuốn sách về một
ý thức hay những phương pháp bán hàng một cách đơn thuần.
Theo ý của tác giả Og Mandino thì đây là một cuốn sách mượn công việc bán hàng để nói đến một
phong cách sống phục vụ sẽ đưa ta đạt đến những thành công to lớn trong cuộc sống và nếu có, thì
quan trọng hơn nữa là –cảm nhận niềm hạnh phúc của việc “được sống” một cách độc lập và tự do
trong giới hạn của TÌNH YÊU.
Thái Hùng Tâm
hungmbook@gmail.com
Chương I
Hafid nghiêng người trước tấm gương đồng sáng bóng, chăm chú quan sát gương mặt của mình
phản chiếu trên đó.
“Chỉ có đôi mắt là còn phản ảnh tuổi trẻ,”ông tự nói với mình và rồi quay ra đi chầm chậm dọc
theo hành lang dài bằng đá cẩm thạch xanh biếc. Hafid đi giữa hai hàng cột đá đen bóng vươn lên đỡ
lấy vòm mái trang trí lộng lẫy với hoa văn bằng bạc và vàng, đôi chân nặng nề vì tuổi tác đưa ông đi
qua những chiếc bàn gỗ bách chạm khảm với ngà voi.
Khắp nơi, trên tường, trên các ghế dài, phản gỗ đều được trổ khảm bằng các loại vỏ trai sò quý
hiếm điểm xuyết bằng đá quý thành hình các hoa văn tuyệt mỹ. Những cây cọ lớn vươn lên từ một hồ
nước đáy bọc đồng với những vòi nước tạo hình các dã thần cũng được cẩn đầy đá quý. Không một ai
khi đến lâu đài của Hafid lại có thể nghi ngờ gì về sự giàu có quá mức của ông ta.
Người đàn ông già bước qua khu vườn trong nhà, đi vào khu nhà kho rộng lớn. Erasmus, người
quản lý đã chờ sẵn ở ngay lối vào.
“Chào mừng ông, ông chủ.”
Hafid gật đầu, vẫn tiếp tục bước đi. Erasmus đi theo, mặt không hề biểu lộ chút cảm xúc hay thắc
mắc nào về việc gặp mặt ông chủ của mình tại nơi này, vào lúc này. Hafid ngừng lại nhìn những dẫy
hàng hoá được xếp thành từng hàng thứ tự.
Nào là len, tơ lụa, mật, da thuộc, thảm và dầu thơm từ Trung Đông; thủy tinh, chà là, cọ dầu, hạt
dẻ từ Damacus - quê hương của ông ; vải vóc, thuốc men từ Palmyra ; gừng, quế, đá quý từ Ả Rập ;
bắp, giấy, đá hoa cương, đá trắng, đá xanh, đá đỏ từ Ai Cập ; tấm trải từ Babylon ; tranh từ La Mã và
tượng từ Hy Lạp. Mùi của hạt dẻ ngập tràn trong không khí và cái mũi già nua nhưng vẫn nhạy cảm
của Hafid còn phân biệt được cả sự hiện diện của mùi táo, bơ và gừng.
Cuối cùng ông ta quay lại với Erasmus.”Ông bạn già, tài sản của ta tính ra là bao nhiêu tiền vàng?”
Erasmus nói, mặt hơi xanh: “Tất cả ư, thưa ông.”
“Tất cả”
“Tôi chưa kiểm tra số liệu mới đây nhưng tôi biết là có hơn 7 triệu đồng vàng, thưa ông.”
“Cộng với tất cả hàng hoá ở khắp các cửa hàng và kho ở các nơi thì sẽ là bao nhiêu nữa?”
“Mùa bán hàng năm nay vẫn chưa hoàn tất nhưng tôi tính là ít nhất cũng thêm 3 triệu nữa.”
Hafid gật đầu,”Không mua thêm hàng nữa. Hãy lên một kế hoạch để bán hết mọi thứ còn lại và
chuyển tất cả thành vàng.”
Người quản lý há hốc miệng, không nói được tiếng nào. Ông ta hơi lùi ra sau sửng sốt và cuối
cùng cũng mở miệng, ông ta nói một cách cố gắng.
“Tôi không hiểu, thưa ông. Năm nay đang là năm lợi nhuận tốt nhất của chúng ta. Sức bán ra của
tất cả các cửa hàng đều vượt trội hơn năm ngoái. Ngay cả cư dân của các lãnh địa của La Mã cũng đã
trở thành khách hàng của chúng ta. Xin ông thứ lỗi cho sự chậm chạp của tôi, nhưng tôi không thể
hiểu được lý do của mệnh lệnh này.”
Hafid cười, nắm lấy tay của Erasmus thân mật.
“Người bạn tin tưởng của tôi ơi ! Ông có nhớ cái mệnh lệnh đầu tiên mà tôi đã ra cho ông khi ông
mới vào làm việc với tôi từ nhiều năm trước không?”
Erasmus hơi cau mày lại và rồi như bừng tỉnh.”Tôi được lệnh của ông là trích ra hàng năm một
nửa số lợi nhuận để phân phát cho người nghèo.”
“Ông đã không cho tôi là một người khùng trong kinh doanh vào lúc đó sao?”
“Tôi đã hết sức lo phiền khi đó, thưa ông.”
Hafid gật đầu,”Và ông đã nhận thấy là sự lo phiền của ông là vô căn cứ?”
“Vâng, thưa ông.”
“Hãy tin vào tôi ông bạn già, cứ thi hành các quyết định của tôi cho đến khi tôi giải thích rõ ràng
với ông. Tôi lúc này chỉ là một ông già và các nhu cầu của tôi cũng đơn giản. Kể từ ngày Lisha yêu
dấu của tôi mất đi sau nhiều năm hạnh phúc, tôi chỉ mong muốn được phân phát hết tài sản của tôi cho
những người còn thiếu thốn trên thế giới này. Tôi chỉ giữ lại vừa đủ cho mình để có thể sống yên cho
đến hết quãng đời còn lại. Erasmus này, ngoài việc chuyển đổi thành vàng các hàng hóa còn lại của
tôi, ông hãy sửa soạn giấy tờ để chuyển giao các cửa hàng cho những ai đang quản lý chúng. Tôi cũng
muốn ông hãy phát cho những người quản lý này, mỗi người 5 ngàn đồng vàng như là một phần
thưởng cho những năm tận tuỵ vì tôi và cũng để họ có thể tiếp tục việc buôn bán theo như ý họ muốn.”
Erasmus định nói nhưng Hafid giơ tay lên ngăn lại.
“Những mệnh lệnh này làm ông phiền lòng sao?”
Người quản lý già lắc đầu, cố gắng mỉm cười. “Không, thưa ông, tôi chỉ không thể hiểu nổi lý lẽ
của ông. Ông nói cứ như là những ngày còn lại của ông có thể đếm được.”
“Đúng là tính tình của ông, ông bạn già. Sự lo phiền của ông là vì tôi chứ không hề vì bản thân
mình. Ông không nghĩ một chút nào đến bản thân ông sao, nếu thương quốc của chúng ta không còn
nữa?”
“Ông đã coi tôi như một người bạn từ bao nhiêu năm nay, làm sao tôi có thể chỉ nghĩ đến mình
thưa ông?”
Hafid ôm lấy người bạn già, nói: “Không cần phải vậy đâu. Tôi yêu cầu ông lập tức chuyển 50.000
đồng vàng sang cho chính ông và hãy ở lại với tôi cho đến khi nào lời hứa mà tôi đã tự hứa với mình
từ lâu được thực hiện. Khi lời hứa này hoàn tất, tôi sẽ chuyển giao lại toà lâu đài và kho hàng này lại
cho ông để tôi có thể sẵn sàng gặp lại Lisha yêu quí của tôi.”
Erasmus chăm chú nhìn chủ nhân của mình, không tài nào hiểu hết những gì vừa nghe.
“50.000 đồng vàng, toà lâu đài và kho hàng... tôi không đủ sức đâu...”
Hafid gật đầu: “Tôi luôn đánh giá cao tình bạn mà ông dành cho tôi và xem nó là quí nhất. Những
gì mà tôi trao cho ông chỉ là một phần rất nhỏ nhoi so với lòng trung thành bền bỉ của ông đối với tôi.
Ông đã hoàn thiện các nghệ thuật sống không phải chỉ cho mình, mà còn cho cả người khác nữa, điểm
quan tâm này được đánh giá cao hơn tất cả. Bây giờ tôi yêu cầu ông hãy hết lòng với những mệnh lệnh
của tôi. Thời gian là cái quí giá duy nhất mà tôi còn lại, và chúng chỉ còn ít lắm.”
Erasmus quay mặt đi dể che giấu những giọt nước mắt đã trào ra. Ông ta nói, giọng như vỡ ra:
“Vậy lời hứa mà ông nói đó là lời hứa gì? Mặc dù chúng ta đã sống như là anh em một nhà nhưng tôi
chưa hề được nghe ông nói đến.”
Hafid khoanh tay cười, nói: “Tôi sẽ gặp lại ông bạn khi nhiệm vụ cuối cùng này của ông đã hoàn
tất. Và tôi sẽ cho ông biết cái bí mật đó, điều mà tôi chưa từng chia xẻ với một ai ngoài người vợ yêu
dấu của tôi, từ hơn 30 năm qua.”
***
Chương II
Và rồi thật nhanh chóng, một đoàn xe được bảo vệ nghiêm ngặt rời khỏi Damascus mang theo các
giấy chứng nhận chủ quyền và vàng đến cho những ai đang quản lý các cửa hàng của thương quốc
Hafid. Từ Obed ở Joppa đến Reuel ở Petra, từng người quản lý một đều nhận được lời giã biệt và tặng
vật của Hafid trong sự im lặng đến mức sững sờ. Cuối cùng, khi đến cửa hàng ở Autipatris, nhiệm vụ
được giao của Eramus đã hoàn tất.
Thương quốc mạnh mẽ và rộng lớn nhất một thời đã không còn tồn tại nữa.
Trái tim nặng trĩu, Eramus báo về cho ông chủ của mình biết là các kho hàng nay đã hoàn toàn
trống rỗng và các cửa hàng một thời là niềm tự hào của Hafid nay đã không còn nữa. Người đưa tin trở
lại với yêu cầu của Hafid. Eramus nhanh chóng trở về và gặp lại chủ nhân của mình bên hồ nước trong
lâu đài.
Khi gặp lại, Hafid quan sát nét mặt của người quản lý già:
“Mọi việc đã xong?”
“Vâng thưa ông, đã xong.”
“Đừng đau khổ, ông bạn. Hãy theo tôi.”
Chỉ có tiếng bước chân của họ dội lên trong căn phòng rộng lớn, trống rỗng khi Hafid dẫn Eramus
dọc theo lối đi bằng cẩm thạch xanh dẫn ra phía sau. Đôi khi bước chân của Hafid chậm lại khi đi
ngang qua những bình hoa trống rỗng, cô đơn trên các chân đế bằng gỗ cam cao nghệu và ông mỉm
cười khi nhìn thấy những tia nắng đang làm cho màu của thuỷ tinh chuyển từ trắng thành tím nhạt.
Rồi 2 người bạn già bắt đầu leo lên những bực thang dẫn đến một căn phòng nằm ngay bên dưới
mái vòm của lâu đài. Erasmus nhận thấy những người canh gác vẫn thường hiện diện ở đây trong bao
năm qua nay không còn nữa. Hai người lên đến tầng giữa, họ tạm ngừng để lấy lại hơi thở đã mất vì
những bậc thang quá dài, rồi lại tiếp tục leo lên tầng hai trong im lặng. Đến trước một khung cửa,
Hafid lấy ra một cái chìa khoá nhỏ vẫn đeo nơi lưng quần và mở cánh cửa bằng gỗ sồi nặng trịch ra.
Ông nghiêng người đẩy cánh cửa mở ra một cách khó khăn và bước vào. Erasmus chần chừ cho đến
khi ông chủ của mình yêu cầu ông bước vào, Erasmus thận trọng bước vào trong căn phòng mà từ hơn
30 năm qua chưa từng một ai được cho phép bước vào.
Ánh sáng mờ nhạt len vào từ những khe hở chung quanh mái vòm ở bên trên, Erasmus nắm chặt
lấy tay chủ nhân của mình cho đến khi đôi mắt dần quen đi với ánh sáng tù mù trong căn phòng bí mật
đó. Với một nụ cười mơ hồ, Hafid nhìn người bạn trung thành của mình đang chậm chạp nhìn quanh
căn phòng trống rỗng. Chỉ có một cái rương nhỏ thấp thoáng phản chiếu ánh sáng nằm ở một góc
phòng.
“Bạn cảm thấy thấy thất vọng ư, Erasmus?.”
“Tôi không biết nói gì, thưa ông.”
“Ông không thất vọng vì mọi thứ ở đây ư, ông bạn già. Chắc chắn là những gì chứa chất trong căn
phòng này là một trong những bí mật đối với mọi người đã từng làm việc với tôi. Ông không thắc mắc
hay quan tâm gì đến những gì được cất giấu ở đây dưới sự canh gác cẩn mật bao lâu nay sao?”
Erasmus gật đầu: “Thực sự là có. Đã có rất nhiều lời đồn đại trong nhiều năm nay về những bí mật
được cất giữ tại đây, thưa ông.”
“Đúng vậy ông bạn. Và tôi đã từng nghe hầu hết những câu chuyện đồn đại đó. Nào là những
thùng kim cương được giấu ở đây, những thỏi vàng hay thậm chí thú hoang hay chim quý được cất giữ
tại nơi này. Có lần một tay lái buôn ở vịnh Persik còn cho rằng có thể tôi đang cất giấu một nàng hầu
trẻ đẹp tại đây. Lisha đã cười với cái ý nghĩ rằng tôi có thể sưu tầm các cô nhân tình trẻ đẹp. Nhưng
bạn ơi, ông thấy đó, chẳng có gì ở đây ngoại trừ cái rương nhỏ đó. Nào bây giờ hãy đến đây.”
Hai người đàn ông cúi xuống bên chiếc rương nhỏ và Hafid từ tốn gỡ những dây da buộc quanh
chiếc rương bí mật đó. Ông ta hít sâu vào mùi gỗ cũ ẩm của chiếc rương và cuối cùng ông mở nắp
rương lên. Erasmus nghiêng người nhìn qua vai ông Hafid để xem xem có gì trong chiếc rương nhỏ
đó. Bên trong chiếc rương chỉ có những cuộn tròn tròn... những cuộn tròn bằng da cũ kỹ.
Hafid lấy ra một cuộn da. Ông nhắm mắt lại ôm cuộn da vào ngực trong chốc lát. Một sự an bình
lặng lẽ ánh lên trên gương mặt của ông như làm biến đi những nếp nhăn của tuổi tác. Rồi Hafid đứng
thẳng dậy với cuộn da trước ngực.
“Căn phòng này có chấp chiếu hào quang của đá quí không? Không có gì cả, gía trị của nó ở ngay
trước mắt bạn trong chiếc rương gỗ đơn giản này. Mọi thành công, hạnh phúc, tình yêu, tự do trong tư
tưởng và giầu có mà tôi đã vui hưởng đều đến trực tiếp từ những gì chứa đựng ở đây, trong những
cuộn da này. Và tôi nợ chúng cũng như con người khôn ngoan đã tin tưởng và trao chúng cho tôi gìn
giữ, một món nợ mà đến giờ tôi vẫn chưa trả được.”
Rung động bởi giọng điệu của Hafid, Erasmus hơi lùi lại: “Có phải đây là điều bí mật mà ông đã
nhắc đến? Có phải chiếc rương có quan hệ đến lời thề mà ông đã hứa?”
“Câu trả lời là 'đúng', cho cả hai câu hỏi của ông.”
Erasmus lau cái trán rịn mồ hôi của mình, nhìn Hafid một cách ngờ vực: “Điều gì ẩn giấu trong
những cuộn da đó mà giá trị của nó còn cao hơn cả kim cương, vàng bạc?”
“Ngoại trừ 1 cuộn, còn lại tất cả đều chứa đựng những nguyên tắc, luật lệ hay sự thật căn bản được
viết theo một cách để giúp người đọc hiểu rõ hơn nữa những gì ẩn kín giữa hai dòng chữ của chúng.
Để trở thành một bậc thầy trong nghệ thuật bán hàng, một người phải học và thực hành những nguyên
tắc được ghi lại ở đây và người đó sẽ có được khả năng để gom góp lấy mọi tài sản trên thế gian này
mà hắn ta mong muốn.”
Erasmus nhìn vào những cuộn da, vẻ không mấy tin tưởng: “Ngay cả giàu có như ông ư, thưa ông”
“Còn hơn là giàu có nữa, nếu hắn ta muốn.”
“Ông đã nói, tất cả những cuộn da này đều ghi nhận những nguyên tắc bán hàng, ngoại trừ một
cuộn. Vậy cuộn da đó có những gì trong đó thưa ông?”
“Cuộn da cuối cùng đó, ông bạn có thể gọi nó như vậy, chính là cuộn đầu tiên cần phải đọc. Các
cuộn còn lại đều được đánh số tiếp, theo thứ tự. Cuộn đầu tiên này chứa đựng một bí mật mà chỉ
những ai thật sự khôn ngoan và được chọn. Cuộn da này, thật sự chỉ dạy cho người ta cái cách hiệu
qủa nhất để học và hiểu sâu hơn nữa những gì được viết trong những cuộn da còn lại.”
“Nó có vẻ như là một nhiệm vụ mà bất cứ ai cũng có thể hoàn thành.”
“Quả thế, một nhiệm vụ đơn giản dành cho những ai thật sự ham muốn đạt đến sự hoàn hảo.
Những ai thực lòng nỗ lực chỉ cần trả giá bằng thời gian và sự tập trung cao độ cho đến khi từng
nguyên tắc một trở thành cá tính của người đó, cho đến khi từng nguyên tắc một trở thành một thói
quen trong cuộc sống của người đó.”
Erasmus lại bên chiếc rương, lấy ra một cuộn da. Ông ta cầm nó một cách cẩn trọng trong tay:
“Xin tha lỗi cho tôi, thưa ông, nhưng tại sao ông không chia sẽ những nguyên tắc này cho người khác,
cho những ai đã làm việc lâu năm trong thương quốc của ông? Ông vẫn luôn chứng tỏ sự hào phóng
trong mọi việc, vậy tại sao những người bán hàng cho ông lại không nhận được cơ hội để học những
nguyên tắc này và từ đó cũng trở nên giàu có? Và hơn nữa, không tốt hơn sao nếu mọi người đều có
thể trở thành một người bán hàng tốt hơn với những hiểu biết giá trị này? Tại sao ông lại giữ lấy những
nguyên tắc này cho riêng mình trong bao năm qua?”
“Tôi không được phép lựa chọn. Nhiều năm trước khi tôi được tin tưởng giao phó những cuộn da
này, tôi đã lập một lời thề là sẽ chia sẽ chúng với chỉ một người mà thôi. Đến nay tôi vẫn chưa hiểu
được tại sao lại có yêu cầu này. Dù sao thì tôi cũng được yêu cầu hãy áp dụng những nguyên tắc này
cho riêng mình. Cho đến một ngày, có một người sẽ cần đến sự trợ giúp còn hơn là tôi đã từng cần đến
ngày xưa, một người chưa từng biết đến sự hiện hữu của những cuộn da này ở trên đời. Tôi sẽ được
hướng dẫn qua một dấu hiệu nào đó để nhận ra người này, và tôi sẽ trao những cuộn da này lại cho
người đó.
“Tôi đã kiên nhẫn đợi chờ và trong khi chờ đợi, tôi áp dụng và thực hành những nguyên tắc này
như đã được cho phép. Và với những hiểu biết từ những cuộn da này tôi đã trở thành một người bán
hàng mà nhiều người gọi là “Người bán hàng vĩ đại nhất thế giới”, cũng như người đã trao lại cho tôi
những cuộn da này đã một thời từng được tôn xưng. Lúc này, ông bạn già, có thể ông đã hiểu tại sao
một số quyết định của tôi trong những năm qua có vẻ như khù khờ và vô ích nhưng lại đã chứng tỏ
thành công. Các hành động và quyết định của tôi luôn được hướng dẫn bởi những nguyên tắc được ghi
nhận trong các cuộn da này. Vì vậy, không phải sự khôn ngoan của tôi đã mang lại tất cả sự giàu có
này, tôi cũng chỉ là một công cụ để hoàn thành một công việc nào đó như mọi người mà thôi.
“Erasmus này, ông vẫn còn tin là sẽ có một người rồi sẽ xuất hiện để nhận lấy những cuộn da này
sau những năm dài như vậy chứ?...”
“Vâng, thưa ông, tôi tin”
Hafid chậm rãi xếp lại những cuộn da và đóng nắp rương lại. Ông nói nhỏ khi vẫn đang quì trước
rương:
“Ông sẽ vẫn ở lại với tôi cho đến cái ngày đó chứ, ông bạn già Erasmus?”
Erasmus lặng lẽ với tay nắm lấy tay chủ nhân mình siết nhẹ, gật đầu. Ông ta rời khỏi phòng trong
im lặng với yêu cầu không được nói ra với bất cứ một ai từ Hafid. Người bán hàng vĩ đại nhất thế giới
của một thời ràng lại các đai da chung quanh chiếc rương rồi đứng dậy đi về phía một mái vòm nhỏ.
Ông đi qua đó, ra ngoài hàng hiên bao quanh mái vòm.
Một làn gió nhẹ từ phương đông thổi lại, táp vào mặt của Hafid, mang theo hương vị của những hồ
nước mặn và sa mạc bỏng cháy ngoài xa kia. Ông mỉm cười, đứng trên mái vòm cao nhất của thành
Damascus và tâm trí của ông quay lại với nhiều năm trước...
***
Chương III
Lúc này là mùa Đông và cái giá lạnh như càng rét buốt hơn trên đỉnh ngọn đồi của những cây Ôliu. Từ Jerusalem, xuyên qua hẻm núi hẹp của thung lũng Kidron, thoảng đến mùi khói, nhang và cả
thịt da cháy khét từ một đền thờ đâu đây gần đó. Trên một sườn đồi thấp hơn một khoảng so với làng
Bethpage, đoàn thương hành của ông Pathros thành Palmyra đang dừng chân tại đó. Lúc này đã trể và
ngay cả những con lạc đà cũng đã thôi không nhai những cành hồ trăn nữa mà nằm xuống nghỉ yên
bên những bụi nguyệt quế mềm mại.
Bên dãy lều bạt lặng lẽ, những bụi gai dầu quây quanh bốn cây ô liu cổ thụ tạo thành một hàng rào
vây lấy đám lạc đà đang chen chúc vào nhau tìm hơi ấm. Ngoại trừ hai người canh gác đang đi dọc
theo những dãy xe hàng, chỉ còn có bóng của một người cao lớn là còn chuyển động in lên nền bạt da
dê chiếc lều lớn của ông chủ Pathros.
Bên trong, ông Pathros đang đi lại đầy giận giữ, chốc chốc chau mày dừng lại lúc lắc cái đầu với
cậu thanh niên đang quỳ ngay lối vào của căn lều. Cuối cùng ông ngồi xuống và vẫy cậu trai đến gần.
“Hafid, lúc nào ta cũng đối xử tốt với ngươi. Ta hoàn toàn bất ngờ và không tin nổi cái yêu cầu lạ
lùng của ngươi. Mi không hài lòng với công việc của mi sao?”
Cậu trai chỉ cúi nhìn xuống đất, không dám ngẩng đầu dậy: “Không đâu, thưa ông.”
Ông Pathros nhìn cậu thanh niên chăm chú: “Hay là đoàn lạc đà của ta tăng lên quá nhanh làm
nhiệm vụ của ngươi trở nên quá nặng.”
“Không phải vậy, thưa ông.”
“Vậy hãy nhắc lại rõ ràng yêu cầu của ngươi một lần nữa, cả những lý do dẫn đến yêu cầu bất
thường đó nữa.”
“Đó chỉ là lòng ham muốn của con, được trở thành người bán hàng cho ông thay vì chỉ là một
người chăm sóc lạc đà. Con mong muốn trở thành một người bán hàng như Hadad, Simon, Caled và
những người khác, ra đi với đoàn xe nặng trĩu hàng hoá và trở về với những đồng tiền vàng cho ông và
cả cho họ nữa. Con muốn cải thiện vị trí của mình trong đời sống. Là một người chăn lạc đà con sẽ
chẳng là gì cả, nhưng là một người bán hàng cho ông con có thể đạt được nhiều hơn. Con sẽ có thể
giàu có và đạt được thành công.”
“Làm sao ngươi biết như vậy?.”
“Con vẫn thường nghe ông nói, không một nghề nghiệp hay việc buôn bán nào mang lại nhiều cơ
hội hơn để một người từ nghèo khó trở nên giàu có cho bằng làm người bán hàng.”
Ông Pathros bắt đầu gật đầu, nhưng ông nghĩ tốt hơn nên tiếp tục tra vấn cậu thanh niên: “thế
ngươi có tin là ngươi có đủ khả năng để làm việc như Hadad hay những người khác không?”
Hafid ngẩng lên nhìn ông chủ của mình nói: “Rất nhiều lần con nghe thấy Caled phàn nàn với ông
về sự không may của ông ta khi không bán được hàng, và cũng đã nhiều lần con nghe ông nhắc nhở
Caled rằng bất cứ ai cũng có thể bán mọi thứ trong kho hàng của ông trong một khoảng thời gian nếu
áp dụng chặt chẽ những nguyên tắc và luật lệ của việc bán hàng. Nếu ông có thể tin là Caled, người mà
ai cũng cho là khờ khạo, có thể học được những nguyên tắc ấy thì tại sao con lại không thể học được
những hiểu biết đó?”
“Nếu ngươi tin là mình có thể thấm nhuần những nguyên tắc đó, vậy đâu là mục đích của… con
trong đời sống?” Ông Pathros bắt đầu thay đổi giọng điệu.
Hafid hơi chần chừ chốc lát rồi nói: “Việc ông là một người bán hàng vĩ đại nhất thế giới đã được
rao truyền trên khắp miền đất này. Cả thế giới này chưa bao giờ có một vương quốc buôn bán nào rộng
lớn như thương quốc mà ông đã tạo dựng nên sau bao năm buôn bán. Khát vọng của con là trở thành
còn vĩ đại hơn cả ông nữa, người giàu có nhất, và là người bán hàng vĩ đại nhất trên toàn thế giới này.”
Ông Pathros ngả người ra sau quan sát khuôn mặt trẻ trung của cậu bé. Mùi của các con lạc đà vẫn
còn đượm trên quần áo của cậu nhưng chỉ có một chút ngại ngùng ẩn hiện trong phong thái.
“Vậy rồi con sẽ làm gì với tất cả những thứ đó và với quyền lực đáng sợ chắc chắn là luôn đi theo
cùng với sự giầu có đó?”
“Con sẽ làm như ông đã làm. Gia đình con sẽ được cung cấp đầy đủ với những vật dụng tốt nhất và
phần còn lại con sẽ chia sẽ với những ai đang còn thiếu thốn.”
Ông Pathros nhẹ lắc đầu: “Sự giàu có, con ơi, không bao giờ nên là mục đích của con người trong
đời sống. Con nói rất trôi chảy nhưng chúng chỉ là từ ngữ. Sự giàu có thực sự là ở trong trái tim của
con chứ không phải ở túi tiền.”
Hafid chống chế: “Không lẽ ông không giàu hay sao, thưa ông?”
Người đàn ông cười vì sự ương ngạnh của cậu bé: “Hafid ạ! Còn nhiều điều để quan tâm hơn là chỉ
sự giàu có vật chất, ở đây chỉ có một sự khác biệt giữa ta trong lâu đài Herod và tên ăn mày hạng bét lê
lết ngoài đường. Tên ăn mày chỉ nghĩ đến bữa ăn sắp tới, còn ta thì chỉ nghĩ đến bữa ăn cuối cùng.
Không, con trai ơi, đừng khát vọng chỉ vì sự giàu có và cố sức lao động cật lực để được giàu sang.
Thay vì vậy, hãy nổ lực vì hạnh phúc, để yêu người và được người yêu. Quan trọng hơn hết là đạt đến
sự an bình trong tâm tưởng và tĩnh lặng trong suy nghĩ.”
Hafid tiếp tục phản ứng: “Nhưng những điều này không thể đạt được nếu không có vàng. Ai lại có
thể sống an bình trong tư tưởng một khi nghèo khổ? Làm sao một người có thể hạnh phúc khi bụng
đói? Làm sao có thể bày tỏ tình yêu với gia đình khi mình không thể nuôi nấng được vợ con? Ông đã
từng nói, sự giàu có là tốt khi nó đem lại niềm vui cho người khác. Vậy sao mong muốn được giàu có
của con lại là không tốt? Sự nghèo khó có thể là chứng nhân hay một cách sống chỉ dành cho một nhà
tu hành trong sa mạc, vì ông ta chỉ có mỗi một Chúa của ông ta để mà phụng sự. Nhưng con, con cho
rằng sự nghèo khó là dấu chỉ cho sự yếu kém của năng lực cũng như khát vọng. Con không phải là
người thiếu những phẩm chất đó.”
Ông Pathros cau mày: “Điều gì đã khiến con nẩy lên những khát vọng bất ngờ đó? Con nói về việc
nuôi nấng một gia đình, nhưng con chưa có gia đình mà? Con đã không còn gia đình riêng của con nữa
kể từ khi trận dịch năm đó cướp mất cha mẹ của con đi, và ta đã nhận nuôi con từ đó.”
Nước da sạm nắng của Hafid cũng không thể nào che giấu được màu hồng đang ửng lên trên hai
gò má: “Khi chúng ta dựng trại ở Hebron trước khi lên đường, con đã... đã gặp con gái của Calneh ở
đó... cô ta...cô...”
“À...à... sự thật là như vậy đó.” Ông Pathros ngắt ngang. “Tình yêu chứ không phải các lý tưởng
sang giầu đã chuyển người chăm sóc lạc đà của ta thành một chiến binh sẵn sàng đương đầu với cả thế
giới. Calneh thực sự là một người giàu có. Con gái ông ta với 1 tên chăn lạc đà ư?... Không bao giờ!
Nhưng con gái của ông ta với một lái buôn trẻ, đẹp trai, giàu có lại là một vấn đề khác hẳn. Tốt thôi,
chàng chiến binh trẻ của ta. Ta sẽ giúp con bắt đầu nghề nghiệp của con, một người bán hàng.”
Chàng thiếu niên sụp xuống chân ông Pathros, nắm lấy gấu áo của ông ta: “Ôi, thưa ông. Con
không biết nói gì để cảm ơn ông nữa.”
Ông Pathros gỡ tay chàng trai trẻ ra, bước lùi lại: “Hãy giữ lại những lời cảm ơn đó, con trai.
Những gì ta sẽ cho con chỉ là những hạt cát so với những ngọn núi mà con sẽ phải tự mình giành lấy.”
Niềm vui của Hafid bị chặn lại, cậu ngập ngừng: “Thế ông sẽ không dạy con những nguyên tắc và
luật lệ để con trở thành người bán hàng vĩ đại hay sao?”
“Không đâu. Sẽ không hơn những gì ta đã làm cho tuổi trẻ của con được yên ổn thong dong bằng
những lời dỗ ngọt. Ta đã từng bị chỉ trích vì để con nuôi của mình làm người chăn lạc đà nhưng ta đã
nghĩ rằng nếu ngọn lửa đúng đắn bùng cháy trong con thì nó sẽ nhấn chìm hết những lời dị nghị đó...
Và một khi nó thực sự bùng cháy, con sẽ là người đàn ông đã trưởng thành từ những năm tháng khó
nhọc. Tối nay, yêu cầu của con đã khiến ta cảm thấy hạnh phúc vì ngọn lửa khát vọng lấp loé trong
mắt và gương mặt con rạng rỡ vì ham muốn. Điều này là tốt và quyết định của ta cũng đã được chứng
tỏ nhưng con, con vẫn cần phải chứng minh, còn những gì nữa sau lời nói của con chứ không chỉ là
không khí.”
Hafid im lặng và người đàn ông già tiếp tục: “Đầu tiên, con phải chứng tỏ với ta, và quan trọng
hơn nữa là với chính bản thân, con phải thực nghiệm đời sống của một người bán hàng chứ không chỉ
dễ dàng như con đã lựa chọn để trở thành. Thực thế, đã nhiều lần con nghe thấy ta nói phần thưởng là
to lớn cho một người thành đạt nhưng phần thưởng chỉ to lớn với một vài người thành công mà thôi.
Rất nhiều người đã thất vọng và rồi đánh mất chính mình mà không hề biết rằng họ luôn có sẵn những
công cụ cần thiết để gặt hái sự giàu sang. Biết bao nhiêu người đã từng đối diện với trở ngại và xem
chúng như những kẻ thù địch, trong khi thật ra những trở ngại chính là bạn hữu, là người trợ đỡ. Trở
ngại là cần thiết cho sự thành công bởi trong nghề bán hàng, cũng như trong mọi nghề nghiệp quan
trọng khác, vinh quang chỉ đến sau vô số nỗ lực. Đúng, mỗi một nỗ lực, mỗi một cố gắng sẽ trau chuốt
sự khéo léo và sức mạnh của con, lòng can đảm và sự trải nghiệm của con, khả năng và niềm tin của
con và vì thế mỗi một chướng ngại là một người bạn thân thiết thúc đẩy để con trở thành tốt hơn... hay
con sẽ bỏ cuộc vì xem những ngăn trở đó là thù địch. Mỗi một lời chối từ sẽ là một cơ hội để tiến lên;
quay lưng lại với chúng, từ chối chúng và con sẽ quẳng cả tương lai của mình đi.”
Người tuổi trẻ gật đầu và mở miệng muốn nói nhưng ông già đã giơ tay ngăn lại: “Và hơn nữa, con
đã chọn lấy một nghề cô độc nhất trên thế giới này. Ngay cả những người thu thuế rồi cũng trở về nhà
khi mặt trời lặn xuống và đế quốc La Mã có những rào chặn để buộc mọi người phải trở về nhà khi
đêm tới. Nhưng con, là một người bán hàng, con sẽ phải chứng kiến vô số lần mặt trời lặn và mọc ở
xa, thật xa những bạn bè và những người thân yêu nhất của con. Không gì có thể làm cho một người
đàn ông đau khổ và cô đơn bằng những lúc chỉ một mình đi ngang một ngôi nhà xa lạ trong bóng tối
và chứng kiến cảnh gia đình người ta quây quần ăn uống trong ánh sáng và hạnh phúc.
“Con sẽ phải đối đầu với những khoảng thời gian cô đơn như thế.” Ông Pathros tiếp tục:
“Con sẽ phải đương đầu với bao nhiêu khuấy động như thế, những khuấy động sẽ ảnh hưởng mạnh
mẽ đến nghề nghiệp của con. Khi con đang trên đường với chỉ những con lạc đà của mình là một cảm
giác đáng sợ và xa lạ. Thường thì đôi lúc tầm nhìn và phẩm giá của ta bị lãng quên và ta sẽ xử sự
không khác gì những đứa trẻ, chỉ mong muốn sự an toàn và tình yêu cho riêng mình. Biết bao nhiêu
người đã phải bỏ ngang giữa chừng, bao gồm cả hàng ngàn người được đánh giá là có khả năng tiềm
tàng lớn trong nghề. Và còn hơn nữa, sẽ không có một ai làm cho con cười hay an ủi con khi mà con
không bán được một món hàng nào. Không một ai ngoại trừ những người đang tìm cách lấy đi những
hàng hóa của con.” “Con sẽ cẩn trọng và ghi nhớ những cảnh báo này.”
“Nào chúng ta hãy tiếp tục. Lúc này, con sẽ không được nhận thêm một lời hướng dẫn nào nữa.
Con đang đứng trước mặt ta như một trái chà là còn xanh. Một trái chà là chưa thực sự chín, vẫn chưa
được gọi là chà là và con cũng vậy, khi con chưa thực sự trải nghiệm và hiểu biết, con cũng chưa được
gọi là một người bán hàng.”
“Con sẽ phải bắt đầu ra sao?”
“Sáng ngày mai con hãy gặp Silvio tại chỗ các xe hàng. Hắn sẽ trao cho con một chiếc áo dài, loại
tốt nhất, không bị nhăn nhàu. Chúng được dệt từ lông dê và có thể chịu được những trận mưa lớn nhất,
được nhuộm bằng rễ cây mắm đỏ nên không bị bay màu. Ở bên trong cổ áo, con sẽ thấy có một ngôi
sao nhỏ được may vào đó. Đó là nhãn hiệu của Tola, nhà may áo dài tốt nhất. Cạnh ...
 





