Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Những vị thuốc quanh ta

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 16h:48' 19-03-2024
    Dung lượng: 4.9 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    _______________ ĐỨC MINH______________

    NHỮNG

    VỊ THUỐC
    QUANH TA
    Cây Cỏ, rau củ
    &sức khỏe của bạn

    l ê l N H A X U Á T B A N H À NỒI

    NHỮNG VỊ THUỐC QUANH TA

    Đức MINH

    NHỮNG VỊ THUỐC QUANH TA

    CÂY Cỏ, RAU CỦ VÀ SỨC KHOẺ
    CỦA BẠN

    NHÀ XUẤT BẦN HÀ NỘI

    lò/mó/ĐẲa
    Lãnh thổ Việt Nam nằm trọn trong vùng nhiệt đới
    với bốn miền khí hậu ở phía bắc, phía nam, miền
    Trung - Nam Trung bộ và biển đông. Khí hậu thay đổi
    theo mùa, từ thấp lên cao, từ bắc vào nam, từ đông
    sang tây, hình thành nên các miền và các vùng khí hậu
    khác nhau rõ rệt. Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho
    các loài cây, loài hoa phát triển.
    "Mùa nào, thức nấy" mỗi vùng miền đều có những
    loài hoa quả, rau củ đặc trưng. Thế nhưng ít ai biết
    rằng những loài hoa, những loài cây chúng ta trông
    thấy hay những những loại rau củ, quả mà chúng ta ăn
    hàng ngày lại là những vị thuốc quý đã được dân gian
    lưu truyền và sử dụng trong việc phòng và chữa nhiều
    chứng bệnh.
    Chính vì lý do này chúng tôi đã tổng hợp và biên
    soạn cuốn " Những vị thuốc quanh ta - Cây cỏ,

    rau củ và sức khỏe của bạn". Hy vọng với những
    5

    kiến thức thiết thực trong cuốn sách, bạn đọc sẽ hiểu
    thêm về giá trị dinh dưỡng cũng như giá trị chữa bệnh
    của nhữhg vị thuốc này, từ đó áp dụng vào thực tế một
    cách hiệu quả. Đây là những vị thuốc dễ kiếm, dễ áp
    dụng, ít gây tác dụng phụ, công dụng chữa bệnh cao.
    Mỗi vị thuốc có những tính năng riêng, vì vậy tuỹ theo
    sức khoẻ và bệnh tật của mỗi người để có sự lựa chọn
    phù hợp nhất.

    ó

    CHƯƠNG 1
    VỊ THUỐC Từ CẤC LOÀI HOA VÀ LOÀI CÂY

    i . v ịt h u ỉc t íc íc l o Aihoa
    Thế giới của các loài hoa rất phong phú và đa dạng,
    với vẻ đẹp quyến rũ và hương thơm hấp dẫn, hoa đem
    tươi vui đến cho mọi nhà và làm đẹp cho cuộc sống. Thế
    nhưng ít ai biết rằng, một số loài hoa còn được dùng
    làm thực phẩm và là vị thuốc quý có tác dụng phòng và
    chữa bệnh rất công hiệu.
    1. Hoa hồng
    a. Thành p h ầ n và tác dung
    Hoa hồng được tôn làm sứ giả của tình yêu nhờ vẻ
    đẹp thanh tú của nó. Hoa hồng có nhiều cánh, nhiều
    màu sắc như trắng, hồng, đỏ, vàng, hương thơm dịu và
    kín đáo.
    Trong hoa hồng chứa nhiều tinh dầu và đây là
    thành phần chữa bệnh chủ yếu. Nó kích thích và điều
    hoà hệ thần kinh của con người, đồng thòi gia tăng hoạt
    động của các tuyến nội tiết, xoá bỏ những rối loạn phức
    tạp trong các cơ quan của cơ thể và tái tạo tế bào.
    Cánh hoa hồng có chứa canxi - tác động đến quá
    trình trao đổi chất và tiêu hoá thức ăn; kali - thành
    7

    phần vô cùng quan trọng đối với hoạt động của tim;
    đồng (cu) - cải thiện tình hình hoạt động của các tuyến
    nội tiết, chữa trị mụn nhọt, dị ứng. Hoa hồng còn là vị
    thuốc chữa ho rất tốt cho trẻ em. Hồng đỏ có tác dụng
    cầm máu, phôi hợp vói mật ong chữa rộp lưỡi, lỗ loét
    miệng...
    b. B ài thuốc phối hợp
    - Chữa ho trẻ em: Lấy cánh hoa hồng trắng tươi
    trộn hoặc không trộn với nước quất và 1/2 thìa nhỏ mật
    ong đem chưng cách thuỷ cho trẻ uống.
    - Chữa hôi miệng: Hoa hồng 5g, hãm nưóc sôi để
    nguội ngậm, súc, rồi nhổ. Hoặc rửa sạch hoa hồng 5g
    nhai ngậm rồi nhổ.
    - Chữa viêm sưng tuyến vú: Hoa hồng 7 bông, đinh
    hương 7 nụ, cho cả 2 vào nồi cùng một lượng rượu vừa
    đủ. Nấu lên rồi uống nước, bỏ cái. Uôhg lúc no.
    Hoặc: Hoa hồng 30 bông (bỏ nhuỵ, cuống) phơi
    trong bóng râm, cho vào một lượng rượu vừa đủ, nấu sôi
    chắt lấy nước uôhg hơi nóng, uôhg lúc no. Dùng sóm sẽ
    có công hiệu rõ hơn.
    - Chữa chán ăn: Lấy một nắm to cánh hoa hồng đỏ,
    một nắm hoa cúc khô ngâm vào 2 lít nước sôi trong 25
    phút rồi đem lọc lấy nưốc pha đưòng vừa đủ làm nước
    uôhg hoặc chế thành xừô đựng trong chai để chỗ râm
    mát, uống dần. Chú ý dùng hoa hồng đỏ tốt hơn hồng
    trắng.
    - Kinh nguyệt không đều: Hoa hồng 5g, hoa quế 3g,
    rượu 50ml. Chưng cách thuỷ hay hấp cơm, để nguội
    uống.
    8

    Hoặc: Hoa hồng tươi 30 bông (bỏ nhuỵ, cuống),
    đường phèn 500g. Cho vào 1 lít nước sắc 3 lần (như sắc
    thuốíc) rồi dồn 3 nước lại còn 500ml cho đưòng phèn
    khuấy cho tan đều, cô thành cao, để nguội cho vào bình
    đậy kín, bảo quản cẩn thận dùng dần. Mỗi lần dùng 2 3 thìa canh. Ngày 3 lần với nước ấm.
    - Rong kinh, băng huyết: Ngâm 20 cánh hoa hồng
    trong 1 lít nước sôi trong 30 phút. Khi nưóc ngả màu đỏ
    thì cho thêm 50g đường, làm nưốc uống. Mỗi lần 200ml.
    - Kỳ kinh không đều (sớm hoặc muộn): Cánh hoa
    hồng 6 - 7g. Hãm nước sôi uống thay trà.
    2. Hoa đào
    a. Thành p h ầ n và tác dụng
    Hoa đào được trồng ở nhiều nưốc trên thế giới trong
    đó có Việt Nam, chủ yếu ỏ Lào Cai, Lạng Sơn, đào cảnh
    được trồng ỏ Hà Nội, Lâm Đồng. Hoa đào dùng làm
    thuốc thông tiểu tiện, kem dưõng da.
    Hoa đào tuy không thơm như nhiều thứ hoa khác
    nhưng ngưòi ta yêu thích nó vì màu hồng phai dịu
    dàng, màu đỏ tươi thắm làm vui cửa vui nhà trong
    những ngày xuân. Màu đỏ được coi là tượng trưng cho
    sự vui vẻ, may mắn, là biểu tượng cho mọi điều tốt
    lành... Cành đào nỏ đúng vào ngày đầu năm, sẽ là dấu
    hiệu một năm có nhiều may mắn và hạnh phúc. Ngoài
    tác dụng làm đẹp cho cuộc sống, hoa đào còn là vị thuốc
    quý.
    9

    Theo Đông y hoa đào tính bình, vị đắng, có tác
    dụng lợi thuỷ (thông tiểu tiện), hoạt huyết và nhuận
    tràng. Sách “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân
    viết: Hoa đào có tính đi xuống, thông đại tiện rất
    nhanh, có tác dụng tiêu tích trệ, toàn thân phù thũng.
    Hoa đào tươi tốt hơn hoa đào khô. Hoa đào phơi khô
    trong một năm sẽ mất nhiều tác dụng, hoa đào dùng
    làm thuốc phải là loại sắp nỏ hoặc mới chớm nỏ.
    b. Bài thuốc phối hợp
    - Đại tiểu tiện bí kẹt: Lấy hoa đào, thêm gạo tẻ, mật
    ong, đường trắng nấu thành cháo ăn. Tuy nhiên, khi
    khỏi bệnh phải ngừng ngay, không nên dùng lâu.
    - Kiết lỵ: Hoa đào 15 bông sắc uống ngày 3 lần.
    - Chữa các chứng cước khí, đau vùng tim: Dùng hoa
    đào khô tán bột, uống với nước ấm hoặc rượu vối liều từ
    3 - 5g trong một ngày.
    - Chữa chứng rụng tóc, hói đầu: Dùng bột hoa đào
    trộn đều với mỡ lợn hoặc dầu vừng rồi bôi lên vùng tổn
    thương sau khi đã rửa sạch bằng nước hoà với tro của
    rơm rạ.
    - Chữa chứng ngược tật (sốt rét): Dùng hoa đào tán
    bột uống, mỗi ngày 3g với rượu ấm.
    - Chữa béo phì: Uổng bột hoa đào mỗi ngày 3 lần,
    mỗi lần lg vào lúc đói.
    - Chữa các vết nám đen ở mặt: Dùng hoa đào 4
    phần, bạch dương bì 2 phần và bạch quả tử nhân 5
    phần, tất cả đem sấy khô, tán thành bột mịn, đựng

    10

    trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần lg
    ngay sau bữa ăn.
    Dùng hoa đào tươi 50g, nhân hạt bí xanh 50g, hai
    thứ nghiền nhỏ trộn với mật ong rồi bôi mỗi ngày vài
    lần lên da mặt.
    Dùng hoa đào tươi 250g và bạch chỉ 30g ngâm vói
    lOOOml rượu trắng, sau 1 tháng thì dùng được, mỗi
    ngày uống 2 lần, mỗi lần lOml.
    Dùng hoa đào lOg, hoa sen 15g hãm vối nước sôi
    trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uôhg thay
    trà trong ngày.
    - Phụ nữ muốn có được làn da trắng trẻo, mịn màng
    có thể dùng: Hoa đào 200g, nhân hạt bí xanh 250g, và
    bạch dương bì (vỏ cây bạch dương) lOOg. Các vị thuốc
    trên đều sấy hoặc phơi khô, tán bột, trộn thêm một chút
    đường trắng rồi đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi
    ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê sau bữa ăn. Hoặc
    có thể dùng hoa đào, hoa sen và hoa phù dung lượng
    bằng nhau, sắc lấy nưốc rửa mặt hàng ngày. Cũng có
    thể dùng hoa đào tươi 120g ngâm với 500ml rượu trắng,
    sau 7 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày lOml.
    Hoa đào 150g, nhân hạt bí xanh lOOg, vỏ quýt
    200g, tất cả đều phơi khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần,
    mỗi lần 8g với nưốc ấm sau bữa ăn. Muốn da trắng thì
    thêm nhân hạt bí xanh, nếu muốn da đỏ hồng thì thêm
    hoa đào.
    - Bổ thận, nhuận da và dưỡng nhan sắc, có thể
    dùng món ăn được chế từ hoa đào: hoa đào 20 bông, tôm
    11

    nõn 300g, củ cải 150g, hành tây 70g, tương cà chua 50g,
    dầu thực vật và gia vị vừa đủ; hoa đào tỉa lấy cánh rửa
    sạch, củ cải và hành tây rửa sạch thái mỏng, đổ dầu vào
    chảo, phi hành cho thơm rồi cho tôm, củ cải, hành tây
    vào xào to lửa, khi chín cho tương cà chua và gia vị vừa
    đủ, đổ ra đĩa, rắc cánh hoa đào lên trên, ăn nóng.
    - Chữa trứng cá, mụn nhọt trên da mặt: Dùng hoa
    đào và nhân hạt bí xanh vối liều lượng bằng nhau, phơi
    khô, tán bột, hoà với mật ong mà bôi hoặc dùng hoa đào
    và đan sa vối liều lượng như nhau, tán bột, uống mỗi
    ngày 3 lần, mỗi lần 4g vào lúc đói trong 10 - 20 ngày.
    - Trị mụn nhọt ở vùng lưng: dùng bột hoa đào hoà
    với giấm đặc mà bôi lên vùng bị tổn thương nhiều lần
    trong ngày.
    3. Hoa cúc
    a. Thành p h ầ n và tác dụng
    Hoa cúc gồm nhiều loại gồm cúc bách nhật, bạch
    cúc, kim cúc, cúc móc, cúc vạn thọ, mỗi loại có chứa
    những thành phần và tác dụng khác nhau:
    Cúc bách nhật vị ngọt hơi chát, tính bình, tác dụng
    khử đờm, bình suyễn, tiêu viêm, chông ho, dùng chữa
    hen suyễn, viêm phế quản cấp hay mạn tính, ho gà, lao
    phổi, ho ra máu, đau mắt, đau đầu, chữa sốt ỏ trẻ em,
    khóc thét về đêm, lỵ.
    Bạch cúc vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn, tác dụng
    tán phong thanh nhiệt, mát gan, sáng mắt, chữa phong

    12

    nhiệt cảm mạo, đau đầu, cao huyết áp, chóng mặt nhức
    đầu, mắt đỏ sưng đau, chảy nước mắt. Có thể dùng tươi:
    giã nhỏ đắp vào chỗ đau hay mụn nhọt, ghẻ lở.
    Kim cúc vị đắng, cay, tính hơi ôn, tác dụng thanh
    nhiệt, giải độc, chữa mụn nhọt sưng đau, đau mắt đỏ có
    sưng, đau đầu chóng mặt, chữa cảm lạnh, cúm, viêm
    não nhẹ, viêm mũi, viêm da mủ, viêm vú, hoa mắt, cao
    huyết áp, viêm gan, kiết lỵ, chảy nước mắt nhiều...
    Cúc móc vị cay, thơm, tính mát, không độc, làm tan
    màng nhầy, sáng mắt, trừ uế khí, được dùng chữa thổ
    huyết, chảy máu cam và nhiều chứng khác về huyết;
    chữa sởi, lở, ù tai, trị ho và làm thuốc điều kinh...
    Cúc vạn thọ vị đắng, mùi thơm, tính mát, tác dụng
    tiêu viêm, làm long dòm, trị ho. Lá cúc vạn thọ làm mát
    gan, phổi, giải nhiệt, chữa đau mắt, ho gà, viêm khí
    quản, viêm miệng, viêm hầu, đau răng; dùng đắp ngoài
    đê trị viêm tuyến mang tai, viêm vú, viêm da mủ.
    Nhìn chung, các loại cúc đều chứa nhiều tinh dầu
    nên có tác dụng chữa trị được nhiều căn bệnh.
    b. B ài thuốc phối hợp
    - Hen suyễn: Cúc bách nhật, tỳ bà diệp (lá nhót),
    bảy lá một hoa mỗi vị 6g, quả nhót lOg. sắc uống ngày
    một thang chia 3 lần, mỗi lần 60ml nước thuốc sắc.
    Dùng 3 ngày liền.
    - Trẻ em khóc đêm: Cúc bách nhật 5g, xác ve sầu
    3g, cức hoa 2g. sắc uống ngày một thang chia 3 lần, mỗi
    lần 300ml, uống 3 ngày.
    13

    - Cao huyết áp: Bạch cúc lOg, hoa hoè 8g, lạc nhân
    3g. Sắc uống ngày một thang, uống trong 10 ngày liền.
    - Hoa mắt chóng mặt: Bạch cúc, hoa thiên lý mỗi vị
    lOg, ngải cứu 12g; rau má, lá đinh lăng mỗi vị 8g. sắc
    uống ngày một thang chia 3 lần, uống liền 5 ngày.
    - Đau đầu: Bạch cúc 9g, hoa nhài 3g, rau má lOg,
    cúc bách nhật 5g. sắc uống ngày một thang chia 3 lần,
    uổng liền 3 - 5 ngày.
    - Cảm mạo phong nhiệt: Kim cúc 20g, củ sắn dây 15
    g, lá dâu tằm lOg, rễ cây lau 8g; bạc hà, cam thảo mỗi
    vị 5g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần.
    - Đinh nhọt: Kim cúc, bồ công anh mỗi vị 30g; từ
    hoa địa linh 20g; kim ngân 6g. sắc uống vào lúc đói,
    ngày một thang chia 3 lần, uống 3 ngày liền.
    - Viêm tuyến vú: Kim cúc 20g; hoa kim ngân, bồ
    công anh, cam thầo mỗi vị 12g. sắc uống ngày một
    thang chia 3 lần cho đến lúc khỏi. Bên ngoài dùng lá
    kim cúc cùng hành, muối, giã nhỏ đắp nơi đau ỏ vú một
    lần trong ngày.
    - Ho gà: Hoa cúc vạn thọ 15g, đường phèn lOg. sắc
    lấy 150ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liền 3 - 5
    ngày.
    - Đau răng: Hoa cúc vạn thọ 5 bông, lá nhãn 5 lá,
    muối ăn chừng 15 hạt. Rửa sạch giã nhỏ chia 3 phần
    đều nhau, mỗi lần đặt một phần thuốc vào nơi răng
    đau. Còn hai phần ngậm thay đổi mỗi lần một phần.

    14

    - Mụn nhọt chưa vố: Lá cúc vạn thọ lOg, lá táo ta
    15g, muối ăn 10 hạt. Rửa sạch, giã nhỏ, đắp vào nơi
    đau. Ngày thay một lần.
    4. Thiên lý
    а. Thành p h ầ n và tác dụng
    Thiên lý là loại cây nhỏ, mọc leo. Lá hình tim,
    thuôn. Hoa màu vàng xanh lục nhạt, được trồng ở nhiều
    nơi để lấy hoa, lá nấu canh ăn rất mát và bổ.
    Thành phần dinh dưõng có trong hoa thiên lý như
    chất xơ là 3%, chất đạm 2,8%, chất bột đường, các
    vitamin như c, Bj, B2, Pp, tiền vitamin A (caroten),
    cùng các khoáng chất cần cho cơ thể như calcium, phot
    pho, sắt, đặc biệt là kẽm (Zn) có hàm lượng khá cao. Lá
    non, ngọn và hoa thiên lý đều có thể sử dụng làm thực
    phẩm. Hoa thiên lý giàu chất kẽm, rất tốt cho trẻ em
    đang lớn, không chỉ giúp tăng cường sức đề kháng của
    cơ thể mà còn giúp người già giảm được chứng phì đại
    tuyến tiền liệt.
    б. B ài thuốc phối hợp
    - Phòng rôm sảy ngày hè: Hàng ngày nấu canh hoa
    thiên lý ăn. Với trẻ có thể nghiền lá và hoa thiên lý ra
    nấu lẫn với bột khi cho trẻ ăn dặm.
    - Trị giun kim: Theo kinh nghiệm dân gian, hoa
    thiên lý để trị giun kim rất hiệu quả bằng cách dùng
    40g hoa nấu canh ăn hàng ngày (dùng 7 ngày trở lên là
    khỏi).

    15

    - Giảm đau mình mẩy, nhức xương cốt: Hàng ngày
    lấy hoa thiên lý xào vói thịt bò hoặc chấm với muối
    vừng ăn sẽ có tác dụng.
    - Chữa mất ngủ: Hoa thiên lý 30g. Hoa nhài lOg.
    Tâm sen 15g. Ba vị thuốc trên sắc chung lấy nước uống
    trong ngày (dùng từ 3 - 5 ngày).
    Ngoài ra, canh hoa thiên lý còn có tác dụng mát, bổ
    và an thần, giúp dễ ngủ, ngủ ngon, bớt mệt mỏi, chữa
    sốt nhẹ, lao lực.
    5. Hoa hoè
    a. Thành p h ầ n và tác dụng
    Y học đã chứng minh hoa hoè có tác dụng tăng sức
    bền thành mạch, cầm máu. Nó cũng giúp tăng cưòng
    sức co bóp cơ tim, hạ huyết áp, hạ mỡ máu và làm chậm
    quá trình xơ vữa động mạch.
    Ngoài ra, hoa hoè còn có tác dụng kháng khuẩn,
    chông viêm, chông co thắt cơ trơn ỏ đưòng ruột và phế
    quản, gây hưng phấn nhẹ, lợi niệu, chống phóng xạ,
    bình suyễn và chống viêm loét.
    Thành phần hoá học chính trong hoa hoè là chất
    rutìn, đó là một loại vitamin p có tác dụng tăng cưòng
    sức chịu đựng của mao mạch, cơ thể thiếu chất này tính
    chịu đựng của mao mạch yếu, dễ đứt vỡ.
    Theo Đông y, hoa hoè vị đắng, tính hơi lạnh, có tác
    dụng thanh nhiệt, làm mát và cầm máu (lương huyết và
    chỉ huyết). Thưòng được dùng để chữa các chứng bệnh
    16

    chảy máu như đại tiện ra máu, tiểu tiện ra máu, băng
    huyết...
    Hoa hoè có thể kết hợp với hạ khô thảo, xuyên
    khung, địa long, cúc hoa, câu đằng chữa cao huyết áp;
    kết hợp với trắc bá diệp, chỉ xác chữa đại tiện ra máu;
    kết hợp với bách thảo sương, mẩu lệ nung chữa băng
    huyết, khí hư; kết hợp với hoa kim ngân chữa viêm loét,
    mụn nhọt...
    ò. B ài thuốc phối hợp
    - Chữa cao huyết áp: Hoa hoè, tang ký sinh mỗi thứ
    25g, hạ khô thảo, cúc hoa, thảo quyết minh mỗi thứ
    20g; xuyên khung, địa long mỗi thứ 15g, sắc uống.
    Nếù mất ngủ, thêm toan táo nhân sao 15g, dạ giao
    đằng 25g.
    Đau ngực thêm đan sâm 20g, qua lâu nhân 25g. Có
    cơn đau thắt ngực thêm huyền hồ sách 12g, phật thủ
    20g, bột tam thất 7,5g.
    Di chứng tai biến mạch não thêm ngưu bàng tử
    25g, câu đằng 30g.
    Xơ vữa động mạch thêm trạch tả 20g. Hoa hoè,
    sung uý tử mỗi thứ 15g, cát căn 30g, sắc uống.
    Nếu đau tức ngực thêm đảng sâm, hà thủ ô mỗi thứ
    30g.
    Hồi hộp, trống ngực và mất ngủ thì thêm toan táo
    nhân 15g.
    Tê tay chân thêm sơn tra 30g, địa long lOg. Tiểu
    đêm nhiều lần thêm sơn thù lOg, nhạc thung dung 15g.
    NVTQT2

    17

    - Đại tiện ra máu: Hoa hoè, trắc bá diệp, kinh giới
    tuệ và chỉ xác lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, mỗi
    lần uống 6g với nước cơm.
    Hoa hoè sống và sao mỗi thứ 15g, chi tử 30g tán
    bột, uống mỗi lần 6g.
    Hoa hoè 60g, địa du, thương truật mỗi thứ 45g, cam
    thảo 30g, sao thơm sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 2
    lần, mỗi lần 6g.
    Hoa hoè, quả hoè, hoạt thạch mỗi thứ 15g, sinh địa,
    hoa kìm ngân, đương quy mỗi thứ 12g, hoàng cầm,
    hoàng liên, hoàng bá mỗi thứ lOg, thăng ma, sài hồ, chỉ
    xác mỗi thứ 6g, cam thảo 3g, sắc uống.
    Nếu chảy máu nhiều, thêm kinh giói lOg, địa du,
    trắc bá diệp sao đen mỗi thứ lg.
    Thể trạng hư yếu thêm đảng sâm, hoàng kỳ, hoài
    sơn mỗi thứ 15g. Thiếu máu nhiều thêm hoàng kỳ 15g,
    thục địa 12g.
    - Tiểu tiện ra máu: Hoa hoè sao, uất kim mỗi thứ
    30g, tán bột, uống mỗi lần 6g.
    - Rong kinh, băng huyết, khí hư: Hoa hoè lậu năm
    30g, bách thảo sương 15g, tán bột, uông mỗi lần 9 - 12g
    vối rượu ấm để chữa băng huyết, rong kinh.
    Hoa hoè sao, mẫu lệ nung lượng bằng nhau, tán
    bột, uống mỗi lần 9g với rượu ấm để chữa bạch đới (khí
    hư màu trắng).
    - Chảy máu mũi: Hoa hoè và ô tặc cốt lượng bằng
    nhau, nửa sống nửa sao, tán bột, mỗi lần lấy một ít thổi
    vào lỗ mũi.
    18

    - Viêm loét: Hoa hoè, hoa kim ngân mỗi thứ 15g,
    sắc với 2 bát rượu uống cho ra mồ hôi. Với tổn thương
    viêm loét về mùa hạ, có thể dùng hoa hoè 60g sắc đặc
    rồi dùng bông thấm dịch thuốc bôi lên nơi bị bệnh nhiều
    lần trong ngày.
    Lưu ý: Hoa hoè tính hơi lạnh nên những người tỳ vị
    hư hàn (hay đau bụng do lạnh, thích chườm nóng, ăn
    kém, chậm tiêu, đại tiện thường xuyên lỏng nát) không
    được dùng vị thuốc này, nếu cần dùng thì phải phôi hợp
    với các dược liệu có tính ấm nóng.
    6. Hoa mào gà
    a. Thành p h ầ n và tác dụng
    Hoa mào gà còn có tên khác là kê quan hoa, kê công
    hoa, kê cốt tử hoa, mồng gà, lão lai thiểu. Hoa mào gà
    có đủ các chất béo, axit folic, vitamin Bj, B2, B4, B12, c,
    D, E, K, các axit amin, nguyên tố vi lượng và nhiều loại
    men thiên nhiên bao gồm cả enzyme nên có tác dụng
    cầm máu và chữa các chứng viêm loét. Theo Đông y,
    hoa mào gà vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt,
    trừ thấp, lương huyết, chỉ huyết, thường được dùng để
    chữa các chứng bệnh như xích bạch lỵ (bệnh lỵ trực
    khuẩn hoặc amip), trĩ lậu hạ huyết (trĩ xuất huyết), thổ
    huyết (nôn ra máu), khạc huyết (ho ra máu), tỵ nục
    (chảy máu mũi), huyết lâm (tiểu buốt và ra máu), băng
    lậu (rong huyết, rong kinh, băng huyết), đới hạ (khí hư),
    di tinh.
    b. B ài thuốc phối hơp
    - Cao huyết áp: Hoa mào gà 3 - 4 bông, hồng táo 10
    quả, sắc uống hàng ngày.
    19

    - Thổ huyết: Hoa mào'gà đỏ (dùng cả cây) lượng vừa
    đủ, sắc uống. Hoặc dùng hoa mào gà trắng tươi 15 - 24g
    (loại khô dùng 6 - 15g) hầm vối phổi lợn lượng vừa đủ
    trong 1 giò rồi chia ăn vài ba lần trong ngày.
    - Ho ra máu: Hoa mào gà trắng 30g, trắc bá diệp
    30g, cỏ nhọ nồi 30g, sắc uống. Hoặc hoa mào gà tươi
    24g, rễ cỏ tranh tươi 30g, sắc uôhg.
    - Lỵ trực khuẩn hoặc amip: Dùng hoa mào gà sắc
    vói rượu uống; nếu là xích lỵ (phân có máu) dùng hoa
    màu đỏ, bạch lỵ (phân chỉ có nhầy) dùng hoa màu
    trắng.
    - Thoát giang hạ huyết (lòi dom chảy máu): Hoa
    mào gà và phòng phong lượng bằng nhau, sấy khô tán
    bột, vo thành viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi ngày uống
    70 viên vối nước cơm khi đói. Hoặc dùng hoa mào gà
    trắng sao 30g, tông lư thán 30g, khương hoạt 30g, tán
    thành bột uống mỗi lần 6g vối nưốc cơm.
    - Tiểu buốít và ra máu: Hoa mào gà trắng đốt tồn
    tính, mỗi ngày uống 15 - 20g vối nước cơm hoặc dùng
    hoa mào gà 15g sắc uôhg.
    - Di tinh: Hoa mào gà trắng 30g, kim ti thảo 15g,
    kim anh tử 15g, sắc uống.
    - Nhọt độc vùng gáy: Hoa mào gà tươi, nhất điểm
    hồng tươi và liên tử thảo tươi lượng bằng nhau, rửa
    sạch giã nát, chế thêm một chút đưòng đỏ rồi đắp vào
    nhọt độc.
    - Trị lồ loét: Hoa mào gà 3g, ngũ bội tử 3g, một chút
    băng phiến, tất cả tán bột, trộn với mật lợn rồi bôi lên
    vùng lở loét.
    20

    - Bế kinh: Hoa mào gà tươi 24g hầm với 60g thịt lợn
    nạc, chia vài lần ăn trong ngày.
    - Kinh nguyệt quá nhiều: Hoa mào gà lượng vừa
    đủ, sấy khô tán bột, uống mỗi lần 6g khi đói với một
    chút rượu. Hoặc dùng bài hoa mào gà sao cháy tán bột,
    uống mỗi lần 6 - 9g vối nưốc ấm.
    - Kinh nguyệt không đều: Hoa mào gà đỏ và trắng
    mỗi loại 9g sắc uống. Hoặc dùng hoa mào gà trắng 15g,
    long nhãn hoa 12g, ích mẫu thảo 9g, thịt lợn nạc lượng
    vừa đủ, hầm ăn, nếu có kèm khí hư thì gia thêm vỏ
    trắng rễ tần bì 9g.
    - Khí hư: Nếu là bạch đới (khí hư màu trắng) dùng
    hoa mào gà trắng, xích đới (khí hư có màu đỏ) dùng hoa
    mào gà đỏ, sấy khô tán bột, mỗi ngày uôhg 9g vào sáng
    sớm khi đói. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15g, bạch truật
    9g, bạch linh 9g, hoa mã đề tươi 30g, trứng gà 2 quả,
    sắc uống.
    - Thai lậu (có thai không đau bụng mà thỉnh
    thoảng ra máu): Hoa mào gà trắng sao cháy, long nhãn
    lOg, sắc nửa rượu nửa nước uống.
    - Rong huyết, rong kinh, băng huyết: Hoa mào gà
    khô 24g sắc uống. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15g, phòng
    phong 6g, tông lư thán lOg, sắc uống. Hoặc: Hoa mào gà
    và trắc bá diệp lượng bằng nhau, sao cháy tồn tính, mỗi
    ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g.
    - Lên mề đay: Hoa mào gà dùng cả cây sắc uông và
    ngâm rửa, nếu nốt sẩn màu đỏ thì dùng hoa màu đỏ,
    nếu sắc trắng thì dùng hoa màu trắng.
    21

    - Ho ra máu: Hoa mào gà đỏ 15g, lá huyết dụ 20g
    sao cháy, lá trắc bá 20g sao cháy, cỏ nhọ nồi 20g. sắc
    uống ngày một thang.
    - Tiêu chảy: Hoa mào gà lOg, vỏ dộp cây ổi 8g, vỏ
    quả lựu lOg. Sắc uống ngày một thang.
    - Lỵ lâu ngày: Hoa mào gà 20g, cỏ seo gà 20g, lá mơ
    lông 20g. Sắc uống ngày một thang.
    - Sốt xuất huyết: Hoa mào gà 20g, lá trắc bá sao
    đèn 20g, hoa hoè sao đen 15g, ké đầu ngựa 15g, lá dâu
    20g. Sắc uống ngày một thang.
    - Viêm đường tiết niệu (tiểu buốt, tiểu dắt): Hoa
    mào gà 20g, bồ công anh 20g, mã đề 20g, râu ngô 15g,
    rau má 20g. sắc uôhg ngày một thang.
    7. Hoa đinh hương
    a. Thành p h ầ n và tác dụng
    Hoa đinh hương còn có tên khác là đinh tử hương,
    kệ tử hương. Hoa màu đỏ tươi.
    Hoa đinh hương thưòng được dùng chữa các chứng
    bệnh như nấc, nôn, tiêu chảy, kiết lỵ, đau bụng do lạnh,
    đau răng... Nụ đinh hương có mùi thơm, màu hơi vàng
    nâu và rắn; loại màu đen và có mọt là kém hoặc đã để
    quá lâu.
    Hoa đinh hương chứa nhiều tinh dầu vối hàm lượng
    15 - 20% ở nụ hoa, 5 - 6% ở cuống hoa, còn lại là ỏ lá.
    Tinh dầu hoa đinh hương là chất lỏng nặng hơn nưốc,
    không màu hoặc có màu vàng, mùi vị đặc trưng. Ngoài
    22

    ra hoa đinh hương còn chứa protein, lipit, carbohydrat
    nên có tác dụng chữa trị đối với một số loại bệnh.
    Theo Đông y, đinh hương vị cay, tính ấm, vào bốn
    đường kinh phế, tỳ, vị và thận, có công dụng ôn trung
    (làm ấm bụng), noãn thận (làm ấm thận), kích thích
    tiêu hoá.
    Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy đinh hương
    có tác dụng dược lý khá phong phú làm ức chế sự phát
    triển của nhiều vi khuẩn (như trực khuẩn lỵ, thương
    hàn, phó thương hàn, bạch hầu, than, tụ cầu vàng),
    chông viêm loét đường tiêu hoá, kích thích tiết dịch mật
    và dạ dày nên thúc đẩy quá trình tiêu hoá, giảm đau,
    chống viêm...
    b. B ài thuốc phối hợp
    - Xuất tinh sốm: Đinh hương 20g, tế tân 20g đem
    ngâm với lOOml rượu 75%, sau nửa tháng thì dùng
    được. Khi dùng, lấy dịch thuốc xoa lên đầu dương vật,
    sau chừng vài phút có thể hành sự.
    - Bệnh khốp: Đinh hương 20g, long não 12g, cồn 90°
    250ml. Ngâm 7 ngày đêm, lọc bỏ bã. Khi dùng, lấy bông
    thấm thuốíc nắn bóp nơi đau nhức, mỗi ngày 2 lần.
    - Hôi nách: Đinh hương 18g, hồng thăng đơn 27g,
    thạch cao 45g. Tất cả tán thành bột thật mịn, trộn đều,
    đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày lấy một chút bột
    thuốic thoa đều vào nách, làm liên tục trong 5 ngày.
    - Sưng đau chân răng: Đinh hương, xuyên tiêu
    lượng bằng nhau, tán thành bột mịn, thêm ít băng
    phiến, trộn vối mật ong, bôi hàng ngày.
    23

    - Viêm loét miệng: Đinh hương 5g tán thành bột
    mịn, ngâm với nước sạch, sau 4 giờ thì dùng được, lấy
    tăm bông thấm dịch thuốc bôi vào vết loét.
    - Viêm xoang, hơi thỏ hôi, hắt hơi, sổ mũi: Dùng
    đinh hương bọc vào bông, thỉnh thoảng nút vào mũi.
    - Nứt đầu vú: Đinh hương 5g tán bột, đường đỏ 5g,
    hai thứ trộn đều, chế thêm 1 cốc rượu trắng; đem đun
    cho thật khô rồi lại tán mịn, hoà với dầu vừng, bôi lên
    vùng tổn thương.
    - Viêm nhiễm đưòng hô hấp, đặc biệt là vùng mũi,
    xoang mặt: Tinh dầu đinh hương, tinh dầu bạch đàn,
    menthol, trần bì, hạt mùi, natri bicarbonat, axit citric
    trộn đều, làm thành viên to. Mỗi lần xông họng 2 - 3g.
    Có thể hoà vào nước, ngậm súc để cho tinh dầu bay lên.
    - Nấc và nôn do hư hàn: Đinh hương, thị đế, nhân
    sâm, sinh khương mỗi vị 9g, sắc uôhg. Hoặc: Đường
    trắng 250g thêm một chút nước rồi đun nhỏ lửa cho tan
    hết, cho gừng tươi giã nát 30g, đinh hương 5g vào đun
    cho đến khi tạo thành dạng keo, sờ tay không dính là
    được. Đổ ra khay có thoa dầu lạc, đợi nguội rồi cắt
    thành 50 miếng nhỏ, mỗi ngày ăn một vài miếng sau
    bũa cơm.
    - Thổ tả: Đinh hương 2 nụ, rượu vàng 50ml, cho vào
    bát hấp cách thuỷ trong 10 phút, sau đó bỏ bã uôhg
    rượu.
    - Liệt ruột cơ năng: Đinh hương 30 - 60g tán bột,
    trộn với rượu mạnh hoặc nước rồi đắp vào vùng rốn
    (đưòng kính chừng 6 - 8cm), dùng băng cồ' định. Hoặc:
    24

    Đinh hương, mộc hương, nhục quế, xạ hương tất cả tán
    bột, đắp vào rôn.
    - Đại tiện lỏng: Đinh hương 30g, hạt mã đề sao 20g,
    tất bạt lOg, hồ- tiêu 5g, nhục quế 5g. Tất cả tán thành
    bột mịn, đựng trong lọ kín, mỗi lần lấy lOOmg bột thuốc
    hoà nưốc đắp vào rốn, dùng băng cố định lại, 1 - 2 ngày
    thay thuốc một lần.
    Hoặc: Đinh hương 5 - lOg, nhục quế 4 - 6g, mộc
    hương 5 - lOg, tất cả tán thành bột mịn, đắp vào rốn.
    Hoặc: Đinh hương 3g, sa nhân 6g, bạch truật 12g, tán
    bột, uống mỗi lần 2 - 4g, ngày 2 - 3 lần.
    8. Hoa kim ngân
    a. Thành p h ầ n và tác dụng
    Hoa kim ngân (hay còn gọi kim ngân hoa), là cây
    leo bằng thân quấn, cành non có lớp lông bao phủ gồm
    lông đơn, ngắn, sau nhẵn, màu hơi đỏ có vân.
    Cụm hoa mọc ở kẽ các lá tận cùng, cuống hoa có
    lông, dài 6 - 22mm, lá bắc giông các lá con hình mũi
    mác, có cuống dài 15 - 25mm; lá bắc con tròn, dài
    l,5mm, lông thưa ỏ mép; đài có 5 phiến hình mũi mác,
    mảnh, dài 1 - l,5mm, đôi khi không bằng nhau, có lông;
    tràng màu trắng sau chuyển thành màu vàng có lông
    mịn và lông tuyến ỏ ngoài, thơm, ống tràng dài 18 20mm, môi dài 15 - 18mm; 5 nhuỵ thò ra ngoài, đính ở
    họng tràng; chỉ nhuỵ nhẵn, bao phấn hình mũi mác
    đính lưng; bầu nhẵn. Quả hình cầu màu đen.
    25

    Nụ hoa hình gậy, hơi cong, dài 2 - 5cm, đường kính
    đạt tới 5mm. Mặt ngoài màu vàng tói vàng nâu, phủ
    đầy lông ngắn. Mùi thơm nhẹ, vị đắng. Hoa kim ngân
    dễ hút ẩm, dễ mốc biến màu, mất hương vị, nên phải để
    nơi khô ráo, tránh ẩm.
    Theo Đông y: Hoa kim ngân có vị ngọt, hơi đắng,
    tính mát, không độc, vào 4 kinh tâm, phế, vị và tỳ, có
    tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát khuẩn.
    Hoa mới nở có màu trắng, sau ngả sang màu vàng
    trang nhã. Hoa kim ngân là vị thuốc chữa mụn nhọt,
    mẩn ngứa do dị ứng, viêm mũi do dị ứng, thấp khớp...
    b. Bài thuốc phổi hợp
    - Chữa mẩn ngứa, dị ứng: Hoa kim ngân 20g,
    huyền sâm TOg, sinh địa 8g, thổ phục linh 6g, liên kiều
    lOg, hoàng đằng 8g, mạch môn 8g, quyết minh tử (sao)
    6g. Cách dùng: cho 800ml nước sắc còn 200ml nưốc,
    uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần.
    - Chữa mụn nhọt: Hoa kim ngân 6g, cam thảo 3g,
    nước 200ml, sắc còn lOOml chia 2 hay 3 lần uống trong
    ngày
    - Chữa cảm sốt: Hoa kim ngân 40g, liên kiều 40g,
    kinh giối tuệ 16g, cát cánh 24g, đạm đậu xị 20g, bạc hà
    24g, ngưu bàng tử 24g, trúc diệp 16g. Tất cả sấy khô
    tán bột. Có thể làm thành viên. Ngày uống 1 - 2 lần,
    mỗi lần 12g.
    - Chữa cảm cúm: Hoa kim ngân 4g, tía tô 3g, kinh
    giối 3g, cam thảo đất 3g, cúc tần hay sài hồ nam 3g,
    mạn kinh 2g, gừng 3 lát. Tất cả dùng lá phơi khô, sắc
    uống.
    26

    - Chữa bép phì: Hoa kim ngân, hoa cúc, sơn tra mỗi
    vị lOg. Các vị thuốc đem hãm với nưốc sôi trong bình
    kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà
    trong ngày. Loại trà này đặc biệt tốt cho những người
    thừa cân và béo phì có kèm theo cao huyết áp và rối
    loạn lipit máu thuộc thể vị nhiệt, biểu hiện bằng các
    triệu chứng hoa mắt chóng mặt, nặng đầu, tay chân
    buồn mỏi, chóng đói, miệng khát, thích uống nưóc mát,
    chất lưõi đỏ, rêu lưỡi vàng dính.
    - Chữa bệnh sởi: Hoa kim ngân 12g, ngưu bàng 8g;
    phù bình, đạm đậu xị, mỗi vị 12g; liên kiều, cát cánh,
    thăng ma mỗi vị 8g; xác ve sầu 4g.
    Hoa kim ngân 30g, cỏ ban (cây nọc sỏi) 30g. Dùng
    tươi, giã nhỏ, cho 50ml nưốc đã chín, gạn lấy nước, đun
    cách thuỷ hoặc hấp cơm, ngày uống 2 lần.
    Hoa kim ngân 16g, ké đầu ngựa 3g, sinh địa 8g,
    huyền sâm lOg, kinh giối 4g. Cho 600ml nước, sắc còn
    lOOml. Uổng ngày 1 thang, chia hai lần.
    - Chữa sốt xuất huyết thể nhẹ (độ 1 và 2): cỏ nhọ
    nồi 20g, hoa kim ngân 12g, rễ cỏ tranh 20g (sao vàng)
    8g, sài đất 20g, hạ khô thảo 12g, hoa hoè (sao vàng)
    lOg, gừng tươi 3 lát. Cách dùng: Cho 600ml nước sạch,
    đun sôi 30 phút, để ấm uống ngày 3 lần.
    9. Hoa nhài
    a. Thành p h ầ n và tác dụng
    Hoa nhài được trồng làm cảnh ở khắp nước ta. Hoa
    nhài thường có màu trắng, hoa hay nở vào ban đêm,

    27

    cũng có khi nỏ rộ vào giữa trưa, khi đó hoa sẽ có hương
    thơm ngát và khí vị rất đặc biệt.
    Trong hoa nhài có một chất béo thơm, hàm lượng
    0,08%. Thành phần chủ yếu của chất này là este íòrmic
    axeticbenzoic - lynalil và este anthranili metyl. Hoa
    nhài được dùng làm mỹ phẩm, ưốp trà và còn là vị
    thuốc hay chữa được nhiều bệnh.
    Theo Đông y, hoa nhài có tính bình, hơi hàn, vị
    đắng có tác dựng tốt trong việc chữa bệnh như: thanh
    nhiệt, giải độc, lợi thấp, tiêu thũng, hoạt huyết tán ứ,
    điều kinh lợi niệu. Chuyên trị các bệnh nặng như viêm
    khốp cấp tính, lao phổi thổ huyết, cảm nhiễm niệu đạo,
    bệnh về vú, viêm tuyến tiền liệt, đối hạ, tiểu đưòng, ung
    thư...
    b. B ài thuốc phối hợp
    - Chứng tiểu ra máu: Hoa nhài 15g, hoàng tinh 5g
    đem nấu vói thịt lợn để ăn.
    - Ho ra máu: Dùng hoa nhài giã nát, thêm chút mật
    ong uống trị chứng bệnh ho ra máu. Có thể thêm nước
    sắc uống để khôi phục niệu đạo sau cảm nhiễm.
    - Đầu gôì đau, nhức mỏi: Hoa nhài 50g, giò lợn
    200g, đem nấu để dùng cả cái lẫn nước, trị được các
    chứng eo lưng và chân vô lực, đầu gối đau.
    - Chữa ngoại cảm, phát sốt: Hoa nhài 4g, chè xanh
    lOg, thảo quả 3g. Nấu uống ngày 1 thang, chia 3 lần.
    - Tiêu chảy: Hoa nhài 6g, vỏ ổi 8g, thảo quả 3g. sắc
    uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần. Uôhg liên tục 3 - 5

    28

    ngày; hoặc hoa nhài lOg, vỏ quả lựu lOg, cam thảo đất
    16g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.
    - Mất ngủ: Hoa nhài lOg, bồ công anh 20g, hoa kim
    ngân 20g, cam thảo đất lOg, sắc uống ngày 1 thang chia
    2 - 3 lầm
    - Nhức đầu, hoa mắt chóng mặt: Hoa nhài 6g, hoa
    cúc vàng (kim cúc) 6g. Hãm uống thay trà.
    - Cao huyết áp: Hoa nhài lOg, hoa hoè lOg, kim cúc
    6g, hoa đại 6g. sắc uống ngày 1 thang.
    - Hen suyễn: Dùng hoa nhài 3g, đậu phụ lOOg hãm
    vào nước sôi uống trị được phế ung, hen suyễn, ngực
    đầy khí suyễn, hô hấp không thuận.
    - Chữa tiêu khát, tràng vị: Hoa nhài 3g sắc uống
    thay trà, chữa các chứng lỵ, nếu thêm râu ngô 20g thì
    cải thiện được công năng tràng vị, chữa các bệnh tiêu
    khát, vật vã không yên.
    - Hay đói, ngực đầy, bụng trướng, tâm thần bất an:
    Hoa nhài 5g, tuỷ lợn 200g, bạch quả 3g, sắc với nước
    trong 1 giờ trị được các bệnh khát tiểu nhiều, hay đói,
    ngực đầy, bụng trướng, tâm thần bất an.
    - Thanh thuần tỉnh não, khai khiếu giải phiền: Hoa
    nhài khô 1 thìa, cho hoa nhài vào bình trà, rót 350ml
    nước sôi để hãm, 5 phút sau trà có mùi thơm, uống
    được, ngưòi thích ngọt thì cho thêm mật ong đê nguội
    uống càng tốt.
    10. Ngọc lan
    a. Thành p h ầ n và tác dụng
    Ngọc lan là loại hoa có mùi thơm ngất ngây rất đặc
    biệt, là loài thực vật thuộc họ mộc lan. Hoa ngọc lan có
    29

    2 loại quen thuộc thưòng gặp là ngọc lan trắng và ngọc
    lan vàng. Mùa xuân (vào khoảng tháng 2) là lúc ngọc
    lan nở. Khi nụ hoa chưa nở, thu hoạch, cắt bỏ cành,
    phơi khô trong bóng râm (phơi âm can) dùng để làm
    thuốc. Trong hoa ngọc lan chứa nhiều tinh dầu giúp
    tinh thần sảng khoái, thư giãn.
    Theo Đông y, hoa ngọc lan có vị đắng, cay, hơi ấm,
    có tác dụng chống ho làm long dòm, lợi ...
     
    Gửi ý kiến