Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Nữ bác học Mari Curie

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 10h:07' 05-03-2024
    Dung lượng: 1.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Mục Lục
    LỜI TÁC GIẢ
    CHƯƠNG I
    CHƯƠNG II
    CHƯƠNG III
    CHƯƠNG IV
    CHƯƠNG V
    CHƯƠNG VI
    CHƯƠNG VII
    CHƯƠNG XVIII
    CHƯƠNG IX
    CHƯƠNG X
    CHƯƠNG XI
    CHƯƠNG XII
    CHƯƠNG XIII
    CHƯƠNG XIV
    CHƯƠNG XV
    CHƯƠNG XVI
    CHƯƠNG XVII
    CHƯƠNG XIX
    CHƯƠNG XX
    CHƯƠNG XXI
    CHƯƠNG XXII
    CHƯƠNG XXIII
    CHƯƠNG XXIV
    CHƯƠNG XXV
    CHƯƠNG XXVI
    CHƯƠNG XXVII

    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    https://thuviensach.vn

    LỜI GIỚI THIỆU

    Trong những nhà bác học lớn của thế kỷ 20, thế kỷ của vật lý học, có
    một hình ảnh sáng ngời rất đỗi gần gũi chúng ta. Đó là Ma-ri Qui-ri, nữ bác
    học ngừơi Ba Lan, mà tên tuổi cùng với chồng là nhà vật lý Pháp Pi-e Qui-ri,
    gắn liền với một giai đoạn phát minh khoa học và phát triển kỹ thuật vô cùng
    rạng rỡ trong lịch sử văn minh loài người.

    Một khám phá đảo lộn cả nền triết học và vật lý của mấy thế kỷ
    trước, là ánh bình minh của thời đại nguyên tử, trong điều kiện nghiên cứu
    thô sơ, tạm bợ “bốn năm ở một nhà xe” nghe như chuyện thần tiên lại do
    một phụ nữ rụt rè, thầm lặng, tính tình nếp sống chẳng khác gì chị em lao
    động bình dị, chất phác, nhưng tâm hồn, tư tưởng có tầm vóc thời đại.

    Cuối thế kỷ 19, nước Ba Lan còn bị vùi dập dưới ách phong kiến phụ
    thuộc. Do tư tưởng trọng năm khinh nữ, thời đó phụ nữ không được vào Đại
    học, Ma-ri-a Xkhua-dốp-xka, con một gia đình nhà giáo yêu nước bị chèn
    ép, đã không chịu sống trói buộc, thấp hèn, ra sức học hỏi tích luỹ kiến thức
    với một lý tưởng quán xuyến cả cuộc đời say mê khoa học.

    Em bé chưa đầy mười hai tuổi mồ côi mẹ, thời thơ ấu bị đau thương
    đè nén, càng yêu quê hương đất nước, yêu từ tiếng nói đến lịch sử dân tộc.
    Đang học trung học, mặc dầu bị cấm đoán Ma-ri-a Xkhua-dôp-xka vẫn lén
    lút tìm dự các buổi “Đại học di động”. Say sưa với những luồng tư tưởng
    tiến bộ hướng về tầng lớp lao động.

    Cô gái mười bảy, hiếu thảo tận tình, muốn giúp chị có tiền ra học
    nước ngoài, đỡ đần cha và dành dụm thêm cho mình, đã đi tỉnh xa dạy tư
    tám năm ròng rã, gần gũi con em nông dân với một lòng yêu chân thành. Tha
    thiết khêu gợi cho các em thấy vẻ đẹp của tiếng nói mẹ đẻ và lịch sử đất
    nước Ba Lan. Cô tìm thấy ở các em “niềm vui lớn và nguồn an ủi chính” của
    mình, ở địa phương hẻo lánh, không người hướng dẫn, cô vẫn tự mình cố
    gắng học thêm.

    Cô nữ sinh viên 25 tuổi, miệt mài sách vở, kham khổ ba năm để
    giành hai bằng cử nhân toán lý, đỗ nhất và nhì đồng thời trang bị cho mình
    một vốn kiến thức khoa học cơ bản vững chắc. Khi tốt nghiệp xong, cô đã
    https://thuviensach.vn

    hoàn lại học bổng mình nhận trước kia, để số tiền này lại có thể giúp một
    bạn học nghèp khác.

    Người mẹ hai con vẫn thi thạc sĩ đỗ đầu, lại chuẩn bị thi tiến sĩ. Bốn
    mươi lăm tháng trời vất vả, nghiên cứu các chất phóng xạ, cùng chồng tìm ra
    hai kim loại mới, và cả phương thức khai thác. Một thành công kỳ diệu đã
    đem lại cho hai vợ chồng giải Noben vật lý 1903, chung với một nhà bác học
    nổi tiếng đương thời.

    Người quả phụ 38 tuổi, trong bước thảm khốc của đời mình đã nén
    đau thương, tần tảo lao động nuôi con và chăm sóc bố chồng già, lại đảm
    đương trọng trách thay chồng một cách xuất sắc, tiếp tục nghiên cứu, phát
    minh, đặt nền móng cho một khoa học và một công nghiệp mới, giật thêm
    một Noben về hoá học. Có thể cho con cái một gia tài lớn, nhưng bà đã đem
    lại cho nhà nước Pháp mảnh kim loại trị giá một triệu “francs” và đem tiền
    thưởng Noben cùng trang sức của mình chuyển thành quốc trái, với ý nghĩ
    đơn giản mà cao đẹp: “con cái nó phải tự kiếm sống là điều lành mạnh tất
    nhiên”. dạy dỗ con gái thành tài, sau này cũng nối nghiệp mẹ và cũng được
    giải Noben (1934).

    Nữ bác học nổi tiếng vẫn giữ bản chất tốt đẹp của một người lao
    động, cần mẫn, giản dị, không hay nói đến mình, không thích tiền tài, danh
    vọng, chỉ say sưa nghiên cứu, chỉ muốn làm việc và cống hiến. Trong chếin
    tranh, ra tiền tuyến với chiếc xe điện quang tự thiết kế, bà lăn lộn khắp chiến
    trường cứu chữa thương binh, như một chiến sĩ, chẳng nề hà gian khổ, chẳng
    đòi hỏi đối xử riêng biệt. Nhìn rõ trách nhiệm của người trí thức “không thể
    đứng trên cuộc chiến đấu và sẽ phản lại sứ mệnh của mình, nếu không kiên
    trì bảo vệ văn minh và tự do tư tưởng”. Chính nhờ đi vào thực tế cuộc sống
    chiến đấu mà bà đã có thêm nhiều thành tựu độc đáo về khoa học ứng dụng
    và kỹ thuật thực hành. Như đã thấy được đây là cả một sự nghiệp quần
    chúng, bà đã đào tạo hàng trăm người làm công tác khoa học kỹ thuật là con
    em nhân dân lao động cho yêu cầu thời chiến. Càng tha thiết đến tiền đồ
    khoa học, bà càng quan tâm đến “những tài năng chưa phát triển, trong
    những tầng lớp xã hội ít được nâng đỡ” vì “một nông dân, một công dân, biết
    đâu chẳng là mầm mống một nhà văn, nhà bác học, hoạ sĩ?”

    Nhà tri thức chân chính và từng trải đã thành một người có tài tổ
    chức và cổ vũ, ra sức vun đắp thế hệ trẻ với lòng hy sinh cao cả, vừa chỉ đạo
    chuyện môn, vừa hoạt động xã hội “chú trọng phát triển các học bổng quốc
    https://thuviensach.vn

    tế về nghiên cứu khoa học, đấu tranh cho một nền văn hoá quốc tế vẫn tôn
    trọng các nền văn hoá dân tộc, bảo vệ nhân cách và tài năng bất cứ nơi đâu,
    củng cố sức mạnh tinh thần lớn lao của khoa học trên thế giới”.

    Qua hình ảnh Ma-ri, người phụ nữ Ba Lan giàu tình cảm ước mơ,
    nhưng còn giàu nghị lực và ý chí hơn nữa, luôn luôn cưỡng lại số phận tàn
    khốc, vươn lên làm tròn nhiệm vụ mà cuộc sống và lịch sử đặt cho mình,
    ngay cả lúc đau khổ nhất, hàng vạn chị em phụ nữ Việt Nam có thể tìm thấy
    những nét về thời tuổi trẻ và đời sống tình cảm của mình, của những con
    người dũng cảm, bất khuất, trung hậu, đảm đang trên hai miền đất nước. Và
    kiều bào ta trên thế giới bấy lâu da diết nhớ quê cha đất tổ giờ đây thông cảm
    hơn bao giờ hết với người trí thức Ba Lan bốn chục năm xa quê hương vẫn
    không quên được tiếng mẹ đẻ và dòng sông Vit-xtuyn, vẫn tha thiết với vận
    mệnh và tiền đồ tổ quốc Ba Lan, đã tìm cách tặng thủ đô Vác-xô-vi của lòng
    mình một viện Ra-đi-om, để đền đáp ơn nghĩa chôn nhau cắt rốn vì đã gửi
    gấm cả cuộc đời hoạt động khoa học trên đất nước người.

    Ngày nay trên đất nước đang lớn lên, có bao khó khăn, thử thách
    chúng ta càng được khích lệ và tin tưởng khi nghĩ đến điều kiện làm việc rất
    đỗi khó khăn mà lại thành công rực rỡ của Ma-ri Qui-ri. Chị em phụ nữ ta
    đều có thể học tập những điều bổ ích ở cuộc đời và sự nghiệp của Ma-ri Quiri ở lòng say mê học hỏi nghiên cứu phát minh khoa học không vì tiếng hay
    danh vọng và đức tính cần cù, nhẫn nại, giản dị, thanh liêm.

    Học tập giờ đây đâu chỉ là nhu cầu cuộc sống mà còn là phẩm chất
    đạo đức, là đấu tranh với thiên nhiên và bản thân khắc phục mọi trở ngại khó
    khăn do dốt nát sinh ra, nâng cao mại trình độ tiếp thu và tích luỹ kiến thức
    của dân tộc và thế giới nhằm giải quyết tốt đẹp mọi vấn đề đời sống con
    người và xã hội, vì ngày mai hạnh phúc huy hoàng của nhân dân ta, dân tộc
    ta, Tổ quốc ta.

    Trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn “Nữ bác học Ma-ri Qui-ri” do
    con gái bà là E-vơ Qui-ri viết, nguyên bản tiếng Pháp đã được dịch ra 26 thứ
    tiếng. Một tác phẩm sinh động chân thật về một phụ nữ đại tài, một nhà khoa
    học chân chính .

    Tháng 4 năm 1982

    ĐÀO TRỌNG TỪ

    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    MỤC LỤC
    LỜI TÁC GIẢ
    CHƯƠNG I
    CHƯƠNG II
    CHƯƠNG III
    CHƯƠNG IV
    CHƯƠNG V
    CHƯƠNG VI
    CHƯƠNG VII
    CHƯƠNG XVIII
    CHƯƠNG IX
    CHƯƠNG X
    CHƯƠNG XI
    CHƯƠNG XII
    CHƯƠNG XIII
    CHƯƠNG XIV
    CHƯƠNG XV
    CHƯƠNG XVI
    CHƯƠNG XVII
    CHƯƠNG XVIII
    CHƯƠNG XIX
    CHƯƠNG XX
    CHƯƠNG XXI
    CHƯƠNG XXII
    CHƯƠNG XXIII
    CHƯƠNG XXIV
    CHƯƠNG XXV
    CHƯƠNG XXVI
    https://thuviensach.vn

    CHƯƠNG XXVII

    https://thuviensach.vn

    LỜI TÁC GIẢ


    Cuộc đời của Ma-ri Qui-ri rất nhiều nét cao siêu đến nỗi người ta
    muốn kể lại như một câu chuyện cổ tích.

    *

    * *

    Một phụ nữ thuộc một dân tộc bị áp bức, nghèo và đẹp. Theo tiếng
    gọi của một chí hướng mãnh liệt, bà rời tổ quốc Ba Lan của mình, đến Pa-ri
    học, sống những năm cô đơn túng bách.

    Bà gặp Pi-e Qui-ri, cùng một thiên tư hiếm có. Hai người lấy nhau.
    Hạnh phúc của họ có một chất lượng duy nhất.

    Qua nỗ lực kiên trì và vô vàn gian khổ, Ma-ri và Pi-e Qui-ri tìm ra
    một chất màu nhiệm: đó là nguyên tố Ra-đi. Phát minh này không chỉ khai
    sinh ra một khoa học mới và một triết học mới, nó còn mang đến cho loài
    người cách điều trị một căn bệnh khủng khiếp.

    Giữa lúc vinh quang của hai nhà bác học lan khắp thế giới, tai ương
    đổ xuống đầu Ma-ri. Phút chốc, cái chết cướp đi của bà người bạn đời kì
    diệu.

    Đau khổ và bệnh hoạn không sờn lòng, bà tiếp tục công việc đang
    tiến hành, phát triển một cách rực rỡ bộ môn khoa học do hai vợ chồng sáng
    lập ra.

    Cho đến cuối đời, Ma-ri Qui-ri chỉ biết có cống hiến. Với thương
    binh, bà đã hiến dâng tất cả lòng tận tụy và sức khỏe của mình. Sau này bà
    dành toàn bộ kiến thức và thì giờ cho những sinh viên từ khắp năm châu đến
    học, được bà hết lòng khuyên răn, đào tạo thành những nhà bác học tương
    lai.

    Xong sự nghiệp, kiệt sức, bà từ giã cuộc đời sau khi đã khước từ phú

    https://thuviensach.vn

    quý và dửng dưng với danh vọng.

    *

    * *

    Câu chuyện không khác gì truyền thuyết này, tôi cảm thấy có tội lỗi
    nếu đặt thêm vào dù chỉ là một điều trang trí nhỏ bé nhất. Mỗi giai đoạn
    được kể ra đây đều đã xác minh chắc chắn, mỗi lời chủ yếu là trung thực, cả
    đến màu sắc một chiếc áo. Sự việc đã xảy ra, lời lẽ được nói ra đúng như
    vậy.

    Họ hàng bên mẹ tôi ở Ba Lan, nhất là dì ruột tôi là bà Du-xki, người
    chị thân thiết của mẹ tôi, đã cung cấp cho tôi những lá thư quý giá, và những
    kỷ niệm sống về tuổi niên thiếu của nhà nữ bác học. Viết về cuối đời của
    Ma-ri Qui-ri, tôi đã dựa vào giấy tờ riêng cùng những ghi chép vắn tắt của bà
    và những câu chuyện và thư từ của bạn bè người Pháp và người Ba Lan,
    những ký ức của chị tôi là I-ren Giô-li-ô Qui-ri và anh rể tôi là Phơ-rê-đêrich Giô-li-ô.

    Mong rằng bạn đọc, qua những diễn biến nhất thời của một quãng
    đời, nhận rõ điều mà ở bà Qui-ri còn quý hơn cả sự nghiệp và cuộc sống nên
    tranh của bà: đó là tính kiên định, sự nỗ lực kiên trì, tất thắng của trí tuệ,
    lòng hy sinh của một con người đã biết cho tất cả mà không biết lấy một thứ
    gì, thậm chí nhận một thứ gì. Và sau cùng là tâm hồn mà không có gì – thành
    công xuất sắc hay hoạn nạn – làm vẩn đục được tính trong trắng tột bực.

    Chính do tâm hồn như vậy mà Ma-ri Qui-ri đã không chút ngần ngại
    gạt xa những thuận lợi mà danh vọng vẫn đem lại cho những thiên tài chân
    chính.

    Bà đã phải đau khổ vì thế giới đương thời cứ muốn bà đóng vai một
    nhân vật tiếng tăm. Con người vốn nghiêm khắc với mình và sống nhiều về
    nội tâm, đã không thể chọn thái độ thường đi đôi với danh vọng: thân mật,
    hòa nhã một cách máy móc, nghiêm nghị cố ý, khiêm tốn bề mặt.

    Ma-ri Qui-ri không biết kiểu cách cư xử của những người danh tiếng.

    *

    https://thuviensach.vn

    * *

    Tôi sinh ra khi mẹ tôi đã 37 tuổi. Lớn lên, đủ trí khôn nhận xét, tôi
    thấy bà Qui-ri đã là một phụ nữ có tuổi, lừng lẫy. Thế nhưng chính “nhà bác
    học nổi tiếng” lại xa lạ với tôi hơn cả có lẽ vì Ma-ri Qui-ri không hề bận tâm
    với ý nghĩ rằng mình có danh vọng. Và tôi luôn luôn cảm thấy như vẫn sống
    với một nữ sinh viên nghèo dạt dào ước vọng tên là Ma-ri-a Xkhua-đốp-xka,
    từ rất lâu trước khi tôi ra đời.

    Cho đến lúc thở hơi cuối cùng, Ma-ri vẫn giống người con gái đó.
    Một sự nghiệp lâu dài, vất vả, sáng chói đã không làm cho bà lớn hơn hoặc
    thấp kém, hóa thần thánh hoặc sa đọa. Và đến ngày cuối cùng, vẫn một vẻ
    dịu hiền, bướng bỉnh, dút dát và ham hiểu biết như thuở hàn vi.

    Đối với một con người như vậy, lúc chết, giá có được nghi lễ linh đình,
    theo kiểu mà các chính phủ thường dành cho các vĩ nhân của họ thật là một
    điều phạm thánh, bất kính. Bà được an táng giản dị, lặng lẽ tại một nghĩa
    [1]
    trang thôn quê , giữa hoa lá đồng nội, dường như cuộc sống vừa chấm dứt
    cũng bình dị như trăm nghìn cuộc sống khác…


    *

    * *

    Ước gì tôi có khiếu viết văn để miêu tả người nữ sinh muôn thuở mà
    nhà bác học Anh-xtanh đã nói:

    “Trong tất cả những danh nhân, bà Qui-ri là người duy nhất không bị
    vinh quang làm cho hư hỏng”.

    Bà đã bước trên đường đời như một người ngoài cuộc, nguyên vẹn,
    hồn nhiên, gần như dửng dưng với số phận lạ lùng của mình.


    E-VƠ QUI-RI




    https://thuviensach.vn















    https://thuviensach.vn

    PHẦN THỨ NHẤT


    https://thuviensach.vn

    CHƯƠNG I


    “AN-CHIU”



    Như mọi chủ nhật, trường trung học ở phố Nô-vô-lip-xki chìm đắm
    trong im lặng. Dưới tấm da mặt nhà có khắc mấy tiếng Nga “Trường Nam
    trung học”, cổng chính khóa chặt, hành lang toàn cột trông như một ngôi đền
    bỏ hoang. Cuộc sống đã rút khỏi cái công trình kiến trúc chạy dài, thấp, chỉ
    có một tầng gác này, khỏi những gian phòng sáng sủa, bàn kê hàng dọc, gỗ
    đen, mặt bàn xây xát đầy vết dao con khắc tên kỷ niệm, chỉ nghe thấy tiếng
    chuông chiều ở nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh thong thả gióng, thỉnh thoảng
    xen lẫn tiếng xe bò lọc cọc hoặc vó ngựa uể oải của chiếc xe khách “đô-rốtsca” từ ngoài phố vọng vào. Phía trong hàng rào vây quanh sân trường, bốn
    cây tử đinh hương khẳng khiu, bụi bậm đang trổ hoa. Mùi hương ngào ngạt
    thường làm khách qua đường, mặc diện ngày chủ nhật, bất giác ngoảnh lại,
    ngạc nhiên. Chưa sang tháng sáu mà trời đã nóng. Ở Vác-xô-vi cái nóng
    cũng khắc nghiệt, thấm thía như cái rét.

    Bầu không khí tĩnh mịch của ngày chủ nhật ấy đang bị khuấy đảo. Từ
    gian trái tầng dưới, nơi ở của ông Vla-đi-xoáp Xkhua-đốp-xki, giáo sư vật lý
    đồng thời là hiệu phó, vọng ra những tiếng động bí mật như búa đập không
    thành nhịp. Bỗng thấy xoảng một cái, một công trình xây dựng nào đó đổ
    nhào; tiếp theo là tiếng trẻ con hò la, the thé. Rồi lại tiếng khua.

    Rồi những mệnh lệnh ngắn gọn, bằng tiếng Ba Lan:

    - Hê-la ơi, tao hết đạn rồi!

    - Cái tháp! Dô-dếp ngắm cái tháp!

    - Ma-ni-a! Tránh ra!

    - Ấy chớ! Em mang thỏi gỗ đến mà!

    Lại ầm ầm, bao nhiêu thỏi gỗ vuông rơi tung tóe xuống sàn đánh
    bóng xi như lệnh vỡ: ngọn tháp không còn nữa. Tiếng hò hét càng loạn xạ.
    Đạn bay tới tấp, trúng đích.
    https://thuviensach.vn


    Bãi chiến trường là một phòng rộng, vuông vắn, cửa sổ mở trông ra
    sân trường phía sau. Bốn chiếc giường con kê bốn góc. Bọn trẻ nhỏ từ năm
    đến chín tuổi rưỡi đang chơi trận giả, la hét inh ỏi. Chẳng là ông cậu, vốn
    thích chơi bài, đêm Nô-en có tặng mấy cháu bộ đồ chơi xếp gỗ này. Và chắc
    ông không ngờ được công dụng cuối cùng của nó. Vài ngày đầu, Dô-dếp,
    Brô-ni-a, Hê-la và Ma-ni-a còn ngoan ngoãn chơi xếp thành quách, cầu
    cống, nhà thờ theo mẫu vẽ trên hộp gỗ to. Nhưng rồi các mảnh gỗ ấy mau
    chóng đi theo số phận của chúng. Cột nhà bằng gỗ sến ngắn biến thành pháo,
    ô vuông thành đạn trái phá và mấy nhà kiến trúc tí hon đã nghiễm nhiên là
    những nguyên soái.

    Dô-dếp đang nằm rạp xuống sàn, lấn dần tới và lần lượt đẩy khẩu
    pháo của mình về phía địch. Ngay giữa trận đánh gay go, nét mặt đứa trẻ
    khỏe mạnh trông vẫn nghiêm túc như hệt mọi viên tướng ra trận. Nó lớn tuổi
    hơn cả, sáng trí nhất trong bốn đứa trẻ, và cũng chỉ mình nó là con trai ở đây.
    Mấy đứa kia toàn con gái, ăn mặc như nhau, có viền xếp nếp trên bộ áo ngày
    chủ nhật, yếm màu nâu sẫm thêu hoa dây.

    Phải nói rằng bọn con gái cũng cừ đây. Hê-la, đồng minh của Dôdếp, mắt long lên sòng sọc. Nó uất ức vì mới chỉ sáu tuổi rưỡi, không được
    ném những thanh gỗ xa hơn, mạnh hơn. Chao, giá nó cũng lên tám như Brôni-a, cô bé múp míp, hồng hào, có mớ tóc hung cứng quật gió trong khi nó
    khoa chân múa tay chống đỡ cho đạo quân của mình đang dàn ở giữa hai cửa
    sổ.

    Cạnh Brô-ni-a, một tiểu đội phó tí hon mặc yếm có hoa dây lon ton
    từ tốp quân này, sang tốp quân khác nhặt đạn, bận rộn, mặt mũi đỏ bừng môi
    khô lại vì hò hét và cười nhiều quá.

    - Ma-ni-a!

    Đang chạy, đứa bé sửng sốt dừng lại, buông rời vạt yếm nó đang ôm
    gọn vào ngực. Thỏi gỗ rơi loảng xoảng xuống sàn.

    - Gì cơ? Chị Dô-sa?

    Trong năm đứa con ông giáo, Dô-sa nhớn nhất. Tuy chưa đến mười
    hai tuổi, nhưng đối với 4 em, cô đã ra vẻ chững chạc. Tóc màu tro, hất về
    phía sau, xòa xuống ngang vai, mặt xinh xắn nhiệt tình, đôi mắt cũng màu
    https://thuviensach.vn

    tro, mơ màng tuyệt đẹp.

    - Mẹ bảo là đã chơi quá lâu rồi, phải nghỉ thôi.

    - Nhưng Brô-ni-a còn cần đến em cơ mà. Em mang thỏi gỗ đến cho
    chị ấy.

    - Mẹ gọi em ra với mẹ đấy.

    Sau một giây phút lưỡng lự, Ma-ni-a cầm tay chị ung dung đi ra. Kể
    mới năm tuổi mà chơi đánh trận thì cũng mệt đấy, cô bé cũng nhọc rồi,
    chẳng phải là không muốn thôi. Có tiếng ngọt ngào, âu yếm từ buồng bên:

    - Ma-ni-a!... Ma-ni-u-sa!... An-xi-u-pê-trô của mẹ đâu?

    Ở Ba Lan, người ta ưa gọi nhau bằng những tên nựng nịu ấy.

    Trong gia đình ông giáo, từ trước đến nay cô cả Xô-phi vẫn được gọi
    thân mật là Dô-sa, cô hai Brô-nhi-xoa-va là Brô-ni-a, Hê-lê-na thành Hê-la,
    còn Dô-dếp là Dô-sô. Nhưng có nhiều tên nhất là Ma-ni-a, cô út, yêu nhất
    nhà. Ma-ni-a là tên gọi thường ngày, Ma-ni-u-sa là gọi âu yếm, và từ khi còn
    đặt trong nôi, cô được cả nhà đặt cho một cái tên ngộ nghĩnh: An-xi-u-pêtrô. An-chiu bé nhỏ.

    - Sao tóc con bù thế? Sao mặt con đỏ thế? An-chiu bé nhỏ của mẹ!

    Hai bàn tay xanh xao, gầy guộc dịu dàng thắt lại dải yếm, vuốt ve
    những búp tóc quăn, để lộ ra gương mặt cương nghị của một nữ bác học vĩ
    đại tương lai. Dần dần, đứa bé trở lại yên tĩnh.

    *

    * *

    Ma-ni-a rất yêu quý mẹ. Trên trái đất này, có lẽ chẳng ai xinh đẹp,
    dịu hiền, đoan trang bằng mẹ. Bà giáo là con gái đầu lòng của một gia đình
    khá giả ở nông thôn. Thân sinh là Fê-lích Bô-gu-xki, thuộc tầng lớp quý tộc
    nhỏ thường gặp ở Ba Lan thời đó. Không đủ sống trên mảnh đất của mình,
    ông phải làm quản lý cho các nhà quý tộc khác giàu sang và có thế lực hơn.
    Trong sáu chị em, có lẽ bà giáo tính tình thăng bằng và sáng trí nhất, không

    https://thuviensach.vn

    bị ảnh hưởng một kiểu Xla-vơ nào. Chẳng lập dị, không sôi nổi mà cũng
    không thái quá. Tốt nghiệp xong trường phố Phrê-ta ở phố Vác-xô-vi, được
    tiếp thụ một nền giáo dục ưu tú, bà quyết đi vào sư phạm, sau một thời gian
    dạy học, được cử làm hiệu trưởng. Năm 1860, khi giáo sư Xkhua-đốp-xki
    hỏi cưới, ông đã chọn được một người vợ hoàn toàn. Bà không có của hồi
    môn nhưng là con nhà giáo, mộ đạo, hoạt bát, có một nghề nghiệp chắc chắn
    và lại biết âm nhạc. Bà chơi dương cầm và hát những bài hát trữ tình thời ấy
    với một giọng say sưa, tuyệt diệu.

    Bà rất đẹp. Bức ảnh hồi mới cưới cho ta thấy một khuôn mặt đều đặn,
    mái tóc dày óng mượt bện giản dị, đôi mắt xám có đuôi theo kiểu Ai Cập có
    cái nhìn dịu hiền, huyền ảo dưới cặp mày ngài.

    Một cuộc hôn nhân nghe nói là “tương xứng”. Họ nhà trai cũng thuộc
    tầng lớp quý tộc nhỏ mà thảm họa của nước Ba Lan thời đó làm cho sa sút,
    gốc tích ở Xkhua-đi, một vùng thôn trại cách Vác-xô-vi độ một trăm cây số.
    Nhiều gia đình thông gia với nhau cùng quê quán ở Xkhua-đi đã lấy tên là
    Xkhua-đốp-xki.

    Nghề nghiệp tự nhiên của những hộ này là canh tác, trồng trọt. Gặp
    thời tao loạn, đất đai ngày càng cằn cỗi và phân tán dần. Đến thế kỷ 18, ông
    tổ trực tiếp của Vla-đi-xoáp Xkhua-đốp-xki có vài trăm mẫu ruộng, sống
    phong lưu nhàn hạ, đời con hãy còn là điền chủ sung túc nhưng đến Dô-dếp,
    thân sinh của ông giáo thì không thế nữa.

    Muốn nâng cao thân phận bạc bẽo thấp hèn, và làm vinh dự cho cái
    tên mà ông tự hào, Vla-đi-xoáp hướng về đường học vấn. Sau nhiều năm lăn
    lộn với nghề mà các cuộc đảo chính và chiến tranh làm cho bi đát, ông được
    bổ nhậm làm hiệu trưởng trường Nam trung học một thành phố quan trọng là
    Lu-blin. Đó là người trí thức đầu tiên trong họ.

    Hai gia đình Bô-gu-xki và Xkhua-đốp-xki đều đông anh em, một nhà
    sáu, một nhà bảy. Nhiều người làm ruộng, đi giáo học, một người là thẩm
    phán tòa án, một nữ đi tu và cũng có một vài nhân vật kì quặc. Hen-rich, một
    em trai của bà giáo là tay chơi bất trị, cứ tưởng mình tài giỏi về những
    chuyện phi thường, mạo hiểm. Và anh chàng Di-xoáp – em ông giáo – sống
    [2]
    lông bông hưởng lạc, đang là sinh viên ở Pê-téc-bua , gặp cuộc khởi nghĩa
    [3]
    ở Ba Lan, đã đi lính, trong thời gian lánh nạn ở Tu-lu-dơ đã từng làm thơ
    https://thuviensach.vn

    bằng tiếng Prô- văng-xơ rồi trở về nước, làm quản lý văn khế ở các tỉnh,
    cuộc đời cứ luôn luôn phất rồi lại mạt.

    Trong hai dòng họ, những tâm hồn mơ mộng, đắm đuối ở cạnh
    những tính tình điềm đạm, những hiền triết sống bên những nhà du hiệp.

    Cha mẹ của Ma-ri Qui-ri là những người khôn ngoan. Vla-đi-xoáp
    noi gương bố, học hết đại học ở Pê-téc-bua, trở về Vác-xô-vi dạy toán và lý.
    Bà giáo mở trường nữ học có kí túc xá mà các nhà giàu sang trong thành phố
    đều cho con gái đến học. Gia đình ở phố Phrê-ta trên gác, sống ở đây tám
    năm trời. Mỗi buổi sáng khi thầy giáo bước chân qua cửa; nhìn ra sân, thầy
    thấy các bao lơn nhẹ nhàng như những tràng hoa giăng từ cửa sổ này đến
    cửa sổ nọ, thì mấy buồng phía trước đã rộn ràng tiếng cười nói của các cô
    học sinh đợi giờ học đầu tiên trong ngày.

    Năm 1869, ông giáo được bổ nhiệm về dạy và làm hiệu phó trường
    Nam trung học phố Nô-vô-lip-xki, bà giáo phải thích nghi với sự thay đổi
    này. Không thể đến chỗ ở mới do chức vụ của chồng được thu xếp, đồng
    thời tiếp tục quản lý kí túc xá và chăm sóc con cho chu đáo. Bà đành nhường
    lại trường tư thục, lòng rất luyến tiếc, rời phố Phrê-ta, nơi trước đây ít lâu –
    ngày 7 tháng 9 năm 1867 – cô bé Ma-ni-a ra đời.

    Ma-ni-a chưa hiểu nổi cái lý do khe khắt của những cử chỉ ấy và nỗi
    cô quạnh mà mẹ em đang giam hãm mình vào. Bà giáo lâm bệnh nặng. Triệu
    chứng lau phổi đầu tiên chớm nở ngay từ khi mới sinh Ma-ni-a cho đến nay
    đã năm năm rồi, khám và chữa rất nhiều, bệnh vẫn cứ phát triển. Người đàn
    bà ngoan đạo ấy rất can đảm, luôn luôn gọn gàng trong ăn mặc, bận rộn việc
    nội trợ, làm ra vẻ như là mình vẫn khỏe. Nhưng bà tự ràng buộc vào một
    khuôn khổ chặt chẽ: dùng thìa, bát riêng và không hôn hít các con. Mấy đứa
    trẻ chỉ biết phảng phất về căn bệnh nguy hiểm của mẹ: thỉnh thoảng lại một
    cơn ho khan chúng nghe thấy từ buồng bên, nét mặt rầu rĩ của ông giáo và
    một câu ngắn gần đây được thêm vào đoạn cầu nguyện buổi chiều: “Cầu
    chúa cho mẹ chúng ta khỏe lại”.

    Người mẹ trẻ đứng dậy đẩy nhẹ bé Ma-ni-a cứ bám chặt lấy váy bà.

    - Ma-ni-u-sa, cho mẹ yên nào. Mẹ bận.

    - Con ở đây được không? Con đọc một tí mẹ nhé?

    https://thuviensach.vn

    - Mẹ thích con ra vườn. Ngoài kia trời đẹp quá.

    Cứ nói đến đọc sách thì đôi má Ma-ni-a lại ửng hồng. Năm ngoái,
    Brô-ni-a ở thôn quê học chữ cái một mình thấy chán mới rủ bé chơi làm “cô
    giáo, học trò”. Trong mấy tuần, hai chị em xếp các chữ bằng bìa cắt, đặt lộn
    xộn. Rồi một buổi sáng, trong khi Brô-ni-a ê a đánh vần một bài rất dễ cho
    bố mẹ nghe, Ma-ni-a sốt ruột giằng lấy sách đọc một mạch hết câu đầu. Mới
    đầu nó thấy thích thú vì mọi người lắng nghe nên cứ kéo dài cái trò say sưa
    ấy. Nhưng bỗng nó thấy sợ hãi. Sự kinh ngạc lộ trên mặt ông bà Xkhua-đốpxki, còn Brô-ni-a thì nhăn nhó, phụng phịu. Nó bập bẹ vài câu lí nhí rồi bật
    tiếng khóc không nén được. Đứa trẻ xuất chúng giờ đây chỉ còn là một em bé
    bốn tuổi, đang nức nở, và nhắc đi nhắc lại rất thiểu não:

    - Con xin lỗi… con không cố ý, chẳng phải lỗi con… chẳng phải tội
    của Brô-ni-a. Tại là dễ quá.

    Tâm hồn trẻ thơ của nó chợt hiểu ra rằng có lẽ không bao giờ được
    tha tội vì đã tập đọc sớm thế.

    Từ buổi sáng đáng ghi nhớ ấy, Ma-ni-a làm quen dần với các mặt
    chữ, và nếu không tiến bộ rõ rệt, đó là tại cha mẹ không bao giờ để em cầm
    đến quyển sách. Là những nhà sư phạm thận trọng, ông bà Xkhua-đốp-xki
    không muốn con học quá sớm; mỗi khi đứa bé giơ tay muốn lấy một trong
    những tập tranh có chữ to để quanh trong nhà thì lại được gợi ý: “Con chơi
    xếp gỗ nhá! Búp bê của con đâu rồi? Con hát cho mẹ nghe nào!”. Và như
    hôm nay: “Mẹ thích con ra vườn hơn”.

    - Con đi tìm chị Dô-sa vậy

    - Cũng được.

    - Dô-sa!

    Qua cái sân nhỏ hẹp nơi hằng ngày chúng vẫn chơi “đuổi bắt” và “bịt
    mắt bắt dê”, hai chị em cầm tay nhau đi dọc theo trường trung học, đến một
    cái vườn lớn, cửa gỗ mọt ọp ẹp. Giữa bốn bức tường, những thảm cỏ lưa
    thưa, những cây cao tù hãm thoảng một mùi đất, một hương vị đồng nội.

    - Chị Dô-sa ơi! Bao giờ lại đi Dơ-vô-la đây?

    https://thuviensach.vn

    - Sau tháng bảy mới đi cơ. Em còn nhớ Dơ-vô-la à?

    Ma-ni-a có một trí nhớ lạ lùng, không quên cái gì hết. Cái thác nước
    mùa hè năm ngoái mấy chị em bì bõm hàng giờ, mò đất nặn “những bánh xà
    phòng” rồi đem phơi nắng trên một tấm ván ở một chỗ chỉ có chúng biết mà
    thôi, đứa nào đứa nấy váy và yếm bùn bê bết. Bảy tám đứa trẻ rủ nhau trèo
    lên cây chè già, đem theo cả cô bé có đôi tay quá yếu, đôi chân ngắn ngủn.
    Họ lấy những lá cải vừa lạnh vừa giòn, phủ lên những cành to và gói trong
    những lá cải khác, nào là quả dâu tây, củ cà rốt non mơn mởn, quả anh đào,
    để giấu trong hốc tường cho tươi. Lại nhớ đến làng Mác-ki nữa, cái kho lúa
    nóng khiếp, Dô-dếp vẫn đến học cửu chương, chúng chơi vùi Ma-ni-a dưới
    đống lúa. Còn bác Xkri-pốp-xki mỗi lần đánh xe ngựa qua, hay quất cái roi
    da nghe đến là vui! À, còn đàn ngựa của chú Xa-vi-ê nữa!

    Bọn trẻ tỉnh thành ấy thường có những ngày hè say sưa như vậy. Họ
    hàng đông chỉ một nhánh ra ở thành phố. Tỉnh nào cũng có hai dòng họ
    Xkhua-đốp-xki và Bô-gu-xki làm ruộng, nhà cửa ở thôn quê tuy không rộng
    rãi lắm, nhưng cũng có đủ buồng để đón ông giáo cùng gia đình về nghỉ mát.
    Do đó mặc dù hoàn cảnh bố mẹ không lấy gì làm phong lưu lắm, Ma-ni-a
    chưa hề biết đến những nhà trọ tầm thường tại những nơi nghỉ mát bình dân
    ở Vác-xô-vi. Và cứ mùa hè, cô bé gia đình trí thức ấy lại trở thành một em
    gái thôn quê thật sự, đúng với bản chất sâu xa của dòng họ.

    - Chúng mình chạy thi nào… chị cuộc là sẽ đến cuối vườn trước Mani-a đấy. – Dô-sa vui vẻ thốt lên với giọng chững chạc của một chị cả.

    - Em chả muốn chạy đâu. Em muốn nghe kể chuyện cơ.

    Không ai biết kể chuyện như Dô-sa, cả ông giáo và bà giáo, trí tưởng
    tượng của cô thêm thắt nhiều chi tiết li kì vào những giai thoại, những
    chuyện thần tiên như những khúc biến tấu tài tình của một người chơi đàn rất
    giỏi. Dô-sa còn tự nghĩ ra những đoạn hát kịch ngắn và đóng rất sôi nổi
    trước con mắt ngạc nhiên của các em. Chúng hoàn toàn bị chinh phục bởi tài
    tác giả và nghệ sĩ. Ma-ni-a lúc thì cười ngặt nghẽo, khi thì run bắn lên khi
    nghe những chuyện hoang đường quái đản mà tuổi lên năm của nó khó mà
    theo dõi liên tục.

    Hai chị em quay về nhà. Càng đến gần trường, Dô-sa càng hạ giọng,
    và tự kiềm chế. Câu chuyện còn đang nghĩ và kể dở, cô bỗng dừng lại. Đi
    qua gian nhà phía tay phải có cửa sổ treo rèm cứng, hai đứa bé im bặt.
    https://thuviensach.vn


    Sau những rèm cửa ấy, có một con người mà gia đình ông giáo rất
    ghét mà cũng rất sợ, đó là viên hiệu trưởng I-van-nốp, đại diện của chính
    phủ Sa hoàng trong trường này.

    *

    * *

    Năm 1872. Còn ai khổ nhục bằng người dân Ba Lan “thuộc Nga” ở
    vào hàng ngũ trí thức đa cảm, mà thần kinh đã căng thẳng, và đầu óc cách
    mạng đang âm ỉ, họ cay đắng, nhức nhối hơn mọi tầng lớp khác vì ách đô hộ
    đè nặng trên đầu.

    Đúng một thế kỷ rồi, những vua chúa tàn bạo, lân bang đáng sợ của
    một nước Ba Lan suy nhược đã quyết định bóp chết nước này. Đức, Nga, Áo
    đã ba lần chia đi cắt lại mảnh đất đau thương đó. Người dân Ba Lan đã đứng
    lên chống lại bọn đô hộ. Mỗi lần thất bại, cái thòng lọng buộc vào cổ họ lại
    càng thắt chặt. Sau khi cuộc đảo chính oanh liệt năm 1831 không thành, Sa
    hoàng Ni-cô-lai I đã ra lệnh trừng trị khốc liệt: hàng loạt người yêu nước bị
    tù đày, tịch thu tài sản.

    Năm 1863, lại một lần dấy lên, lại một lần bị dìm trong máu. Nghĩa
    quân chỉ có đinh ba, lưỡi liềm và gậy gộc chống với súng đạn của Sa hoàng.
    Mười tám tháng chiến đấu thất bại, ngoài thành quách Vác-xô-vi dựng lên
    năm giá treo cổ, thây bao người yêu nước vật vờ trước gió.

    Sau thảm họa đó, bọn thống trị tìm mọi cách khuất phục nước Ba Lan
    không cam tâm chịu chết. Từng đoàn tù chính trị tay cùm chân xích bị áp
    giải đi Xi-bê-ri, đến những nơi quanh năm phủ tuyết. Hàng loạt người khác
    kéo vào Ba Lan để Nga hóa vùng này. Đó là những cảnh sát, giáo sư, viên
    chức, mà nhiệm vụ là do thám dân Ba Lan, khủng bố tôn giáo của họ, cấm
    đoán sách báo tiến bộ, dần dần xóa bỏ tiếng nói của nước này, tóm lại, tiêu
    diệt linh hồn một dân tộc.

    Những cuộc đề kháng được tổ chức ngay ở hàng ngũ bên kia. Kinh
    nghiệm xương máu cho người Ba Lan thấy rõ ràng lúc đó, thời cơ chưa đến
    để giành lại tự do bằng vũ lực. Họ buộc lòng phải đợi và chống lại những
    nguy cơ của sự chờ đợi là nhu nhược và chán nản.

    https://thuviensach.vn

    Thế là cuộc chiến đấu thay đổi trận địa. Những anh hùng giờ đây
    không còn là những chiến sĩ chỉ có liềm hái trong tay xông vào đám quân
    Cô-dắc và ngã xuống, miệng hô như nhân vật Lu-i Mác-buyt nổi tiếng:
    “Sung sướng thay được chết cho Tổ quốc ta!” mà là những trí thức, những
    nghệ sĩ, nhà tu hành, thầy giáo – những người quyết định tinh thần của thế hệ
    mới. Sự dũng cảm của họ là cố nén lòng, giấu những ý nghĩ tình cảm của
    mình, chịu nhẫn nhục bám lấy những vị trí mà Sa hoàng còn thí cho họ để từ
    đó, có thể bí mật đào tạo lớp trẻ, hướng dẫn đồng bào.

    Thế là trong mỗi trường trung học ở Ba Lan, thường có mâu thuẫn
    sâu sắc giữa những người chiến bại và những kẻ chiến thắng, những giáo sư
    bị chèn ép và những hiệu trưởng do thám, những Xkhua-đốp-xki và những Iva-nốp, dưới bề mặt lịch thiệp giả tạo.

    Đặc biệt đáng ghét là tên I-va-nốp. Hắn không một chút thương xót
    những người làm việc dưới quyền bị bắt buộc phải dạy trẻ nước mìn...
     
    Gửi ý kiến