Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Phải trái đúng sai

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 09h:49' 19-03-2024
    Dung lượng: 1.2 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    PHẢI TRÁI ĐÚNG SAI


    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com


    1. LÀM VIỆC ĐÚNG
    2. NGUYÊN TẮC HẠNH PHÚC CỰC ĐẠI - THUYẾT VỊ LỢI
    3. CHÚNG TA CÓ SỞ HỮU CHÍNH MÌNH KHÔNG? - CHỦ NGHĨA TỰ
    DO CÁ NHÂN
    4. THUÊ TRỢ GIÚP - THỊ TRƯỜNG VÀ ĐẠO ĐỨC
    5. ĐỘNG CƠ MỚI QUAN TRỌNG - IMMANUEL KANT
    6. LÝ LẼ BÌNH ĐẲNG - JOHN RAWBS
    7. TRANH CÃI VỀ CHÍNH SÁCH CHỐNG KỲ THỊ[26]
    8. AI XỨNG ĐÁNG VỚI THỨ GÌ - ARISTOTLES
    9. CHÚNG TA NỢ NGƯỜI KHÁC NHỮNG GÌ - LÒNG TRUNG THÀNH
    KHÓ XỬ
    10. CÔNG LÝ VÀ LỢI ÍCH CHUNG
    CHÚ THÍCH

    Giới thiệu
    Là cuốn sách triết học đầu tiên trong bộ sách Cánh cửa mở rộng, Phải trái
    đúng sai tuy là một cuốn sách đòi hỏi nhiều suy luận, nhưng giá trị mà tập
    sách mang lại cho những độc giả kiên nhẫn là vô giá.
    Ở tập sách này, tác giả Michael Sandel sẽ mổ xẻ những vấn đề từng khuấy
    động nước Mỹ một thời, như vụ bê bối của tổng thống Bill Clinton, vấn đề
    về hôn nhân đồng tính trong nước dân chủ như Mỹ, huân chương nào cho
    những chiến sĩ tại Iraq,...
    Dưới góc nhìn riêng biệt của chính tác giả và của các triết gia nổi tiếng như
    Aristotles, Immunuel Kant, John Stuart Mill, John Rawls,... “Quyển sách
    không cố gắng chứng minh triết gia nào ảnh hưởng tới triết gia nào trong lịch
    sử tư tưởng chính trị, mục tiêu của quyển sách là mời gọi độc giả xem xét
    cẩn trọng quan điểm về công lý và sự xem xét mang tính phê bình của mình,
    để xác định mình nghĩ gì, và tại sao lại vậy.”
    Đây là 1 cuốn sách khó đọc. Tuy nhiên, phần thưởng dành cho những độc
    giả kiên nhẫn thực sự là một trái táo vàng. Đọc cuốn sách này xong, bạn sẽ
    nhìn những vấn đề mâu thuẫn, trái ngược xung quanh bạn dưới con mắt
    khác: Hiểu và Thấu đáo.
    Trong cuộc sống, điều Đúng - Sai, Phải - Trái luôn luôn tồn tại song song.
    Cùng 1 vấn đề đó, có người nói Đúng, người bảo Sai, người khăng khăng nói
    Phải, người quả quyết là Trái. Mỗi người 1 quan điểm, ai cũng có lý. Tuy
    nhiên, cách hành xử của mỗi người hoàn toàn khác nhau và hầu như những
    cách hành xử đó không hề có 1 chuẩn gọi là pháp lý hay đạo đức nào cả. Tất
    cả phán quyết đôi khi không nằm ở đầu, nhưng nằm ở trái tim.
    Đảm bảo khi đọc xong cuốn sách này, bạn sẽ nhìn, xử lý những sự việc xung
    quanh một cách có lý trí và điềm đạm.
    Tác giả


    Michael J. Sandel sinh ngày 5/3/1953, là Giáo sư Đại học Harvard, triết gia
    chính trị Mỹ. Ông được bầu làm viện sĩ Viện hàn lâm Nghệ thuật và Khoa
    học Hoa Kỳ năm 2002. Ông từng là thành viên Ủy ban Đạo đức sinh học của
    Tổng thống George W. Bush.

    Giáo sư Sandel có nhiều tác phẩm khác như Chủ nghĩa tự do và giới hạn của
    công lý (1998), Bất mãn trong nền dân chủ (1996), Triết học: Các tiểu luận
    về đạo đức trong chính trị (2005), và Lý lẽ chống lại sự hoàn hảo: Đạo đức
    trong thời đại kỹ thuật di truyền (2007).
    Các tác phẩm của ông đã được dịch ra 15 ngôn ngữ nước ngoài. Ông cũng
    viết nhiều bài báo cho các tác phẩm lớn như Atlantic Monthly, The New
    York Times.
    Ông được đài truyền hình Nhật Bản NHK và Đài BBC Anh quốc mời diễn
    thuyết về các chủ đề đạo đức và công lý.
    Nhận xét
    Michael Sandel - có lẽ là giáo sư đại học nổi tiếng nhất ở Mỹ - đã mang lại
    “sự minh bạch về đạo đức cho sự lựa chọn mà chúng ta phải đối mặt, với tư
    cách là công dân trong xã hội dân chủ”. Ông đã chỉ ra rằng sự chia rẽ chính
    trị không phải giữa cánh tả với cánh hữu mà giữa những người nhận ra
    không có gì quý hơn quyền cá nhân và lựa chọn cá nhân với những người tin
    vào một nền chính trị phục vụ lợi ích số đông. - Bưu điện Washington
    Quyết liệt, dễ hiểu, và đầy tính nhân văn, cuốn sách này thực sự là một cuốn
    sách làm thay đổi người đọc. - Publisher Weekly
    Kant kết luận: chỉ tình dục trong hôn nhân mới có thể tránh được “hạ thấp
    phẩm giá con người”. Chỉ khi cả hai người hiến dâng cả bản thân mình cho
    người kia - không chỉ đơn thuần là khả năng tình dục, tình dục khi đó mới
    không bị phản đối. Chỉ khi cả hai người chia sẻ với nhau “cả con người, thể
    xác và tâm hồn, cho dù tốt hay xấu và trong mọi phương diện', tình dục mới
    dẫn họ đến “sự hòa hợp giữa con người”. Kant không nói tất cả các cuộc hôn
    nhân đều mang lại sự hòa hợp kiểu này. Và ông có thể sai khi nghĩ sự hòa
    hợp như thế không bao giờ có thể xuất hiện ngoài hôn nhân, hoặc quan hệ
    tình dục ngoài hôn nhân chỉ là sự thỏa mãn tình dục. Nhưng quan điểm của
    ông về tình dục nêu bật lên sự khác biệt giữa hai ý tưởng hay bị lẫn lộn trong
    những cuộc tranh luận đương đại - giữa sự đồng ý một cách không bị trói
    buộc và tinh thần tôn trọng tự chủ và nhân phẩm con người.
    Khi suy ngẫm đạo đức biến thành chính trị, khi phải xác định những luật lệ
    nào điều chỉnh cuộc sống chung của chúng ta thì nó sẽ cần các cuộc tranh
    luận ồn ào, với những lập luận và rắc rối khuấy động tâm trí công chúng.
    Cuộc tranh luận về cứu trợ tài chính và giá cắt cổ, sự bất bình đẳng thu nhập

    và chính sách bình đẳng tuyển dụng, nghĩa vụ quân sự và hôn nhân đồng tính
    đều là chất liệu cho triết học chính trị. Chúng nhắc chúng ta kết nối và biện
    minh các phán xét đạo đức và chính trị của mình, không chỉ trong gia đình
    và bạn bè mà còn trong các đoàn thể quần chúng.

    1. LÀM VIỆC ĐÚNG
    MÙA HÈ NĂM 2004, siêu bão Charley quét từ vịnh Mexico qua Florida đến
    Đại Tây Dương. Cơn bão không chỉ làm 22 người chết và tổn thất 11 tỷ đô la
    mà còn gây ra một cuộc tranh luận về giá cắt cổ.
    Một trạm xăng ở Orlando bán túi nước đá 2 đô la với giá 10 đô la. Do thiếu
    điện chạy tủ lạnh hay điều hòa vào giũa tháng tám, nhiều người chỉ còn cách
    móc hầu bao ra trả. Cây cối bị bão giật đổ dẫn đến nhu cầu cưa cây và sửa
    mái nhà tăng cao. Nhà thầu ra giá 23.000 đô la để dọn hai cây đổ ra khỏi mái
    nhà. Các cửa hàng bình thường bán máy phát điện nhỏ giá 250 đô la bây giờ
    hét giá 2.000 đô la. Một cụ bà bảy mươi bảy tuổi chạy bão với người chồng
    cao tuổi cùng cô con gái khuyết tật phải trả 160 đô la một đêm cho buồng trọ
    giá bình thường chỉ 40 đô la.
    Nhiều người dân Florida đã tức giận vì giá tăng vọt. Tờ USA Today chạy tít
    “Kền kền sau bão”. Một cư dân, khi được báo giá 10.500 đô la để dọn một
    cây sập xuống mái nhà của mình, đã cho rằng thật là sai trái khi ai đó “cố
    trục lợi trên khó khăn và đau khổ của người khác”.
    Chưởng lý bang Charlie Crist cũng đồng ý: “Tôi thật kinh ngạc vì mức độ
    tham lam trong suy nghĩ của những kẻ sẵn sàng lợi dụng những người đau
    khổ trong cơn siêu bão”. Florida có luật chống giá cắt cổ và sau siêu bão,
    văn phòng chưởng lý bang nhận được hơn hai nghìn khiếu nại. Một số đã
    dẫn đến những vụ kiện thành công. Nhà trọ A Days Inn ở West Palm Beach
    đã phải trả 70.000 đô la tiền phạt và bồi thường cho việc tăng giá quá mức.
    Nhưng ngay cả khi Crist bắt đầu thực thi luật chống giá cắt cổ, một số nhà
    kinh tế cho rằng pháp luật và sự phẫn nộ của công chúng đang bị hiểu sai.
    Thời Trung cổ, các nhà triết học và thần học tin rằng việc trao đổi hàng hóa
    phải được điều chỉnh bởi “giá chính đáng” - được xác định bởi truyền thống
    hoặc giá trị nội tại của đồ vật. Nhưng trong xã hội theo cơ chế thị trường, các
    nhà kinh tế thấy rằng giá cả được thiết lập bởi cung và cầu. Không tồn tại cái
    gọi là “giá chính đáng”.
    Nhà kinh tế trường phái thị trường tự do Thomas Sowell gọi giá cắt cổ là
    “một cách diễn tả mãnh liệt về cảm xúc nhưng vô nghĩa về mặt kinh tế, hầu
    hết các nhà kinh tế không quan tâm đến bởi vì nó có vẻ quá rắc rối khi dính
    vào”. Trong bài báo đăng trên tờ Tampa Tribune, Sowell tìm cách giải thích
    “giá cắt cổ” giúp người dân Florida như thế nào. Ông viết “Giá cắt cổ là khi
    giá cao hơn nhiều so với mức giá mọi người quen thuộc”. Tuy nhiên, mức

    giá mà bạn quen trả không phải là thứ bất di bất dịch về mặt đạo đức. Chúng
    cũng chẳng đặc biệt hay hợp lý hơn các mức giá khác do hoàn cảnh thị
    trường tạo ra, gồm cả hoàn cảnh của cơn bão này.
    Sowell lập luận việc tăng giá nước đá, nước đóng chai, chi phí sửa chữa mái
    nhà, máy phát điện, và giá thuê phòng trọ đem lại lợi ích là hạn chế người
    tiêu dùng sử dụng những thứ đó và tăng động cơ để các nhà cung cấp từ
    những nơi xa xôi cung cấp hàng hp>óa và dịch vụ cần thiết nhất sau cơn bão.
    Nếu túi nước đá có giá 10 đô la khi dân Florida phải đối mặt với sự cố mất
    điện trong cái nắng tháng Tám thì các nhà sản xuất nước đá sẽ thấy thật bõ
    công sản xuất và vận chuyển thêm nước đá đến. Sowell giải thích mức giá
    này không bất công, đơn giản chúng chỉ phản ánh thỏa thuận giữa người mua
    và người bán về giá trị những thứ trao đổi.
    Jeff Jacoby - nhà bình luận theo xu hướng kinh tế thị trường - sử dụng những
    lý lẽ tương tự chống lại luật giá cắt cổ khi viết trên tờ Boston Globe: “Không
    phải giá cắt cổ là mức giá thị trường phải gánh chịu. Chẳng có sự tham lam
    hay trắng trợn gì cả. Đó là cách phân bố hàng hóa và dịch vụ trong xã hội tự
    do”. Jacoby thừa nhận rằng “giá leo thang gây ra căm giận, đặc biệt khi cuộc
    sống mọi người bỗng rơi vào tình trạng khốn quẫn do cơn bão khủng khiếp
    gây ra . Nhưng cơn giận dữ của công chúng chẳng thể biện minh cho việc
    can thiệp vào thị trường tự do. Bằng cách ưu đãi nhằm thúc đẩy các nhà cung
    cấp sản xuất thêm hàng hóa cần thiết, giá cắt cổ là “ưu nhiều hơn khuyết”.
    Kết luận của ông là: “Chỉ trích các nhà cung cấp [“kền kền”] cũng không
    đẩy nhanh được tốc độ phục hồi của Florida. Hãy để tinh thần kinh doanh
    của họ làm điều đó”.
    Chưởng lý Crist (đảng viên Đảng Cộng hòa, sau được bầu làm thống đốc
    Florida) đã viết bài trên tờ Tampa bảo vệ luật chống giá cắt cổ: “Trong
    trường hợp khẩn cấp, chính quyền không thể lừng chừng để người dân phải
    trả giá trên trời khi họ phải bỏ của chạy lấy người hoặc tìm kiếm nhu yếu
    phẩm cho gia đình sau siêu bão”. Crist bác bỏ quan điểm coi mức giá “táng
    tận lương tâm” phản ánh sự trao đổi thật sự tự do: “Đây chẳng phải thị
    trường tự do bình thường nơi người mua tự do lựa chọn tham gia thị trường
    và gặp gỡ người bán, khi giá cả được thỏa thuận dựa trên quan hệ cung cầu.
    Trong trường hợp khẩn cấp, người mua bị ép buộc, không có tự do. Họ bắt
    buộc phải mua những thứ thiết yếu như chỗ ở an toàn”.
    Cuộc tranh luận về giá cắt cổ phát sinh sau siêu bão Charley đặt ra câu hỏi
    khó về đạo đức và pháp luật: Việc cho phép người bán hàng hóa và dịch vụ
    lợi dụng hoàn cảnh thiên tai để đưa ra bất cứ mức giá nào mà thị trường chấp

    nhận có sai không? Nếu sai, luật pháp nên xử lý vấn đề này như thế nào?
    Liệu chính quyền có nên ngăn chặn tình trạng giá cắt cổ, ngay cả khi làm
    vậy là can thiệp vào sự tự do lựa chọn thương vụ của người mua và kẻ bán?

    Phúc lợi, tự do, và đạo đức
    Các câu hỏi trên không chỉ đề cập đến cách con người đối xử với nhau,
    chúng còn liên quan đến pháp luật và cách tổ chức xã hội. Đó là những câu
    hỏi về công lý. Để trả lời, trước hết chúng ta phải khám phá ý nghĩa của công
    lý. Thật ra, chúng ta đã bắt đầu làm điều này. Nếu theo dõi cuộc tranh luận
    về giá cắt cổ, bạn sẽ nhận thấy các lập luận ủng hộ hay chống đối luật chống
    giá cắt cổ xoay quanh ba ý tưởng: tối đa hóa phúc lợi, tôn trọng tự do, và đề
    cao đạo đức. Mỗi ý tưởng chỉ ra một cách suy nghĩ về công lý khác nhau.
    Lý lẽ chung ủng hộ thị trường tự do dựa trên hai yếu tố - phúc lợi và tự do.
    Thứ nhất, thị trường thúc đẩy phúc lợi của toàn xã hội bằng cách tạo ra động
    cơ để mọi người làm việc chăm chỉ, tạo ra hàng hóa mà người khác muốn
    (theo cách nói thông thường, chúng ta thường đánh đồng phúc lợi với sự
    giàu có về mặt kinh tế, mặc dù phúc lợi là một khái niệm rộng hơn, bao gồm
    cả yếu tố phi kinh tế là sự giàu có về mặt xã hội). Thứ hai, thị trường tôn
    trọng tự do cá nhân; thị trường không áp đặt một giá trị nhất định cho hàng
    hóa và dịch vụ mà để mọi người tự do lựa chọn giá trị trao đổi. Không ngạc
    nhiên, phe phản đối luật chống giá cắt cổ viện dẫn hai lý lẽ quen thuộc về thị
    trường tự do này.
    Phe ủng hộ điều luật này phản ứng ra sao? Đầu tiên, họ lập luận rằng lợi ích
    của toàn thể xã hội không thể được đáp ứng bởi mức giá quá cao trong thời
    kỳ khó khăn. Ngay cả khi giá cao tạo ra nguồn cung hàng hóa dồi dào hơn,
    lợi ích này phải được cân nhắc trước nỗi khổ của những người không đủ khả
    năng trả mức giá cao như thế. Đối với người giàu, trả nhiều tiền cho xăng
    hoặc nhà trọ trong cơn bão có thể gây ra một ít phiền toái; nhưng đối với
    những người không giàu, giá cao như thế có thể gây ra nỗi khổ thực sự, có
    thể khiến họ ở lại nơi nguy hiểm chứ không thể chạy trốn đến nơi an toàn.
    Những người ủng hộ luật chống giá cắt cổ cho rằng bất kỳ tính toán nào
    cũng phải xét tới nỗi đau đớn và bất hạnh của nhóm người không đủ tiền trả
    cho những nhu cầu cơ bản trong trường hợp khẩn cấp.
    Thứ hai, phe ủng hộ luật chống giá cắt cổ cho rằng trong điều kiện nhất định,
    thị trường tự do không thực sự tự do. Như Crist đã chỉ ra: “Người mua
    không có tự do mà bị cưỡng ép. Họ bắt buộc trả tiền cho nhu cầu thiết yếu

    như chỗ ở an toàn”. Nếu bạn cùng gia đình đang chạy bão, việc trả giá “cắt
    cổ” cho nhiên liệu hoặc nơi trú ẩn không thực sự là trao đổi tự nguyện. Điều
    này hơi giống tống tiền. Vì vậy, để xem liệu luật chống giá cắt cổ có công
    bằng hay không, chúng ta cần xét các đánh giá đối nghịch nhau về phúc lợi
    và tự do.
    Nhưng chúng ta cũng cần phải cân nhắc một số lập luận khác. Đa số công
    chúng ủng hộ luật chống giá cắt cổ vì một điều gì đó có tính bản năng hơn là
    phúc lợi hoặc tự do. Mọi người bị lũ “kền kền” - những kẻ kiếm chác trên sự
    tuyệt vọng của người khác - xúc phạm và mong muốn chúng phải bị trừng
    phạt, chứ họ chẳng được lợi lộc gì. Tình cảm như vậy thường bị gạt đi vì bị
    xem là những xúc cảm cơ bẩn, không nên xen vào chính sách chung hoặc
    pháp luật. Như Jacoby viết, “Chỉ trích các nhà cung cấp [“kền kền”] cũng
    không đẩy nhanh được tốc độ phục hồi của Florida”.
    Nhưng cơn phẫn nộ với những kẻ bán giá cắt cổ không chỉ là sự tức giận vô
    thức. Nó gợi lên một lập luận về mặt đạo đức rất đáng quan tâm. Phẫn nộ là
    cảm giác tức giận đặc biệt khi bạn tin rằng những kẻ đó nhận được điều
    chúng không xứng đáng được hưởng. Phẫn nộ là sự tức giận với điều bất
    công.
    Crist đã chạm vào ngọn nguồn đạo đức của sự phẫn nộ khi ông mô tả “mức
    độ tham lam trong suy nghĩ của những kẻ sẵn sàng lợi dụng những người
    đau khổ trong cơn siêu bão”. Ông không kết nối quan sát này với luật về giá
    cắt cổ một cách rõ ràng. Nhưng ẩn trong nhận xét của ông là điều gì đó
    giống lập luận sau đây, lập luận về đức tính:
    Tham lam là tính xấu của loài người, đặc biệt khi nó khiến con người không
    quan tâm đến đau khổ của đồng loại. Không chỉ là tính xấu, tham lam còn đi
    ngược lại đạo đức công dân. Trong thời kỳ khốn khó, một xã hội tốt kéo mọi
    người lại gần nhau. Thay vì ra sức kiếm lợi, con người quan tâm đến nhau.
    Một xã hội mà ai cũng lợi dụng hàng xóm của mình để trục lợi lúc khó khăn
    không phải là xã hội tốt. Do đó quá tham lam là tính xấu mà xã hội tốt nên
    loại trừ nếu có thể. Luật chống giá cắt cổ không loại bỏ lòng tham, nhưng ít
    nhất hạn chế lòng tham thể hiện trắng trợn, và biểu hiện việc xã hội không
    chấp thuận nó.
    Bằng cách trừng phạt chứ không ban thưởng cho hành vi tham lam, xã hội
    khẳng định đức tính hy sinh vì lợi ích chung. Việc ghi nhận sức mạnh của
    đạo đức trong lập luận về đức tính không có nghĩa là khăng khăng đạo đức
    luôn được đặt trước các tiêu chí khác. Bạn có thể kết luận trong một số

    trường hợp là một cộng đồng bị siêu bão ảnh hưởng có thể cho ác quỷ hưởng
    lợi - cho phép giá cắt cổ - với hy vọng thu hút một đội quân những người sửa
    mái nhà và các nhà thầu từ xa đến, thậm chí với cái mất về mặt đạo đức là
    không trừng phạt được lòng tham. Sửa chữa mái nhà trước và kết cấu xã hội
    sau. Tuy nhiên cần hết sức chú ý rằng, tranh luận quanh luật chống giá cắt cổ
    không chỉ đơn giản về phúc lợi và tự do mà còn là về đạo đức, về việc tu
    dưỡng thái độ, tính tình, phẩm chất của cá nhân - nền tảng của một xã hội tốt
    đẹp. Một số người, kể cả những người ủng hộ luật chống giá cắt cổ, không
    hoàn toàn đồng tình với lập luận về đạo đức ấy vì lập luận này mang tính
    phán xét nhiều hơn lập luận về phúc lợi và tự do.
    Việc xem xét liệu một chính sách có đẩy nhanh tốc độ phục hồi kinh tế hay
    thúc đẩy tăng trưởng kinh tế không liên quan đến việc đánh giá sở thích của
    người dân. Có thể giả định mọi người đều thích thu nhập tăng chứ không
    giảm, và không nên phán xét cách họ chi tiêu tiền của mình. Tương tự thế,
    để xem xét trong hoàn cảnh bị ép buộc liệu người dân thực sự có quyền tự do
    lựa chọn hay không không đòi hỏi phải đánh giá lựa chọn của họ. Câu hỏi
    đặt ra chỉ là liệu, hoặc ở mức độ nào, mọi người tự do hơn là bị cưỡng ép.
    Ngược lại, lập luận đạo đức dựa trên phán xét rằng tham lam là tính xấu mà
    chính quyền nên ngăn chặn. Nhưng ai sẽ đánh giá điều gì là đạo đức và điều
    gì là xấu xa? Chẳng phải là công dân của các xã hội đa nguyên đều không
    đồng ý về những điều như vậy sao? Và phải chăng thật nguy hiểm khi áp đặt
    các phán xét đạo đức vào trong luật pháp? Khi đối mặt với những lo lắng
    như vậy, nhiều người cho rằng chính quyền nên trung lập trong vấn đề cái tốt
    và thói xấu, chính quyền không nên cố gắng cổ vũ thái độ tốt hay ngăn cản
    thái độ xấu.
    Vì vậy, khi thăm dò phản ứng về giá cắt cổ, chúng ta thấy mình bị kẹt giữa
    hai hướng: Chúng ta bị tổn thương khi có những kẻ có được thứ chúng
    không xứng đáng được hưởng; chúng ta nghĩ lòng tham kiếm chác trên đau
    khổ của con người nên bị trừng phạt, chứ không phải là khen thưởng. Tuy
    nhiên chúng ta lo lắng khi phán xét về đạo đức dược thể hiện trong luật.
    Điểm khó xử này chỉ ra một trong những vấn đề lớn trong triết học chính trị:
    Một xã hội công bằng có nên tìm cách thúc đẩy đạo đức các công dân
    không? Hay pháp luật cần giữ vai trò trung lập giữa các quan niệm đạo đức
    đối nghịch nhau, để công dân tự do lựa chọn cho mình lối sống tốt nhất?
    Theo các lý lẽ trong sách giáo khoa, vấn đề này chia rẽ tư tưởng chính trị cổ
    đại và hiện đại. Ở một khía cạnh quan trọng, sách đúng. Aristotle viết rằng

    công lý có nghĩa là cho mọi người những gì họ xứng đáng có được. Và để
    xác định xem ai xứng đáng với cái gì, chúng ta phải xác định những đức tính
    nào có giá trị về mặt đạo đức và xứng đáng được tán dương. Aristotle cho
    rằng chúng ta không thể xác định đâu là một thể chế công bằng nếu không
    phản ánh được ngay từ đầu cách sống đáng ao ước nhất. Với ông, pháp luật
    không thể trung lập với vấn đề cách sống tốt đẹp.
    Ngược lại, các triết gia chính trị hiện đại - từ Immanuel Kant thế kỷ thứ 19
    đến John Rawls thế kỷ 20 - lại cho rằng các nguyên tắc công lý nhằm xác lập
    quyền của chúng ta không nên dựa trên bất kỳ quan niệm cụ thể nào về đạo
    đức, về lối sống nào là tốt nhất. Thay vào đó, xã hội công bằng tôn trọng
    quyền tự do lựa chọn quan điểm sống của bất kỳ công dân nào.
    Vì vậy, bạn có thể nói các học thuyết công lý cổ đại bắt đầu bằng đạo đức,
    còn các lý thuyết hiện đại bắt đầu bằng tự do. Và trong những chương tới,
    chúng ta khám phá ưu nhược điểm của các lý thuyết này.
    Nhưng ngay từ đầu nên nhận thấy là tương phản này có thể làm chúng ta lạc
    lối. Vì nếu chúng ta xem xét các lập luận về công lý trong các vấn đề chính
    trị đương đại - các lập luận từ những người bình thường chứ không phải từ
    các triết gia - chúng ta sẽ thấy một bức tranh phức tạp hơn.
    Đúng là hầu hết các lập luận của chúng ta đều liên quan đến việc thúc đẩy sự
    thịnh vượng và tôn trọng tự do cá nhân, ít nhất là ở bề ngoài. Nhưng bên
    dưới những lập luận này, và đôi khi xung đột với chúng, chúng ta thường
    xuyên nhìn thấy một hệ thống niềm tin rất khác - về những đức tính nào
    đáng được tôn vinh và tưởng thưởng, và lối sống nào một xã hội tốt đẹp nên
    khuyến khích.
    Mặc dù coi thịnh vượng và tự do là quan trọng nhất, chúng ta không thể loại
    bỏ hoàn toàn các phán xét về công lý. Niềm tin rằng công lý liên quan đến
    đạo đức đã ăn sâu. Khi nghĩ về công lý dường như ta không thể không nghĩ
    về cách sống tốt nhất.

    Thương tích nào xứng đáng với huân
    chương Tử tâm?
    Trong một số tình huống, vấn đề đức tính và tôn vinh đã quá rõ ràng không
    thể phủ định được. Hãy xét cuộc tranh luận gần đây về việc ai đủ điều kiện
    nhận huân chương Tử tâm (Purple Heart). Từ năm 1932, quân đội Hoa Kỳ
    trao tặng huân chương này cho binh sĩ bị thương hoặc thiệt mạng trong chiến

    trận. Bên cạnh sự tôn vinh, người nhận huân chương được ưu đãi đặc biệt tại
    bệnh viện cựu chiến binh.
    Kể từ đầu cuộc chiến hiện nay ở Iraq và Afghanistan, ngày càng nhiều cựu
    chiến binh bị chẩn đoán mắc chứng rối loạn do stress hậu sang chấn (posttraumatic stress disorder) và được điều trị bệnh trạng này. Triệu chứng là ác
    mộng định kỳ, trầm cảm nặng và tự tử. Ít nhất ba trăm ngàn cựu chiến binh
    được báo cáo bị chấn thương tâm lý hoặc trầm cảm nặng. Một số người ủng
    hộ đề xuất rằng các cựu chiến binh này cũng nên được nhận huân chương Tử
    tâm. Lý do là chấn thương tâm lý cũng gây suy nhược như những vết thương
    trên thân thể, nên những binh sĩ chịu tổn thương kiểu này phải được nhận
    huân chương.
    Sau khi vấn đề được ủy ban Tư vấn nghiên cứu, năm 2009, Lầu Năm góc
    công bố rằng huân chương Tử tâm sẽ chỉ dành cho binh sĩ bị thương. Cựu
    binh bị rối loạn tâm thần và chấn thương tâm lý không đủ tiêu chuẩn, mặc dù
    họ hội đủ điều kiện được miễn phí điều trị y tế và nhận hỗ trợ tàn tật từ chính
    quyền. Lầu Năm góc đưa ra hai lý do: rối loạn do stress hậu sang chấn không
    phải do hành động cố ý từ phía quân địch, và triệu chứng khó chẩn đoán một
    cách khách quan.
    Quyết định của Lầu Năm góc có đúng không? Lý do không thật thuyết phục
    - chính họ cũng cho như vậy. Trong chiến tranh Iraq, một trong những
    thương tích phổ biến nhất khiến binh sĩ được nhận huân chương Tử tâm là
    thủng màng nhĩ, xảy ra do nổ ở gần. Nhưng không giống như trúng bom đạn,
    tiếng nổ không phải là chiến thuật có chủ ý của đối phương nhằm gây tổn
    thất. Kiểu bị thương này (giống như stress hậu sang chấn) là hậu quả phụ của
    các hoạt động chiến trường. Và mặc dù các rối loạn tâm lý khó chẩn đoán
    hơn gãy chân tay, nhưng thương tổn do chúng gây ra có thể để lại hậu quả
    nặng nề và lâu dài hơn.
    Khi cuộc tranh luận về huân chương Tử tâm lan rộng, người ta thấy vấn đề
    thực sự nằm ở ý nghĩa của huân chương và đức tính nào mà huân chương tôn
    vinh. Không giống các huân chương quân sự khác, huân chương Tử tâm tôn
    vinh sự hy sinh, chứ không phải lòng dũng cảm. Nó không yêu cầu phải có
    hành động anh hùng, mà chỉ cần vết thương do quân địch gây ra. Vấn đề là
    nên xem xét loại vết thương nào.
    Một nhóm cựu chiến binh có tên Huân chương quân công Tử Tâm phản đối
    việc trao huân chương cho chấn thương tâm lý, họ cho rằng điều này “làm
    giảm giá trị” của danh dự cao quý này. Phát ngôn viên của nhóm nói rằng

    “đổ máu” phải là yếu tố cốt lõi. Ông không giải thích lý do tại sao không nên
    xét thương tích không đổ máu.
    Nhưng cựu đại úy thủy quân lục chiến Tyler E. Boudreau người ủng hộ việc
    nên tặng huân chương cho các chấn thương tâm lý - đã có một phân tích
    thuyết phục cho cuộc tranh luận này. Ông quy tội phe đối lập là có thái độ
    coi căng thẳng tâm lý thể hiện sự yếu đuối - một thái độ thâm căn cố đế
    trong quân đội. “Chính nền văn hóa đòi hỏi tính cách cứng rắn cũng khuyến
    khích mọi người nghi ngờ rằng bạo lực chiến tranh có thể làm tổn hại những
    bản lĩnh mạnh mẽ nhất... Đáng buồn thay, chừng nào văn hóa quân đội của
    chúng ta còn coi thường - dù kín đáo - những vết thương tâm lý trong chiến
    tranh, thì không chắc những thương binh đó sẽ được nhận huân chương Tử
    Tâm”.
    Vì vậy, cuộc tranh luận về huân chương Tử tâm không chỉ là tranh cãi mang
    tính y tế quanh cách làm thế nào để xác định tính xác thực của thương tích.
    Trung tâm của bất đồng là quan niệm đối nghịch về đạo đức cá nhân và lòng
    dũng cảm trong chiến tranh. Những người khăng khăng chỉ nên công nhận
    vết thương đổ máu tin rằng chấn thương tâm lý thể hiện tính cách yếu đuối,
    không xứng đáng được tôn vinh. Những người tin rằng chấn thương tâm lý
    cũng đạt yêu cầu lập luận rằng các cựu chiến binh chịu chấn thương dai dẳng
    và trầm cảm nặng cũng đã hy sinh vì tổ quốc của họ, và hoàn toàn xứng đáng
    được tôn vinh như những binh sĩ bị cụt chân tay.
    Cuộc tranh luận quanh vấn đề huân chương Tử tâm minh họa logic về mặt
    đạo đức trong học thuyết công lý của Aristotle. Chúng ta không thể xác định
    xem ai xứng đáng được nhận huân chương nếu không hỏi huân chương tôn
    vinh giá trị gì. Và để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải đánh giá những quan
    niệm đối lập về tính cách và sự hy sinh.
    Có thể lập luận huân chương quân công là trường hợp đặc biệt, có nguồn gốc
    từ đạo lý về danh dự và phẩm giá của thời cổ đại. Bây giờ, hầu hết các lập
    luận về công lý của chúng ta nói về cách thức phân phối của cải, hay những
    gánh nặng của thời kỳ khó khăn, và làm thế nào để xác định các quyền công
    dân cơ bản. Ở khía cạnh này, yếu tố phúc lợi và tự do chiếm ưu thế. Nhưng
    lập luận về cái đúng và cái sai của các lý lẽ kinh tế thường dẫn chúng ta quay
    trở lại câu hỏi về mặt đạo đức của Aristotle: con người xứng đáng với điều
    gì, và lý do tại sao.

    Căm giận gói cứu trợ

    Chúng ta cùng xét sự căm phẫn của công chúng trong cuộc khủng hoảng tài
    chính 2008-2009. Trong nhiều năm, giá cổ phiếu và bất động sản tăng. Ngày
    phán xét đã đến khi bong bóng nhà đất nổ tung. Các ngân hàng và tổ chức tài
    chính Phố Wall đã kiếm hàng tỷ đô la qua các vụ đầu tư phức tạp được đảm
    bảo bởi các khoản thế chấp giờ trở nên vô giá trị. Nhiều công ty ở Phố Wall
    một thời là niềm tự hào nay bên bờ sụp đổ. Thị trường chứng khoán chao
    đảo, gây thiệt hại không chỉ cho các nhà đầu tư lớn mà còn những người Mỹ
    bình thường, tài khoản lương hưu của họ mất hầu hết giá trị. Tổng tài sản
    của các gia đình Mỹ đã giảm đi 11 nghìn tỷ đô la trong năm 2008, bằng tổng
    sản lượng xuất khẩu của Đức, Nhật Bản, và Anh trong một năm.
    Tháng Mười năm 2008, Tổng thống George W. Bush yêu cầu Quốc hội
    thông qua gói cứu trợ 700 tỷ đô la cho các ngân hàng và công ty tài chính
    lớn của Mỹ. Điều này có vẻ không công bằng vì Phố Wall đã kiếm được lợi
    nhuận khổng lồ trong thời kỳ thuận lợi và giờ đây khi mọi thứ xấu đi, lại yêu
    cầu người nộp thuế chi tiền. Nhưng dường như không có giải pháp nào khác.
    Các ngân hàng và công ty tài chính đã phát triển ra quá lớn và bám rễ vào
    mọi lĩnh vực của nền kinh tế đến nỗi sự sụp đổ của chúng sẽ kéo theo toàn
    bộ hệ thống tài chính. Chúng đã “quá lớn không thể để cho sụp được”.
    Không ai nói rằng các ngân hàng và quỹ đầu tư đáng được cứu trợ. Các vụ
    thế chấp thiếu cẩn trọng của họ (được các quy định thiếu chặt chẽ của chính
    phủ tạo điều kiện) đã tạo ra cuộc khủng hoảng này. Nhưng giờ đây, sức khỏe
    của toàn bộ nền kinh tế nói chung đáng quan tâm hơn sự công bằng. Quốc
    hội miễn cưỡng thông qua số tiền cứu trợ.
    Sau đó, xuất hiện vụ tiền thưởng. Ngay sau khi tiền cứu trợ bắt đầu được
    bơm xuống, các tài liệu rò rỉ tiết lộ tin tức một số công ty nhận tiền tài trợ từ
    chính phủ đã chi hàng triệu đô la tiền thưởng cho các giám đốc điều hành.
    Vụ việc nghiêm trọng nhất là American International Group (AIG), công ty
    bảo hiểm khổng lồ đang bên bờ vực phá sản do các khoản đầu tư đầy mạo
    hiểm của bộ phận các sản phẩm tài chính. Mặc dù được chính phủ giải cứu
    với khoản tiền khổng lồ 173 tỷ đô la, công ty đã thưởng 165 triệu đô la cho
    các vị giám đốc ở chính bộ phận đã nhanh chóng tạo ra khủng hoảng. Bảy
    mươi ba nhân viên nhận được tiền thưởng từ 1 triệu đô la trở lên.
    Tin tức về khoản tiền thưởng làm công chúng đùng đùng nổi giận. Lần này,
    sự phẫn nộ không phải về túi nước đá 10 đô la hoặc giá phòng trọ cao ngất.
    Đây là khoản tiền thưởng lớn lấy từ tiền thuế của dân dành cho những thành
    viên của bộ phận đã khiến hệ thống tài chính toàn cầu suýt sụp đổ. Có gì đó
    không ổn với vụ việc này. Mặc dù chính phủ Hoa Kỳ hiện nắm giữ 80% cổ

    phần của AIG, bộ trưởng tài chính van nài trong vô vọng tổng giám đốc điều
    hành AIG do chính phủ bổ nhiệm hủy bỏ khoản tiền thưởng. Vị tổng giám
    đốc trả lời: “Chúng tôi không thể thu hút và giữ nhưng người giỏi nếu nhân
    viên tin rằng tiền lương của họ tiếp tục bị Bộ Tài chính Mỹ điều chỉnh một
    cách độc đoán”. Vị tổng giám đốc tuyến bố cần phải có các nhân viên tài
    năng để đẩy đi các khoản nợ xấu, đem lại lợi ích của người nộp thuế, là
    những người xét cho cùng là chủ sở hữu phần lớn công ty.
    Công chúng phản ứng giận dữ. Tờ báo lá cải New York Post chạy một dòng
    tít to chiếm trọn một trang báo thể hiện tình cảm của nhiều người: “Đừng vội
    vàng như thế lũ khốn tham lam”. Hạ viện Hoa Kỳ tìm cách thu lại khoản tiền
    thưởng bằng cách phê duyệt một đạo luật đánh thuế tới 90% khoản tiền
    thưởng trả cho nhân viên của công ty nhận gói cứu trợ lớn. Dưới áp lực của
    Andrew Cuomo, tổng chưởng lý bang New York, 15 trong tổng số 20 quan
    chức hàng đầu của AIG nhận tiền thưởng đã đồng ý trả lại tiền thưởng với
    tổng giá trị lên tới 50 triệu đô la. Cử chỉ này phần nào xoa dịu công chúng,
    và khiến Thượng viện không thông qua đạo luật thuế trừng phạt. Nhưng tình
    tiết này khiến công chúng không sẵn lòng chi thêm tiền để xử lý hậu quả mà
    giới tài chính đã tạo ra.
    Sự giận dữ chủ yếu là cảm giác bất công. Ngay cả trước khi vấn đề tiền
    thưởng nổ ra, công chúng đã do dự và mâu thuẫn đối với gói cứu trợ. Người
    Mỹ bị giằng xé giữa nhu cầu phải ngăn chặn cuộc khủng hoảng kinh tế gây
    hại cho tất cả mọi người và niềm tin cho rằng việc bơm những khoản tiền lớn
    xuống cho các ngân hàng và công ty đầu tư bị phá sản là điều vô cùng bất
    công. Để tránh thảm họa kinh tế, Quốc hội và công chúng đã chấp nhận.
    Nhưng xét về mặt đạo đức, điều này chẳng khác gì tống tiền.
    Ẩn dưới nỗi tức giận về gói cứu trợ là niềm tin về giá trị đạo đức: Các giám
    đốc điều hành nhận được tiền thưởng (và các công ty nhận được cứu trợ)
    không xứng đáng. Nhưng tại sao không? Lý do có vẻ ít rõ ràng hơn thoạt
    tưởng. Hãy xem xét hai câu trả lời khả dĩ - một câu liên quan đến sự tham
    lam, câu ...
     
    Gửi ý kiến