Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Sử ký Tư Mã Thiên

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 09h:53' 19-03-2024
    Dung lượng: 2.5 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    SỬ KÝ TƯ MÃ THIÊN
    ,

    Dịch giả:
    Nhữ Thành (Phan Ngọc)
    Nguồn:
    Vnthuquan
    Đánh máy:
    Mickey, TSAH, Chieu Phu, Thanh Loan
    Soạn eBook (04/05/10) : N.Q.S
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    MỤC LỤC:
    LỜI GIỚI THIỆU
    I. CON NGƯỜI
    II. TÁC PHẨM
    III. TƯ TƯỞNG
    IV. NGHỆ THUẬT
    [01] THÁI SỬ CÔNG tự đề tựa
    [02] Thư trả lời NHÂM AN
    [03] TẦN THỦY HOÀNG bản kỷ
    [04] HẠNG VŨ bản kỷ
    [05] CAO TỔ bản kỷ
    [06] LỮ HẬU bản kỷ
    [07] BÌNH CHUẨN THƯ
    [08] KHỔNG TỬ thế gia
    [09] VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN thế gia
    [10] TRẦN THIỆP thế gia
    [11] LƯU HẦU thế gia
    [12] TRẦN THỪA TƯỚNG thế gia
    [13] TÔN TỬ, NGÔ KHỞI liệt truyện
    [14] Truyện LÃO TỬ
    [15] Truyện TRANG TỬ
    [16] THÂN BẤT HẠI, HÀN PHI liệt truyện
    [17] TƯ MÃ NHƯƠNG THƯ liệt truyện
    [18] NGŨ TỬ TƯ liệt truyện
    [19] THƯƠNG QUÂN liệt truyện
    [20] Truyện TÔ TẦN
    [21] Truyện TRƯƠNG NGHI
    [22] MẠNH TỬ, TUÂN KHANH liệt truyện
    [23] BÌNH NGUYÊN QUÂN, NGU KHANH liệt truyện
    [24] NGỤY CÔNG TỬ liệt truyện
    [25] PHẠM THƯ, THÁI TRẠCH liệt truyện
    [26] NHẠC NGHỊ liệt truyện
    [27] LIÊM PHA, LẠN TƯƠNG NHƯ liệt truyện
    [28] ĐIỀN ĐAN liệt truyện
    [29] KHUẤT NGUYÊN liệt truyện
    [30] Truyện LÃ BẤT VI
    [31] THÍCH KHÁCH liệt truyện
    [32] LÝ TƯ liệt truyện
    [33] TRƯƠNG NHĨ, TRẦN DƯ liệt truyện
    [34] KÌNH BỐ liệt truyện
    [35] HOÀI ÂM HẦU liệt truyện
    [36] LỊCH SINH, LỤC GIẢ liệt truyện
    [37] QUÝ BỐ, LOAN BỐ liệt truyện
    [38] TRƯƠNG THÍCH CHI, PHÙNG ĐƯỜNG liệt truyện
    [39] NGỤY KỲ, VŨ AN HẦU liệt truyện
    [40] LÝ TƯỚNG QUÂN liệt truyện
    [41] NAM VIỆT ÚY ĐÀ liệt truyện
    [42] CẤP ẢM liệt truyện
    [43] DU HIỆP liệt truyện
    [44] HOẠT KÊ liệt truyện
    HÓA THỰC liệt truyện

    LỜI GIỚI THIỆU
    Đối với văn hoá thế giới, quyển sử ký của Tư Mã Thiên chiếm một địa
    vị đặc biệt. Nó là công trình sử học lớn nhất của Trung quốc và là một trong
    những quyển sử có tiếng nhất của thế giới. Nhưng còn một điều làm chúng ta
    ngạc nhiên hơn là công trình khoa học lớn lao ấy đồng thời lại là một trong
    những tác phẩm văn học ưu tú của nhân loại. Người Trung hoa xem nó là tác
    phẩm lớn nhất về văn xuôi trong nền văn học cổ Trung quốc, và xem nó là
    tác phẩm cổ điển ngang hàng với thơ của Đỗ Phủ.
    Sử ký là cả một thế giới. Nó làm thoả mãn tất cả mọi người. Người
    nghiên cứu sử tìm thấy ở đấy một kho tài liệu vô giá, chính xác, với giá trị
    tổng hợp rất cao. Nhà nghiên cứu tư tưởng tìm thấy qua Sử ký "một trong
    những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại" [Bách khoa toàn thư xô-viết,
    mục: Sử ký.]. Người bình thường tìm thấy vô số những hình tượng điển hình,
    những câu chuyện hấp dẫn, những con người đầy sức sống mãnh liệt. Họ
    thấy quá khứ sống lại và không phải chỉ có thế. Người nghiên cứu văn học
    còn tìm thấy ở đấy một tác phẩm văn học, mãi mãi tươi trẻ như sự sống, họ
    thấy ở đấy một tâm hồn, một tâm sự đau xót đầy sức mạnh của thơ trữ tình,
    "một tập Ly tao không vần" như lời đánh giá của Lỗ Tấn.

    I. CON NGƯỜI
    Tư Mã Thiên, tên tự là Tử Trường, sinh năm 145 trước Công nguyên, ở
    Long Môn hay là huyện Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây. Tổ tiên của ông từ đời
    Chu đã làm Thái sử. Đến đời cha của ông là Tư Mã Đàm làm thái sử lệnh
    của nhà Hán. Đàm là một người học rất rộng, rất thích học thuyết Lão Trang.
    Chức sử quan ngoài việc chép sử còn coi thiên văn, làm lịch, bói toán.
    "Nghề viết văn, viết sử, xem sao, xem lịch thì cũng gần với bọn thầy bói,
    thầy cúng. Chúa thượng vẫn đùa bỡn nuôi như bọn con hát, còn thế tục vẫn
    coi thường". Tuy vậy, Tư Mã Đàm vẫn thấy cái nghề của mình cao quý, vì
    ông biết nó có tác dụng to lớn đối với sự thịnh suy, hưng vong của một nước.
    Trong các sử quan đời trước, cũng có những người dám hy sinh đời mình để
    viết sự thật, dù sự thật ấy làm vua chúa tức giận. Chẳng hạn khi Thôi Trữ
    giết vua Tề, thì quan thái sử nước Tề viết: "Thôi Trữ giết vua của mình là
    Trang Công". Quan thái sử bị giết, người em lên thay vẫn viết như vậy, nên
    bị giết luôn. Ngay lúc đó, người em thứ ba xin lên thay không thêm bớt một
    chữ. Thôi Trữ sợ không dám giết. Khổng Tử làm kinh Xuân Thu cũng là
    chép lại những sự thực lịch sử cốt để "chế thiên tử, ức chế chư hầu, phạt tội
    các đại phu, nêu rõ vương đạo".
    Tư Mã Thiên sống thời thơ ấu ở Long Môn, cày ruộng, chăn cừu, làm
    bạn với những người nông dân bình thường, và học các sách sử cổ. Lên
    mười tuổi, ông đã học Tả Truyện, Quốc Ngữ, Thế bản và thuộc lòng hầu hết
    những bài văn nổi tiếng của thời trước.
    Tư Mã Đàm hết sức chú ý đến việc giáo dục con. Năm Tư Mã Thiên hai
    mươi tuổi, ông bảo con lên đường đi du lịch để xem tận mắt những nơi sau
    này Tư Mã Thiên sẽ phải viết sử. Tư Mã Thiên trước tiên đi về nam đến
    Trường Giang, vượt sông Hoài, sông Tứ, thăm một mẹ Hàn Tín, đoạn lên
    núi Cối Kê xem nơi vua Hạ Vũ triệu tập chư hầu, vào hang Vũ Động tìm di
    tích vua Vũ. Ở Cối Kê ông đã nghe những chuyện kể về vua Việt, Câu Tiễn.
    Ông lên Cô Tô tìm di tích Ngũ Tử Tư, đi thuyền trên Thái Hồ sưu tầm
    truyền thuyết về Tây Thi, Phạm Lãi. Sau đó, ông đi ngược lên Trường Sa,
    đến bến Mịch La khóc Khuất Nguyên, đến sông Tương trèo lên núi Cửu
    Nghi nhìn dấu vết mộ vua Thuấn, và khảo sát những tục cũ từ thời Hoàng
    Đế. Ông lên miền Bắc vượt sông Vấn, sông Tử đến nước Tề, nước Lỗ, bồi
    hồi nhìn lăng miếu của Khổng Tử, say sưa nghe nhân dân kể chuyện Trần
    Thiệp, đến đất Tiết thăm hỏi di tích của Mạnh Thường Quân, lên Bành
    Thành quê hương Lưu Bang, để tìm hiểu rõ thời niên thiếu của những con
    người đã dựng nên nhà Hán. Ông sang nước Sở thăm đất phong của Xuân
    Thân Quân, đến nước Nguỵ hỏi chuyện Tín Lăng Quân rồi trở về Trường
    An. Sau chuyến đi ấy kéo dài ba năm, ông còn đi những chuyến khác cũng

    để tìm tài liệu. Trong thời xưa, việc đi lại rất khó khăn, trên đường giặc cướp
    rất nhiều, những nhà du thuyết có bôn ba từ nước này sang nước khác thì
    cũng chỉ ở trong một địa bàn rất hẹp, chứ chưa có ai vì mục đích khoa học
    mà lại đi xa như vậy. Có thể nói trừ miền Quảng Đông, Quảng Tây, còn từ
    Vân Nam, Tứ Xuyên cho đến Vạn Lý Trường Thành, ở đâu cũng có vết chân
    của ông. Ông là một trong những nhà du lịch lớn nhất của Trung Cổ.
    Những cuộc du lịch đã cung cấp cho ông vô số tài liệu, truyền thuyết,
    giúp ông thấy được thái độ của nhân dân đối với những nhân vật, những biến
    cố lịch sử và cho ông rất nhiều chi tiết điển hình về đời sống từng người
    trong lúc còn hàn vi.
    Chính những cuộc "đi chơi" như vậy đã làm cho Tư Mã Thiên thấy cái
    bao la hùng vĩ của đất nước, có được một ý thức sâu sắc về sự vĩ đại của tổ
    quốc, về tất cả mọi mặt để thành nhà sử gia vĩ đại của cả một dân tộc. Mã
    Tồn một văn sĩ đời sau nói, "Muốn học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì
    trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường". Câu nói đó không phải là quá
    đáng.
    Sau lúc đi du lịch về, ông làm lang trung. Lang trung là chức quan nhỏ
    có trách nhiệm bảo vệ nhà vua khi đi ra ngoài. Trong thời gian ấy, ông biết
    Lý Lăng cùng làm lang trung như ông, và thường gặp Lý Quảng.
    Năm 110 trước Công Nguyên, Vũ Đế chuẩn bị làm lễ phong thiên ở
    Thái Sơn, Tư Mã Đàm trên đường đi theo nhà vua, mắc bệnh nặng, cầm tay
    con khóc mà dặn rằng: -Tổ ta đời đời làm sử quan. Sau khi ta chết đi, thế nào
    con cũng nối nghiệp ta làm thái sử. Khi làm thái sử chớ quên những điều ta
    muốn bàn, muốn viết ... Hiện nay bốn biển một nhà, vua sáng tôi hiền, ta làm
    thái sử mà không chép được rất lấy làm xấu hổ. Con hãy nhớ lấy!
    Ông khóc mà vâng lời.
    Ba năm mãn tang, ông thay cha làm thái sử lệnh (-108) chuẩn bị viết bộ
    Sử ký, thực hiện cái hoài bão lớn nhất của người cha, đồng thời là điều mong
    ước duy nhất của mình. Từ -106, ông không giao tiếp với khách khứa, bỏ cả
    việc nhà, ngày đêm miệt mài biên chép. Như thế được bảy năm thì xảy ra cái
    vạ Lý Lăng.
    Năm 99 trước Công Nguyên, Vũ Đế sai Lý Quảng Lợi cầm ba vạn quân
    đánh Hung Nô. Bấy giờ Lý Lăng, cháu của danh tướng Lý Quảng, cầm năm
    ngàn quân vào biên giới Hung Nô. Bị tám vạn quân Hung Nô bao vây. Lăng
    chỉ huy cuộc chiến đấu suốt mười ngày liền, giết hơn vạn quân địch. Nhưng
    cuối cùng vì cách xa biên giới, bị chặn mất đường về, quân sĩ chết hầu hết,
    mệt mỏi không còn sức chiến đấu, Lăng phải đầu hàng. Vũ Đế nổi giận
    muốn giết cả nhà Lăng, quần thần đều hùa theo ý nhà vua. Thiên biết Lăng
    từ hồi hai người còn làm lang trung, tuy không đi lại chơi bời, nhưng mến

    phục Lăng là người can đảm có phong thái của người quốc sĩ, nên tâu: -Lý
    Lăng mang năm nghìn quân thâm nhập vào nước địch, đánh nhau với quân
    địch mạnh, luôn mười ngày liền, giết và làm bị thương vô số. Vua tôi
    Thuyền Vu sợ hãi, đem tất cả kỵ binh toàn quốc bao vây. Lăng một mình
    hăng hái chiến đấu ở ngoài ngàn dặm, tên hết, đường về bị cắt, cứu binh
    không đến, người chết và bị thương chồng như núi, nhưng nghe Lý Lăng hô
    hào, binh lính đều phấn chấn vuốt máu, chảy nước mắt giơ nắm tay không,
    xông vào mũi nhọn cùng Hung Nô quyết chiến. Thần cho rằng Lý Lăng có
    thể sánh với những danh tướng ngày xưa. Nay tuy thất bại, nhưng xem ông
    ta còn muốn có cơ hội báo đáp nước nhà.
    Ông hy vọng lời nói của mình có thể giảm nhẹ tội Lý Lăng, không ngờ
    Vũ Đế càng giận, cho ông cố ý đề cao Lăng để chê Lý Quảng Lợi nhút nhát
    không lập nên công lao gì, mà Quảng Lợi lại là anh của Lý phu nhân rất
    được nhà vua yêu quý. Vũ Đế bèn sai bắt giam Tư Mã Thiên giao cho Đỗ
    Chu xét xử.
    Nhân vật Đỗ Chu đã được Thiên nói đến trong Khốc lại truyện. Có
    người trách y, "Ông thay nhà vua coi pháp luật, tại sao không căn cứ vào
    pháp luật mà xét, trái lại chỉ lo chìu theo ý nhà vua"? Đỗ Chu đáp: "Luật
    lệnh ở đâu mà ra? Chẳng phải do nhà vua mà ra đó sao?" Gặp phải bọn quan
    lại như vậy, cố nhiên ông không có cách nào khỏi tội.
    Bấy giờ có phép lấy tiền chuộc tội. Chỉ cần năm mươi vạn đồng tiền là
    chuộc được tội chết. Trong bức thư ông viết sau này cho Nhâm An, một
    người bạn cũ sắp bị chém, một người cùng chung cảnh ngộ (Xem thư trả lời
    Nhâm An). Ông đã kể lại nỗi cay đắng của mình. Nhà ông nghèo, ông mải
    mê theo đuổi sự nghiệp của mình quên cả gia sản, nên không sao chuộc được
    tội. Bạn bè, thân thích, không ai nói hộ một lời, không ai giúp cho một đồng.
    Kết quả, con người ngang tàng, hai mươi ba tuổi đầu đi khắp Trung quốc,
    nhà học giả lớn nhất của thời đại, con người ôm cái hoài bão làm Chu Công,
    Khổng Tử, cuối cùng bị khép vào tội "coi thường nhà vua", và bị thiến!
    Đã mấy lần uất ức quá, ông nghĩ đến việc tự vẫn. Những ông thấy rằng
    nếu chết đi thì chẳng ai khen mình là tử tiết, mà thế tục sẽ bảo đó là vì xấu
    hổ mà tự sát. Vả chăng, sự nghiệp chưa tròn, Sử ký còn dở dang, lời dặn của
    cha còn đó. Ông gạt nước mắt, nói, "Người ta ai cũng có một lần chết, có cái
    chết nặng như Thái Sơn, có cái chết nhẹ như lông hồng", và cố gắng gượng
    sống.
    Cái ấn tượng nhục nhã, cô độc theo dõi ông cho đến khi chết. Mỗi khi
    nghĩ đến cái nhục bị hình phạt, mồ hôi vẫn cứ đầm lưng ướt áo! Nhưng ông
    không vì thế mà chán nản. Trái lại, ông càng tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống.
    Ông thấy rõ hình phạt đó là một thử thách đối với những "người trác việc phi

    thường". Ông càng thấy cần phải viết "cho hả điều căm giận". Và chính cái
    hình phạt nhục nhã ấy đã làm cho ông hiểu rõ cái mặt trái của xã hội phong
    kiến và dũng cảm đứng về phía nhân dân. Ông trở thành nhà sử gia vĩ đại
    của một nhân dân vĩ đại.
    Quyển Sử ký trước kia là ý nghĩa của đời ông, bây giờ còn là nơi ông
    giải bày nổi lòng uất ức. Càng cảm thấy nhục nhã, ông càng thấy thiết tha
    với công việc, đem cả tâm huyết gửi vào cái tác phẩm vĩ đại, hy vọng rằng
    dù mình tàn phế, bị ô nhục, nhưng quyển sách kia sẽ thay mình nói với cuộc
    đời.
    Ở ngục ra, ông được làm trung thư lệnh. Đó là một chức quan to, ở gần
    vua, được ra vào cung cấm, xem tất cả các tài liệu mật. Tuy ở chức quan cao
    như vậy, nhưng ông chỉ cảm thấy xấu hổ vì đó là chức quan chỉ dành cho
    những hoạn quan.
    Hiện nay người ta vẫn chưa biết ông mất vào năm nào. Người ta chỉ biết
    ông viết bức thư trả lời cho Nhâm An năm ông 53 tuổi (-93), và sau đó
    không có những tài liệu gì về ông. Theo Vương Quốc Duy trong Thái sử
    công hành niên khảo có lẽ ông mất năm 60 tuổi (-86) cùng một năm với Vũ
    Đế.
    Quyển Sử ký như tác giả nó nói, không phải viết ra để mưu danh tiếng
    trước mắt. Sau khi ông chết, cũng không mấy ai biết đến nó. Quyển này
    được cất kỹ mãi đến thời cháu ngoại của ông là Dương Vận, thời Tuyên Đế
    mới được công bố.
    Ngoài Sử ký, ông còn làm một công việc khác cũng rất quan trọng. Năm
    -104, ông cùng Công Tôn Khanh Hồ Toại sửa lại lịch cũ, chế định Hán lịch.
    Âm lịch còn dùng đến ngày nay là công trình của nhóm này, trong đó ông
    đóng vai trò chủ chốt.

    II. TÁC PHẨM
    1. Sử ký
    2. Biểu
    3. Thư
    4. Thế gia
    5. Liệt truyện

    1. Sử ký
    Sử ký là một tác phẩm đồ sộ, tất cả 52 vạn chữ, 130 thiên, gồm năm
    phần: Bản kỷ, biểu, thư, thế gia, liệt truyện.
    1. , , , , Bản kỷ - chép sự tích của các đế vương, gồm có: Ngũ đế (Hoàng
    đế, Chuyên Húc, Cốc, Nghiêu, Thuấn)
    2. , , , , Hạ, Thương, Chu - mỗi thời đại một bản kỷ
    3. , , , , Tần hai bản kỷ - một bản kỷ từ khi có nước Tần đến Tần Thủy
    Hoàng, một bản kỷ về Tần Thủy Hoàng.
    4. , , , , Hạng Vũ
    5. , , , , Các bản kỷ về nhà Hán: Cao Tổ, Lữ Hậu, Hiếu Văn, Hiếu Cảnh,
    Hiếu Vũ.
    Tất cả có 12 bản kỷ, nhưng hiện nay thiếu mất bản kỷ Hiếu Cảnh, Hiếu
    Vũ. Vương Túc đời Nguỵ nói, "Vũ Đế nghe nói ông ta viết Sử ký bèn lấy
    bản kỷ của Hiếu Cảnh và của mình xem, giận lắm vứt đi, cho nên phần này
    chỉ có mục đề thôi, không viết gì". Về sau Chử Toại Lương lấy những phần
    này ở quyển Hán Thư của Ban Cố để điền vào cho đủ. Điều đó không phải
    không có lý vì Tư Mã Thiên có thái độ rất nghiêm khắc đối với các vua chúa,
    cũng không kiêng nể gì ông vua đang sống mà ông đã công kích mãnh liệt
    trong phần Phong thiện thư. Chính vì thế, Vương Doãn đời Hậu Hán gọi Sử
    ký là một quyển "báng thư" (một quyển sách phỉ báng). Mục đích của bản kỷ
    là chép lại sự việc của những người, những nước có tác dụng chi phối cả
    thiên hạ. Ngay ở đây, trong cách sắp đặt của ông cũng có những điều đời sau
    không dám nghĩ đến. Ông chép riêng lịch sử nước Tần, trước Tần Thủy
    Hoàng thành một bản kỷ, vì trong thời Chiến quốc, nước Tần là nước chi
    phối vận mệnh của tất cả các nước. Ông làm bản kỷ Lữ Hậu, mặc dầu Lữ
    Hậu chỉ là thái hậu chứ không trị vì trên danh nghĩa. Trái lại, ông không làm
    bản kỷ của Huệ Đế, mặc dù trên danh nghĩa, Huệ Đế vẫn là vua. Đó là vì,
    tuy Huệ Đế làm vua nhưng tất cả quyền hành đều nằm trong tay Lữ Hậu. Đặt
    một người đàn bà lên địa vị "kỷ cương" một nước, là điều không một sử gia
    nào đời sau dám làm. Táo bạo hơn, ông dành cho Hạng Vũ những trang đẹp
    nhất, mặc dù Hạng Vũ chưa làm đế, là kẻ thù của nhà Hán. Đó cũng là vì
    ông tôn trọng sự khách quan. Hạng Vũ tuy về danh nghĩa không phải là
    người làm chủ các chư hầu đánh lại nhà Tần (đó là địa vị của Nghĩa đế),
    nhưng trong thực tế, người có công lớn nhất trong việc tiêu diệt nhà Tần,

    người phong đất cho chư hầu cai trị thiên hạ trong năm năm, chính là Hạng
    Vũ. Các bản kỷ cung cấp cho người đọc, cái nhìn khái quát về từng thời đại
    để sau đó đi sâu vào từng sự kiện và từng nhân vật.
    2. Biểu
    Để có cái nhìn đối chiếu các sự kiện hoặc căn cứ vào niên đại, hoặc căn
    cứ vào sự tương quan đồng thời giữa các nước, Tư Mã Thiên lập ra mười
    biểu gồm có:
    01. , , Thế biểu thời tam đại
    02. , , Niên biểu mười hai nước chư hầu.
    03. , , Niên biểu sáu nước thời Chiến quốc
    04. , , Nguyệt biểu những việc xảy ra thời Hán Sở.
    05. , , Niên biểu các nước chư hầu từ thời Hán.
    06. , , Niên biểu các công thần của Hán Cao Tổ
    07. , , Niên biểu các nước chư hầu thời Huệ Đế và Cảnh Đế.
    08. , , Niên biểu các nước chư hầu từ niên hiệu Kiến Nguyên.
    09. , , Niên biểu các vị vương thời Vũ Đế.
    10. , , Niên biểu các danh thần từ khi nhà Hán lên.
    Những bản biểu là những công trình khoa học rất quý, ghi chép, năm,
    tháng, biến cố, giúp cho các nhà sử học hiểu được vị trí của từng sự kiện và
    sự tương quan của nó về thời gian cũng như về không gian với các sự kiện
    khác, đặc biệt ở trong một nước mênh mông lại chia cắt phân tán như Trung
    quốc cổ.
    3. Thư
    Lịch sử một nước chủ yếu là lịch sử của những thiết chế của nó. Tư Mã
    Thiên nhận thấy điều đó nên viết tám "thư" dành cho tám mặt. Điều này
    cũng biểu hiện rằng ông có một kiến thức bách khoa. Tám thư ấy là:
    1. , , , , Lễ thư
    2. , , , , Nhạc thư
    3. , , , , Luật thư
    4. , , , , Lịch thư
    5. , , , , Thiên quan thư
    6. , , , , Phong thiện thư
    7. , , , , Hà cừ thư
    8. , , , , Bình chuẩn thư
    Phần này rất quý về mặt nghiên cứu. Tác giả nêu rõ sự biến đổi, những
    cống hiến về lễ, nhạc, luật lệ, việc làm lịch, thiên văn, ... qua các thời đại.
    Điều làm chúng ta hết sức ngạc nhiên là ông có những hiểu biết chính xác về

    mọi mặt và ở đâu ông cũng có những nhận xét tổng quát rất thấu đáo. Thiên
    "Phong thiện thư", nói về những mê tín, cúng tế, của vua chúa với một giọng
    châm biếm chua chát. Thiên "Hà cừ thư" nói về các con sông đào ở Trung
    quốc. Thiên "Bình chuẩn thư" nói về kinh tế. Những thiên này viết chính xác
    đến nỗi người đời sau thường dựa vào đó để đính chính những sai sót trong
    các sách cổ, nói về những thiết chế xã hội. Chúng làm ta thấy tác giả có một
    cái nhìn duy vật vào lịch sử và thấy tầm quan trọng của những sự kiện kinh
    tế, khoa học, văn hoá đối với lịch sử một nước. Rất tiếc vì phạm vi quyển
    tuyển tập hạn chế, chỉ có thể giới thiệu được thiên "Bình chuẩn thư", và do
    đó, không thể nào nêu lên được một cái nhìn toàn diện của một bộ óc vĩ đại.
    4. Thế gia
    Phần thế gia bao gồm 30 thiên, chủ yếu nói đến lịch sử các chư hầu,
    chẳng hạn các nước Tề, Lỗ, Triệu, Sở, ... Những người có địa vị lớn trong
    quý tộc như các thái hậu, những người được phong một nước như Chu Công,
    Thiệu Công, và những người có công lớn như Trương Lương, Trần Bình, ...
    Đáng chú ý nhất là tác giả xếp vào thế gia hai người thường dân không hề có
    một tấc đất phong. Đó là Khổng Tử, một người có địa vị đặc biệt trong lịch
    sử tư tưởng của Trung quốc, và Trần Thiệp, anh chàng cố nông đã cầm đầu
    cuộc nông dân khởi nghĩa đầu tiên của lịch sử dân tộc Hán. Cách nhìn như
    vậy chứng tỏ một tầm con mắt khác thường.
    5. Liệt truyện
    Danh từ này do chính tác giả đặt ra. Phần này gồm 70 thiên bao gồm
    những nhân vật khác nhau và những sự việc rất khác nhau. Đáng để ý trước
    hết là phần liệt truyện dành cho những nước ở ngoài địa bàn Trung quốc mà
    ông là người đầu tiên đưa vào lịch sử với tính cách những bản khái quát
    đứng đắn và khoa học (Nam Việt, Đông Việt, Triều Tiên, Tây Di, Đại Uyển,
    Hung Nô). Cố nhiên, một phần liệt truyện sẽ dành cho những người tai mắt
    trong xã hội cũ như những danh tướng (Mông Điềm, Lý Quảng, Vệ Thanh),
    những người làm quan to (Trương Thích Chi, Công Tôn Hoằng, ...) Điều
    đáng chú ý nhất ở đây là ông đã nhìn thấy vai trò to lớn của những con người
    bình thường, thường không có chức tước gì nhưng có ảnh hưởng vô cùng sâu
    rộng đối với cả dân tộc. Đó là những du hiệp, những thích khách, trọng
    nghĩa, khinh tài mà ông đã ghi lại trong những trang sôi nổi (Thích khách
    Liệt truyện, Du hiệp Liệt truyện). Đó là những nhà tư tưởng mà tác phẩm của
    ông đã ghi lại cuộc đời, hành trang và đánh giá học thuyết (Lão Tử, Trang
    Tử, Tuân Khanh, ...) Đó là những nhà văn như Khuất Nguyên, Tư Mã Tương
    Nhu mà ông nêu lên giá trị và nhận xét về nghệ thuật. Đó là những thầy

    thuốc, thầy bói, thậm chí những anh hề mà trong con mắt của ông lời nói có
    thể xếp vào Lục Kinh. Và cố nhiên một con người yêu nhân dân và sự thật
    như Tư Mã Thiên không thể nào quên những tên sâu, mọt, đàn áp bóc lột
    dân chúng, những bọn "khốc lại" chỉ lo a dua nhà vua, tàn sát dân lành,
    những bọn ngoại thích lộng quyền và vô số những nhân vật ti tiện mà ông
    mạt sát bằng những lời phẩn nộ. Thế giới của Tư Mã Thiên bao la như vậy!
    Quy mô của tác phẩm làm ta ngợp, bút lực của tác giả làm ta sợ. Đối với
    những người yêu văn học Trung quốc, tác phẩm đưa đến một cảm giác rất lạ.
    Ở đây có cái biến ảo của Nam Hoa Kinh, có cái rạch ròi của Hàn Phí Tử.
    Nhưng còn một cái nữa mà văn học từ Hán trở về trước (trừ Kinh Thi) không
    thấy có, đó là ý thức bám chắc vào sự thực, không rời cuộc sống dù chỉ nửa
    bước. Chúng ta cảm thấy mình đứng cả hai chân trần trên mảnh đất của sự
    thực.
    Ấn tượng ấy đến với chúng ta không phải ngẫu nhiên. Đó là vì Sử ký
    chính là Tư Mã Thiên sống, và con người ấy sống với những tư tưởng lớn.

    III. TƯ TƯỞNG
    Tư Mã Thiên tự định nghĩa mình là một con người "bất cơ". "Bất cơ" tức
    là không chịu trói buộc mình theo tập tục, vượt ra ngoài lề thói. Chẳng hạn
    hai mươi tuổi, cha còn sống, vẫn cứ "viễn du" đi khắp địa bàn Trung quốc,
    đó là một hành động bất cơ. Nhà vua đặt chức sử quan chẳng qua chỉ để ghi
    chép việc làm của vua, ăn ở đâu, ngồi ở đâu, ngủ ở đâu, nói câu gì, ... từng
    một ngày. Và thế là tròn trách nhiệm. Nhung ông lại muốn "nối nghiệp
    Khổng Tử, soi sáng cho đời, chỉnh lý được Dịch Truyện, tiếp tục được Kinh
    xuân Thu nắm được cái gốc của Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc,
    tóm lại ông muốn làm một Khổng Tử thứ hai ngay trong thời đại chuyên chế
    cực độ. Đó cũng là một ý nghĩ "bất cơ".
    Tư Mã Thiên là con người của một giai đoạn lịch sử rất cụ thể. Lúc ông
    lên sáu thì Hán Vũ Đế lên ngôi, và ông chết cùng một năm với Vũ Đế. Thời
    Vũ Đế chính là lúc uy tín nhà Hán đạt đến cực điểm, biểu lộ tất cả cái vĩ đại,
    huy hoàng làm người ta ngợp mắt. Trong Bình Chuẩn Thư, tác giả đã nói
    đến cái cảnh tượng phồn thịnh ban đầu, kho đạn đầy rẫy, tiền tiêu không thể
    hết, dân ăn gà, thịt, có ngựa hàng đàn. Uy tín nhà Hán đã đạt đến trình độ
    xưa nay chưa hề có. Biên giới phía Nam đến Nam Việt, phía Bắc đến Triều
    Tiên, buôn bán giao thông với Trung Á, Ấn độ, La Mã. Thành phố tấp nập,
    cung điện nguy nga. Năm -138 trước Công Nguyên, Trương Khiên đi sứ về
    phía Tây, qua Hung Nô đến tận miền Trung Á thuộc Liên Xô ngày nay (gọi
    gộp là Tây Vực). Nước nhà thống nhất, chế độ tập quyền cực thịnh, tất nhiên
    đưa đến những sự thay đổi về văn hoá. Vũ Đế nghe lời Đổng Trọng Thư bãi
    truất bách gia, độc tôn nho học. Thời đại "trăm nhà đua tiếng" đến đây chấm
    dứt. Văn học chuyển thẳng sang việc ca ngợi lâu đài, ngựa xe, vườn tược nhà
    vua, mà tiêu biểu nhất là những bài phú của Tư Mã Tương Như. Bấy giờ
    trước mắt những con người học rộng tài cao có hai con đường. Con đường
    thứ nhất là vứt bỏ cái mộng làm một sự nghiệp to lớn, thừa nhận trong hoàn
    cảnh này chỉ còn một cách là làm một anh hề, sống qua ngày đoạn tháng ở
    trước cửa Kim mã. Đó là con đường của Đông Phương Sóc, của hầu hết tất
    cả các học giả đương thời. Lại có một con đường khác "xét trong khoảng trời
    đất, thấu suốt sự biến đổi từ xưa đến nay, làm thành lời nói của một nhà". Đó
    là con đường làm một Khổng Tử thứ hai, không phải ở trong hoàn cảnh
    Xuân Thu, Chiến quốc mà ở trong hoàn cảnh chuyên chế cực thịnh. Tư Mã
    Thiên đã chọn con đường ấy, và điều đó cắt nghĩa tại sao con người này sống
    bơ vơ, lạc lõng, tội nghiệp như vậy.
    Cái gì đã khiến ông làm một việc bất cơ như vậy? Đó là vì ông thấy
    mình gắn liền với số phận của dân chúng. Ông thấy cái vẻ thái bình, phồn
    thịnh trước mắt chỉ là tạm thời. Bọn vua chúa lợi dụng hoàn cảnh yên ổn

    càng ra sức bóc lột, đàn áp nhân dân, gây chiến tranh để mở rộng đất đai, xây
    cung thất, dựng lâu đài, tế phong thiên ... Cái cảnh phồn vinh tan đi như một
    giấc mơ. Nhân dân nhao nhác cùng cực, bọn khốc lại xuất hiện ra sức chém
    giết, hàng chục vạn người bị tù đày, trong ngoài điêu đứng tan hoang, làm
    cho nhà Hán tưởng chừng sẽ lao theo bánh xe nhà Tần đã mất. Ông không
    thể làm một anh hề như Đông Phương Sóc tìm cách sống an thân hay một
    thứ nhà văn như Tư Mã Tương Như lúc chết còn khuyên nhà vua làm lễ
    phong thiện. Chính cái thời Vũ Đế đã làm cho ông thấy tất cả cái vinh dự
    được làm con người Trung quốc. Nó đưa đến cho ông cái ý thức về sự vĩ đại,
    bao la và thống nhất của tổ quốc mà ông yêu quý. Nhưng càng yêu quý tổ
    quốc, ông càng gắn bó với nhân dân. Và do đó, bức tranh ông vẽ đương thời
    không phải là một bức tranh khoa trương tráng lệ như một bài phú của
    Trương Như, mà nó đầy vẻ bi hùng. Cái mâu thuẫn đau đớn này trong tư
    tưởng đã đẻ ra cách quan niệm về sử hết sức độc đáo, xứng đáng gọi là một
    cống hiến về tư tưởng. Có thể nói, Tư Mã Thiên là sử gia đầu tiên trên thế
    giới viết về lịch sử của một nước. Trước đấy, ở Trung quốc chỉ có những
    người viết lịch sử một công quốc hay kể lại một vài biến cố quan trọng như
    Xuân Thu Thượng Thư. Những bộ sử như Lịch Sử của Hêrôđôt (481-425).
    Lịch sử chiến tranh ở Pelpôônne của Thuxiđit (460-396) trong văn học Hy
    Lạp hay Chiến Tranh ở Gôlơ của Xêđa trong văn học La Mã, chẳng qua chỉ
    kể lại một trận đánh hay một chiến dịch.
    Quyển Lịch sử La Mã của Titut Livut (69-17) sau Sử ký viết toàn bộ lịch
    sử một đô thị, nhưng đó chỉ là lịch sử một đô thị. Sử ký thì khác, nó là lịch
    sử của toàn bộ dân tộc Trung hoa kéo dài trên ba ngàn năm từ Hoàng Đế đến
    Vũ Đế và bao gồm một địa bàn mênh mông. Chính vì có ý thức rất rõ về tính
    chất thống nhất và tiếp tục của lịch sử, nên tác giả mới có hai phần khác
    nhau là biểu và bản kỷ, lại có phần thế gia nói những điểm chủ yếu trong lịch
    sử từng công quốc. Không những thế, ông cũng là người đầu tiên nói về
    những dân tộc mà người ta gọi là "mọi rợ" và ở đây tuyệt nhiên không có
    thái độ khinh miệt.
    Ông cũng là người đầu tiên viết một quyển thông sử bao gồm mọi mặt
    của xã hội. Ông chú ý đến tất cả, đọc tất cả, biết tất cả kiến thức của thời đại.
    Những thiên Hà Cừ Thư, Bình Chuẩn Thư, viết với nhãn lực của một nhà
    kinh tế học. Ông tìm thấy sự liên quan giữa kinh tế với luật pháp và chính trị.
    Ông đặc biệt chú trọng đến những thiết chế về văn hoá như lễ, nhạc, văn học.
    Ông đã làm cái công việc phi thường là xét tất cả các học thuyết của bách
    gia, trình bày và phê phán, làm công việc của một nhà tư tưởng sử. Ông là
    người đầu tiên cho ta biết về Khuất Nguyên và sự đánh giá của ông về Khuất
    Nguyên là quyết định. Quả thật ông đã làm được cái hoài bão to lớn nhất của

    một con người. Ông đã tổng kết văn hoá Trung quốc lần thứ hai sau Khổng
    Tử và xứng đáng với lời khen của Quách Mạt Nhược "công lao của Tư Mã
    Thiên so với Khổng Tử không hơn không kém".
    Phương pháp viết sử của ông cũng rất đáng chú ý.
    Tư Mã Thiên nói: -Tôi chỉ thuật lại chuyện xưa, sắp đặt lại các chuyện
    trong đời chứ có phải sáng tác đâu.
    Câu nói này thể hiện đúng cái quan điểm của tác giả và sử. Ngày nay
    chúng ta không nắm được tất cả những tài liệu ông đã dùng, nhưng có một
    điều chắc chắn là ông không bao giờ thay đổi tài liệu. Những nhân vật thời
    Ân, Chu, chính là những nhân vật của Thượng Thư, những nhân vật thời
    Xuân Thu, Chiến Quốc là những nhân vật của Xuân Thu, Quốc Ngữ, Tả
    Truyện, Chiến quốc sách. Lời nói của họ là lời họ nói trong thực tế, theo
    những tài liệu tin cậy nhất. Những bài văn bia của nhà Tần là do chính tay
    tác giả chép lại. Và ông đã để lại cho chúng ta cả một kho tàng văn kiện vô
    giá, nào chế, biểu, nào văn bia, thư phú, bài hát, lời ca, cả những bài nghị
    luận rất dài, tất cả chiếm một phần ba tác phẩm, trong số đó phần lớn còn
    sống đến ngày nay vì nó gắn liền với số phận của Sử Ký. Đành rằng, đây đó,
    có những chi tiết sai lầm vì tài liệu lúc bấy giờ số lớn là tài liệu truyền
    miệng. Nhưng nói chung ông hết sức nghiêm túc. Quan niệm viết sử này
    khác xa quan niệm những nhà viết sử cổ Hy Lạp, La Mã. Các nhà viết sử cổ
    đại, trừ Thuxiđit, thường xem sử là một công trình nghệ thuật. Những nhân
    vật của họ đọc những bài diễn văn rất hay, nhưng do họ sáng tác ra, những
    nhân vật ấy tồn tại với tính cách những giả thuyết tiêu biểu cho chính kiến
    của họ. Chính vì vậy sử học hiện đại không xem đó là những công trình khoa
    học, không ai lấy đó làm cơ sở chính cho sự nghiên cứu La Mã, Hy Lạp cổ.
    Trái lại, Sử Ký từ trước đến nay vẫn là uy tín lớn nhất của cổ sử Trung hoa.
    Bất kỳ ai muốn nghiên cứu bất kỳ phương diện nào của Trung quốc cổ cũng
    không thể coi thường nó. Trịnh Tiểu nói, "một trăm đời sau, các sử quan
    không thể thay đổi cái phép tắc của ông, kẻ học giả không thể bỏ quyển sách
    của ông", chính là vì vậy.
    Tư Mã Thiên là người cha của sử học Trung hoa, nhưng là một người
    cha khó bắt chước nhất. Đối với sử học Trung quốc, ông là người duy nhất
    nói về đương thời. Các sử gia về sau chỉ viết về một triều đại khi triều đại ấy
    đã chấm dứt. Họ sợ hiện tại và lẩn tránh nó. Trái lại Tư Mã Thiên đã dành
    một nửa tác phẩm cho giai đoạn từ Hạng Vũ đến Vũ Đế, và việc càng gần,
    ông chép càng rõ. Ông để lại những trang vô cùng sinh động về Cấp Ám,
    con người dám nói thẳng sự thực, không kiêng nể gì Vũ Đế. Ông kết tội Lữ
    Hậu, nêu bản tính lưu manh của Cao Tổ, phơi bày một bức tranh đau thương
    về xã hội trước mắt. Ông đau xót trước cái cảnh vua chúa mê tín (Phong

    thiện thư), phung phí tài sản nhân dân (Bình Chuẩn Thư), ngoại thích lộng
    hành (Nguỵ Kỳ Vũ An Hầu liệt truyện), quan lại tàn ác (Khốc lại liệt
    truyện), nhà nho cầu an, giả dối (Công Tôn Hoằng truyện, Thích Tôn Thông
    truyện). Ông run sợ cho tương lai. Và chính ở đây, người ta mới hiểu hết cái
    tâm sự của ông, lòng yêu nước, yêu nhân dân cũng như sự trung thực của
    một nhà khoa học.
    Nhưng quan trọng hơn hết, ông hiểu tác phẩm của ông là viết cho ai.
    Ông nói quyển Sử Ký viết cho "những người của nó". Người của nó đây
    không phải là một vị ân chủ, một mỹ nhân, mà là nhân dân vĩ đại và bất tử.
    Ông có ý thức rõ về việc đó, cho nên hai ngàn năm sau đọc Sử Ký, ta thấy nó
    sinh động, mãnh liệt vô cùng, đồng thời tràn ngập cái hào khí của chính
    nghĩa. Nhìn vào quyển sách của ông, ta thấy hiện lên rõ rệt sự bất bình đẳng
    trong xã hội, cảnh nghèo khổ của những nông dân mất hết đất đai, sự giàu có
    ...
     
    Gửi ý kiến