Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Tài liệu bồi dưỡng LS và ĐL 7

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 08h:48' 01-03-2024
    Dung lượng: 7.7 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
    SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA
    môn

    LỊCH SỬ
    VÀ ĐỊA LÍ
    (Tài liệu lưu hành nội bộ)

    LỚP

    7

    s‡ng
    c
    
    u
    c
    i
    Ÿc v‘
    h
    t
    i
    r
    it
    ‡
    n
    t
    : Ku
    h
    c

    
    B

    NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

    QUY ƯỚC VIẾT TẮT DÙNG TRONG SÁCH
    CBQLGD: cán bộ quản lí giáo dục
    CNTT: công nghệ thông tin
    CTGDPT: Chương trình giáo dục phổ thông
    ĐGĐK: đánh giá định kì
    ĐGTX: đánh giá thường xuyên
    GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
    GV: giáo viên
    HS: học sinh
    NXBGDVN: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
    SGK: sách giáo khoa
    SGV: sách giáo viên

    2

    BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

    MỤC LỤC
    Trang
    Phần một. HƯỚNG DẪN CHUNG ............................................................ 5
    1. Giới thiệu sách giáo khoa............................................................................................................. 5
    2. Phân tích cấu trúc sách và cấu trúc bài học .......................................................................... 9
    3. Một số phương pháp dạy học Lịch sử – Địa lí nhằm phát triển
    năng lực học sinh .........................................................................................................................13
    4. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ........................................................................................22
    5. Hướng dẫn sử dụng nguồn tài nguyên sách và các học liệu điện tử
    của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ....................................................................................30

    Phần hai. GỢI Ý, HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC DẠY HỌC
    MỘT SỐ DẠNG BÀI ................................................................ 36
    1. Hướng dẫn dạy học dạng bài ...................................................................................................36
    2. Hướng dẫn dạy học theo chủ đề ............................................................................................37

    Phần ba. CÁC NỘI DUNG KHÁC ............................................................. 70
    1. Hướng dẫn sử dụng sách giáo viên........................................................................................70
    2. Giới thiệu và hướng dẫn sử dụng sách bổ trợ, sách tham khảo ..................................71

    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ LỚP 7

    3

    4

    BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

    PHẦN MỘT

    HƯỚNG DẪN CHUNG

    1 GIỚI THIỆU SÁCH GIÁO KHOA
    1.1. Quan điểm biên soạn sách giáo khoa môn Lịch sử và Địa lí 7
    – Việc biên soạn SGK môn Lịch sử và Địa lí 7 nhằm thực hiện cụ thể hoá những nội
    dung và yêu cầu cần đạt của CTGDPT môn Lịch sử và Địa lí cấp Trung học cơ sở
    (THCS) nói chung và Chương trình Lịch sử và Địa lí lớp 7 nói riêng, trong đó có yêu
    cầu quan trọng đối với việc hình thành, phát triển cho HS các phẩm chất chủ yếu, các
    năng lực chung và năng lực khoa học với biểu hiện đặc thù là năng lực lịch sử, địa lí
    tạo tiền đề để HS tiếp tục học lên cấp Trung học phổ thông (THPT), học nghề hoặc
    tham gia đời sống lao động, trở thành những công dân có ích.
    – SGK Lịch sử và Địa lí 7 được biên soạn tuân thủ các quan điểm chung về biên soạn
    SGK, đồng thời cũng đảm bảo những yêu cầu đặc thù riêng, đó là:
    + Bảo đảm tính kế thừa, phát huy các ưu điểm của SGK hiện hành ở nước ta, tiếp thu
    kinh nghiệm viết SGK của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.
    + SGK không chỉ là tài liệu cung cấp tri thức mà phải là một hệ thống các kế hoạch học
    tập giúp HS tích cực và chủ động tiếp thu kiến thức, góp phần hình thành và phát
    triển những năng lực cốt lõi, tạo điều kiện để HS tự học và giúp GV tổ chức tốt các
    hoạt động học tập của HS, góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử – địa lí.
    + Bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực của HS thông qua các nội dung lịch sử –
    địa lí theo yêu cầu cần đạt của Chương trình, chú trọng luyện tập và thực hành, vận
    dụng các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống.
    – Quan điểm về lựa chọn kiến thức và tinh giản nội dung:
    + Ở lớp 7, HS tiếp xúc với bộ môn Lịch sử và Địa lí với tư cách là các môn khoa học.
    Vì vậy, việc lựa chọn kiến thức phải vừa đảm bảo tính khoa học, vừa phù hợp với
    trình độ, năng lực nhận thức và hấp dẫn HS, trong đó ưu tiên lựa chọn những
    kiến thức:
    • Phù hợp với nội dung và yêu cầu cần đạt của Chương trình.
    • Cơ bản nhất, có tính điển hình cao.
    • Phù hợp với khả năng tiếp thu và sự quan tâm, hấp dẫn HS.
    • Có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển năng lực của HS.
    + Nội dung các kiến thức đã được lựa chọn được trình bày một cách tinh giản theo
    các quan điểm sau:
    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ LỚP 7

    5

    • Tập trung vào nội dung cơ bản.
    • Cô đọng, lược bỏ những chi tiết phức tạp, những chi tiết không thực sự cần
    thiết cho việc hình thành kiến thức cơ bản; đơn giản hoá nội dung phù hợp với trình
    độ tiếp thu của HS lớp 7.
    • Trực quan hoá thông qua hình ảnh, sơ đồ, lược đồ, trục thời gian, mô hình,…
    • Không mở rộng phạm vi nội dung kiến thức ra ngoài những quy định của
    Chương trình.
    1.2. Những điểm mới cơ bản của sách giáo khoa môn Lịch sử và Địa lí lớp 7
    a) Phần Lịch sử và Chủ đề chung
    – Căn cứ vào yêu cầu cần đạt của Chương trình, nội dung thông tin được cung cấp
    rất ngắn gọn, cơ bản, phần còn lại là cung cấp tư liệu (bằng chữ viết, lược đồ, sơ đồ,
    tranh ảnh, mô hình, biểu đồ, bảng số liệu,…). Sau đó thường có các câu hỏi/bài tập
    mà dựa vào đó GV có thể tổ chức các hoạt động tự nhận thức cho HS. Các em sẽ
    được bộc lộ quan điểm, hiểu biết của mình về lịch sử, biết phân biệt đúng, sai, biết
    nhận xét, đánh giá,... chủ động hơn trong việc tự rút ra kiến thức, tự thực hành và
    vận dụng kiến thức hoặc liên hệ với cuộc sống, chứ không chỉ học thuộc hoặc bị
    động lĩnh hội những kiến thức có tính bắt buộc từ SGK hay GV cung cấp như trước
    đây. Từ đó, góp phần hình thành và phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử độc lập và
    năng lực nhận thức khoa học ở HS.

    6

    BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

    Tư liệu lịch sử

    – Khi biên soạn về một sự kiện, tiến trình lịch sử, các tác giả không chú trọng trình
    bày về diễn biến với những mốc thời gian chi tiết, mà nếu có thì được thiết kế rất
    ngắn gọn, dễ hiểu, sinh động dưới dạng đồ hoạ. Các mốc thời gian thể hiện tiến
    trình lịch sử chủ yếu được thể hiện trên trục thời gian, gắn với hình ảnh tiêu biểu,
    dễ ghi nhớ (nếu có).

    – Hoạt động luyện tập, vận dụng – kết nối kiến thức với cuộc sống rất được chú trọng,
    được thể hiện cả trong nội dung bài học và đặc biệt là trong các câu hỏi, bài tập
    luyện tập và vận dụng cuối mỗi bài.
    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ LỚP 7

    7

    – Như trên đã nói, khi trình bày nội dung, các tác giả SGK không cung cấp các kiến
    thức một cách chi tiết mà chỉ đề cập những nội dung rất cơ bản, súc tích, ngắn gọn.
    Sau mỗi đơn vị kiến thức thường có các trích đoạn tư liệu hoặc tranh ảnh, lược đồ,
    sơ đồ,… kèm theo. Dựa vào đó, GV có thể hướng dẫn HS hoạt động nhận thức để
    tìm hiểu, khai thác rút ra các kiến thức cơ bản, trọng tâm, đồng thời rèn luyện các
    kĩ năng môn học có trong bài. Cuối mỗi bài là các câu hỏi, bài tập cũng được biên
    soạn theo các mức độ khác nhau: ôn tập, củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, vận
    dụng/kết nối. Các câu hỏi, bài tập luyện tập kiến thức, kĩ năng nhằm giúp HS biết
    trình bày, giải thích các hiện tượng, vấn đề lịch sử hay địa lí, biết suy luận, đánh
    giá, tranh luận đúng sai,… về một vấn đề nào đó trong bài. Các yêu cầu vận dụng
    nhằm giúp HS biết liên hệ giữa các nội dung, vấn đề lịch sử vừa được học để bước
    đầu lí giải những vấn đề của thực tiễn cuộc sống hiện nay.
    b) Phần Địa lí
    – Những điểm mới của Chương trình phân môn Địa lí so với Chương trình môn Địa
    lí trước kia.
    CT Địa lí lớp 7 hiện hành

    CT Địa lí lớp 7 (2018)

    70 tiết

    49 tiết

    Thời lượng

    1. Thành phần nhân văn của môi
    trường.

    Địa lí các châu lục:

    2. Các môi trường địa lí và hoạt động
    kinh tế của con người.

    – Đặc điểm tự nhiên

    3. Thiên nhiên và con người ở các
    châu lục:

    Nội dung

    – Vị trí địa lí, giới hạn

    – Vị trí địa lí, phạm vi
    – Đặc điểm dân cư, xã hội
    – Phương thức con người khai thác,
    sử dụng và bảo vệ thiên nhiên.

    – Đặc điểm tự nhiên
    – Đặc điểm dân cư, xã hội
    – Đặc điểm kinh tế
    – Các khu vực
    (Chương châu Á học ở lớp 8)

    – SGK phần Địa lí lớp 7 mới không đề cập đến nội dung về kinh tế, chỉ có nội dung
    về tự nhiên và dân cư, xã hội của các châu lục.
    – SGK phần Địa lí lớp 7 mới bao gồm một số nội dung mà trước đây chưa được đề
    cập đến trong SGK hiện hành, điều này thể hiện tính cập nhật, hiện đại của Chương trình

    8

    BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

    cũng như SGK mới. Đơn cử một số nội dung như: Phương thức con người khai thác, sử
    dụng và bảo vệ thiên nhiên ở các châu lục, vấn đề di cư ở châu Âu, các nền kinh tế lớn và
    kinh tế mới nổi ở châu Á, vấn đề di sản lịch sử ở châu Phi, các hệ quả địa lí – lịch sử của
    việc phát kiến ra châu Mỹ, về sự thay đổi của thiên nhiên châu Nam Cực khi có biến đổi
    khí hậu toàn cầu,…

    2 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC SÁCH VÀ CẤU TRÚC BÀI HỌC
    2.1. Cấu trúc sách
    – Theo CTGDPT năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình môn Lịch sử và
    Địa lí lớp 7 gồm ba phần: phần Lịch sử, phần Địa lí và phần Chủ đề chung. Trong đó:
    Phần Lịch sử bao gồm mạch nội dung kiến thức được sắp xếp theo trình tự: lịch sử thế
    giới (Tây Âu từ thế kỉ V đến nửa đầu thế kỉ XVI), Trung Quốc và Ấn Độ thời trung đại,
    khu vực Đông Nam Á (Đông Nam Á từ nửa sau thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVI) đến
    lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI. Tuân thủ quan điểm biên soạn
    là học lịch sử thế giới và khu vực để hiểu rõ hơn lịch sử dân tộc nên nội dung lịch sử
    Việt Nam được dành thời lượng nhiều hơn.
    Phần Địa lí bao gồm những kiến thức về tự nhiên, dân cư – xã hội, phương thức
    con người khai thác, sử dụng và bảo vệ tự nhiên. Nội dung lí thuyết và thực hành được
    thiết kế lồng ghép, có thể là những bài thực hành riêng, cũng có thể là những nội dung
    thực hành trong các bài học.
    Phần Chủ đề chung là một điểm mới nổi bật trong CTGDPT mới môn Lịch sử
    và Địa lí, được bắt đầu từ lớp 7 với hai chủ đề: Các cuộc đại phát kiến địa lí; Đô thị: Lịch
    sử và hiện tại. Việc xây dựng chủ đề chung, tích hợp lịch sử – địa lí dựa trên những nội
    dung gần nhau, giao nhau, tạo ra không gian môn học, ở đó HS có thể vận dụng các
    khái niệm cơ bản của lịch sử và địa lí, tìm hiểu thêm các tư liệu lịch sử và địa lí dưới sự
    hướng dẫn của GV, rèn luyện tư duy lịch sử và tư duy địa lí.
    – Theo đó, SGK Lịch sử và Địa lí 7 cũng được cấu trúc bám sát theo quy định trong
    Chương trình môn học. Ngoài các phần chung như: Lời nói đầu, Mục lục, Hướng
    dẫn sử dụng sách, Bảng tra cứu thuật ngữ, Bảng phiên âm (tên riêng, địa danh nước
    ngoài), sách gồm ba phần: phần Lịch sử, phần Địa lí và phần Chủ đề chung. Trong
    đó, phần Lịch sử gồm 7 chương, phần Địa lí gồm 5 chương và 2 Chủ đề chung.
    Trong mỗi chương gồm các bài (gồm 18 bài Lịch sử, 19 bài Địa lí và 2 Chủ đề
    chung). Mỗi bài học có từ 3 đến 5 mục nhỏ (1, 2,…) tuỳ thuộc vào thời lượng một
    hoặc nhiều tiết học (bám sát theo yêu cầu cần đạt của Chương trình).
    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ LỚP 7

    9

    Tuy nhiên, trong SGK không quy định số tiết cụ thể cho mỗi bài đó. Điều này sẽ tạo
    điều kiện cho sự sáng tạo và chủ động của cơ sở giáo dục và GV. Tuỳ theo điều kiện cụ
    thể ở từng địa phương và khả năng của GV mà có thể tăng hoặc giảm thời lượng cho
    từng nội dung cụ thể, hoặc có thể thay đổi thứ tự dạy nội dung nào trước, nội dung nào
    sau trong một số chương nhất định,… miễn là cuối cùng giúp HS đạt được yêu cầu cần
    đạt của chương và trong mỗi nội dung cụ thể.
    – Trang mở đầu mỗi chương được xem là điểm mới nổi bật trong cấu trúc cuốn sách,
    bao gồm nội dung giới thiệu khái quát chương và các nội dung cốt lõi mà HS sẽ
    được tìm hiểu. Cùng với đó là những hình ảnh tiêu biểu có tính gợi mở, thu hút sự
    chú ý, kích thích nhận thức HS.

    10

    BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

    2.2. Cấu trúc bài học
    – Cấu trúc mỗi bài học mới được thiết kế thống nhất, với hệ thống các kiến thức, kĩ
    năng bám sát yêu cầu cần đạt của Chương trình môn học, là định hướng về kiến
    thức và kĩ năng, năng lực để GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS thông qua
    hệ thống các phương pháp và hình thức dạy học phù hợp.
    – Kết cấu mỗi bài học gồm:
    + Mục tiêu: nhằm định hướng đầu ra về kiến thức, kĩ năng mà các em cần đạt được
    sau khi học xong bài đó.

    + Hoạt động mở đầu: Đây là hoạt động trước khi bắt đầu tìm hiểu kiến thức mới, có
    thể là những câu hỏi gợi lại kiến thức đã học có liên quan tới kiến thức mới hoặc là
    những tình huống, hay gợi ý,… nhằm kích thích sự chú ý và tạo sự hứng thú nhận
    thức cho HS.
    Tuy nhiên, nội dung cụ thể của hoạt động mở đầu trong SGK chỉ là gợi ý, GV có
    thể sáng tạo nhiều hình thức khác, giúp hoạt động này đa dạng và phong phú hơn.

    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ LỚP 7

    11

    + Hoạt động tìm hiểu, hình thành kiến thức mới:
    Phần này bao gồm nhiều mục nhỏ, được phân chia thành hai phần: nội dung chính
    và nội dung bổ trợ, mở rộng.
    • Nội dung chính: là những nội dung cơ bản, trọng tâm của bài học, bao gồm kênh
    chữ (thông tin bài học, tư liệu), kênh hình (tranh ảnh, lược đồ, sơ đồ,...) và hệ thống
    câu hỏi hoặc bài tập, là chất liệu để tổ chức các hoạt động học tập cho HS.

    Riêng đối với phần Lịch sử và phần Chủ đề chung, bên cạnh những đoạn nội dung
    có tính giới thiệu, dẫn dắt, khái quát là những tư liệu (tư liệu gốc hoặc tư liệu phái
    sinh, hoặc được cung cấp bởi chính tác giả viết SGK), kèm theo là các yêu cầu, câu
    hỏi khai thác tư liệu. Đây là một điểm mới nổi bật của SGK Lịch sử và Địa lí 7, là cơ
    sở để tổ chức các hoạt động tự nhận thức nội dung cốt lõi của bài học cho HS, giúp
    hình thành năng lực cốt lõi của môn học (năng lực tìm hiểu lịch sử).

    12

    BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

    • Nội dung bổ trợ, mở rộng bao gồm: Em có biết, Kết nối với địa lí/văn học/nghệ
    thuật/với ngày nay,… Đây là những nội dung kiến thức mở rộng, nâng cao, hoặc
    có tính tích hợp, liên môn với kiến thức các môn học khác nhằm làm rõ hơn nội
    dung chính,...

    + Hoạt động luyện tập và vận dụng:
    Cuối các mục và cuối mỗi bài là hệ thống các câu hỏi nhằm hình thành kiến thức
    và kĩ năng mới, cũng như luyện tập – vận dụng những kiến thức và kĩ năng vừa được
    hình thành, theo các mức độ nhận thức từ dễ đến khó: biết, hiểu, vận dụng và vận
    dụng cao. Các dạng câu hỏi, bài tập này được đặt ở cuối mục, hoặc cuối mỗi bài tương
    ứng. Đây là chất liệu để GV tổ chức hoạt động để củng cố, phát triển kiến thức, kĩ
    năng đã được hình thành cho HS.

    3 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ – ĐỊA LÍ NHẰM

    PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

    Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Lịch sử – Địa lí cần được thể hiện ở
    mức độ phù hợp với các hoạt động học tập được gợi ý ở SGK. Những gợi ý sau đây chỉ
    mang tính chất tham khảo, GV hoàn toàn chủ động trong việc chọn những phương
    pháp và hình thức dạy học phù hợp với cách dạy học của mình, phù hợp với điều kiện
    của lớp học, trường học, đối tượng HS, cũng như môi trường xung quanh,... đảm bảo
    để các em được tham gia học tập một cách tích cực và có thể đạt được các mục tiêu
    phát triển phẩm chất và năng lực môn học một cách hiệu quả nhất.
    3.1. Phần Lịch sử
    Với yêu cầu đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo định hướng phát triển
    phẩm chất và năng lực cho HS, làm cho HS yêu thích hơn đối với môn học này thì
    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ LỚP 7

    13

    khi dạy học, GV cần tuân theo định hướng chung về phương pháp tổ chức dạy học
    phân môn Lịch sử. Đó là:
    – Đề cao vai trò chủ thể học tập của HS, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo;
    khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung rèn luyện kĩ
    năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp học tập, năng lực
    tự học để HS có thể tiếp tục tìm hiểu, mở rộng vốn văn hoá cần thiết cho bản thân.
    – Vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo, phù
    hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng HS và điều kiện cụ thể. Phối hợp
    sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống (thuyết trình, đàm thoại,...) theo
    hướng phát huy tính tích cực, chủ động của HS với việc tăng cường sử dụng các
    phương pháp dạy học tiên tiến đề cao vai trò chủ thể học tập của HS (thảo luận,
    tranh luận, đóng vai, lập sơ đồ tư duy,...). Đa dạng hoá và sử dụng linh hoạt các hình
    thức tổ chức dạy học: Kết hợp các hình thức học cá nhân, học nhóm, học ở lớp, học
    ở bảo tàng, trải nghiệm ở di tích lịch sử,... Chú trọng các phương pháp dạy học có
    tính đặc trưng của môn học Lịch sử đó là quan sát, tưởng tượng, so sánh, đối chiếu,
    liên hệ với ngày nay,...
    – Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, sử dụng hợp lí và có hiệu
    quả các thiết bị dạy học như: mô hình hiện vật, tranh ảnh lịch sử, lược đồ, sơ đồ, các
    bảng thống kê, so sánh, băng ghi âm lời nói của các nhân vật lịch sử, phim, video
    clip về lịch sử,...; các phiếu học tập có các nguồn sử liệu; phần mềm dạy học,... nhằm
    minh hoạ bài giảng của GV và hỗ trợ các hoạt động học tập của HS.
    Sau đây là gợi ý về một số phương pháp dạy học nhằm hình thành, phát triển năng
    lực lịch sử:
    – Phương pháp dạy học nêu vấn đề: Dạy học nêu vấn đề không phải là phương pháp
    riêng biệt mà là một sự tổng hợp của nhiều phương pháp. Dạy học nêu vấn đề giúp
    phát huy tư duy độc lập của HS, trong đó GV phải tạo tình huống có vấn đề, nêu
    vấn đề ra và tổ chức, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, tìm tòi của HS để giải quyết.
    Đặc điểm của phương pháp này là:
    + Nghiên cứu tài liệu, HS phải tự giải quyết một phần, một số vấn đề cần sự hướng
    dẫn của GV.
    + Thực hành dưới hình thức lời giảng nêu vấn đề, bài tập nhận thức.
    + Mục đích là phát triển năng lực tư duy của HS.
    Cấu trúc gồm ba phần:
    + Đặt mục đích học tập trước khi HS nghiên cứu bài mới.
    + Tổ chức cho HS giải quyết vấn đề được thực hiện từ đề xuất, lập kế hoạch, đến thực
    hiện giải quyết vấn đề.
    + Kết luận, tiến hành thảo luận kết quả, đánh giá, khẳng định hay bác bỏ giả thuyết,
    phát biểu kết luận, đề xuất vấn đề mới.

    14

    BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

    Khi giới thiệu bài, GV cần tạo tình huống có vấn đề. Đó là tình huống, là điều kiện
    sư phạm để HS thấy sự cần thiết phải suy nghĩ để tìm ra cái mới, cái chưa biết.
    – Vận dụng phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
    Trong dạy học lịch sử, đồ dùng trực quan được chia thành ba nhóm chính:
    + Nhóm đồ dùng trực quan hiện vật (di tích lịch sử, di vật khảo cổ, hiện vật còn lưu
    lại qua các thời kì lịch sử).
    + Nhóm đồ dùng trực quan tạo hình (mô hình, sa bàn, các loại phục chế khác; hình
    vẽ, tranh ảnh, phim tư liệu lấy chủ đề lịch sử).
    + Nhóm đồ dùng trực quan quy ước (bản đồ, lược đồ lịch sử, đồ thị, sơ đồ, bảng
    biểu,…).
    Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan là phương pháp cho HS được quan sát trực
    tiếp sự vật, hình ảnh thực của sự vật, hình ảnh trừu tượng hoá của sự vật nhằm giáo
    dục tư tưởng, tình cảm và cảm xúc, thẩm mĩ, tạo hứng thú cho HS, là cầu nối giữa
    quá khứ – hiện tại.
    Phương pháp này có tác dụng góp phần tạo biểu tượng lịch sử, có thể là nguồn cung
    cấp tri thức mới, hỗ trợ tốt cho tường thuật, khắc sâu vào trí nhớ của HS, từ đó bồi
    dưỡng tư tưởng, tình cảm, quan điểm thẩm mĩ.
    Khi sử dụng phương pháp này, cần đảm bảo các yêu cầu sau:
    + Căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dục của bài học để chọn đồ dùng trực quan
    thích hợp.
    + Có phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng đồ dùng trực quan.
    + Phát huy tính tích cực của HS khi dùng đồ dùng trực quan.
    + Kết hợp lời nói và trình bày các đồ dùng trực quan, đồng thời rèn luyện kĩ năng
    thực hành của HS.
    + Tuỳ theo yêu cầu của bài học, loại hình đồ dùng trực quan mà có cách sử dụng
    khác nhau.
    – Phương pháp thảo luận, tranh luận
    Phương pháp thảo luận, tranh luận được xem là một trong những phương pháp
    ưu thế trong phát triển năng lực HS, nhất là phát triển tư duy phản biện. Với mục tiêu
    phát triển tư duy phản biện cho HS, đổi mới cách học lịch sử, khiến HS thích thú và
    gần gũi hơn với môn học này thì GV cần sử dụng một cách hiệu quả phương pháp
    thảo luận, tranh luận.
    Phương pháp này có tác dụng giúp HS trao đổi kiến thức lịch sử một cách chủ động,
    hiệu quả và chính xác; trang bị cho HS những kĩ năng cơ bản của tư duy để đưa ra
    những phán đoán thuyết phục; giúp hình thành những công dân có trách nhiệm xã
    hội trên nền tảng nhận thức khoa học.
    Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là:
    + GV đưa ra, gợi mở cho HS suy nghĩ, đánh giá về một vấn đề nhất định theo những
    hướng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, sau đó dựa trên những tìm hiểu của
    các em, GV tổ chức cho các em trao đổi, bàn bạc về vấn đề đó.
    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ LỚP 7

    15

    + HS sẽ đưa ra và bảo vệ quan điểm của mình, đồng thời thuyết phục đối phương
    theo ý kiến đó bằng những lập luận, lí lẽ, bằng chứng xác thực nhằm làm rõ những
    khía cạnh khác nhau của vấn đề và làm giàu sự hiểu biết của cá nhân theo yêu cầu
    của mục tiêu và nhiệm vụ dạy học.
    Khi sử dụng phương pháp này, GV cần lưu ý:
    + Tổ chức thảo luận để phát triển kĩ năng phân tích, đánh giá cho HS trên cơ sở hệ
    thống câu hỏi của tư duy phản biện kết hợp với thảo luận nhóm (chọn vấn đề thảo
    luận, chia nhóm để thảo luận, tiến hành thảo luận và đánh giá, tổng kết).
    + Tổ chức tranh luận để phát triển tư duy phản biện với nhiều hình thức khác nhau,
    tuy nhiên ở trường phổ thông, GV nên chọn tranh luận theo nhóm là chủ yếu (lựa
    chọn chủ đề tranh luận, chuẩn bị tư liệu và kế hoạch tranh luận, tổ chức tranh luận)
    kiểm tra và đánh giá kết quả bài học theo hoạt động tranh luận.
    – Vận dụng phương pháp đóng vai
    Phương pháp đóng vai là một trong những phương pháp dạy học tích cực nhằm
    phát huy cao độ tính tự giác, độc lập và sáng tạo của người học.
    + Hình thức đóng vai gồm: đóng vai nhân vật lịch sử và đóng vai tình huống.
    • Đóng vai nhân vật lịch sử tức là HS thể hiện tính cách, con người, hành động của
    nhân vật lịch sử cụ thể. Ví dụ, khi dạy bài “Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược
    Mông – Nguyên”, GV tổ chức cho cả lớp chia nhóm đóng vai nhân vật Trần Quốc Tuấn
    và chuẩn bị cho trận đánh lớn trên sông Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến lần thứ ba.
    • Đóng vai tình huống là hình thức HS đóng vai trong những tình huống nhất định.
    Dựa trên những thông tin, dữ liệu cho sẵn, các em hoá thân vào một nhân vật trong
    quá khứ để tìm hiểu, giới thiệu về lịch sử đã xảy ra. Ví dụ: “Em hãy tưởng tượng
    mình là một binh sĩ trong đội quân của Lý Thường Kiệt kểOҥLWUұQ đánh trên sông
    Như NguyӋt”.
    – Vận dụng phương pháp dạy học dự án để tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo
    Dạy học dự án là một hình thức dạy học, HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức
    hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, thực tiễn. HS thực hiện nhiệm vụ với
    tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ xác định mục đích, lập kế hoạch
    đến việc thực hiện dự án, thu thập thông tin, phân tích dữ liệu, kiểm tra, điều chỉnh
    để đưa ra một sản phẩm sau buổi trải nghiệm sáng tạo.
    Quy trình:
    Bước 1: Lựa chọn chủ đề và xác định mục đích của dự án khi tiến hành trải nghiệm.
    Bước 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện về thời gian, yêu cầu sản phẩm, phân công
    nhiệm vụ,…
    Bước 3: Thực hiện dự án, HS triển khai làm việc độc lập.

    16

    BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

    Bước 4: Công bố sản phẩm và đánh giá dự án.
    Ví dụ: Dự án: “Thành tựu tiêu biểu của phong trào Văn hoá Phục hưng”, “Văn minh
    Đại Việt thời Lý – Trần”,...
    – Phương pháp sử dụng di sản trong dạy học lịch sử
    + Các di sản thường sử dụng trong dạy học môn Lịch sử như là: Di sản văn hoá vật thể
    (di tích lịch sử – văn hoá, hiện vật, cổ vật, bảo vật quốc gia); Di sản văn hoá phi vật
    thể (tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam, ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình
    diễn dân gian, lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian).
    + GV cần tạo điều kiện cho HS tích cực tham gia các hoạt động học tập trực tiếp trải
    nghiệm với di sản.
    Lưu ý, sử dụng di sản trong dạy học lịch sử cần có sự kết hợp linh hoạt với các
    phương pháp dạy học tích cực khác như đồ dùng trực quan (hình ảnh, sơ đồ,… của di
    sản), dạy học nêu vấn đề, dạy học theo dự án,…
    + Về hình thức tổ chức, dạy học sử dụng di sản có các hình thức:
    • Khai thác, sử dụng tài liệu về di sản để tiến hành bài học ở trường phổ thông.
    • Tiến hành bài học tại nơi có di sản.
    • Tổ chức tham quan, học tập tại nơi có di sản.
    • Tổ chức các hoạt động ngoại khoá – trải nghiệm di sản.
    – Phương pháp sử dụng tư liệu theo hướng phát triển năng lực HS
    + Sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học lịch sử có ý nghĩa quan trọng, góp phần khắc
    phục được hiện tượng “hiện đại hoá lịch sử”, tránh việc xuyên tạc, bóp méo sự thật
    lịch sử. Sử dụng tư liệu lịch sử để hiểu nội dung bài học là một trong những mục
    tiêu quan trọng trong quá trình biên soạn nội dung phân môn Lịch sử trong SGK
    Lịch sử và Địa lí 7 của bộ SGK “Kết nối tri thức với cuộc sống”. Việc sử dụng tư liệu
    trong quá trình học tập lịch sử không chỉ giúp HS hiểu sâu hơn nội dung bài học,
    tránh “hiện đại hoá lịch sử” mà còn trực tiếp góp phần hình thành và phát triển
    năng lực tìm hiểu lịch sử, cũng như tạo cho HS thói quen “nói có sách, mách có
    chứng” khi tìm hiểu, nhận thức và vận dụng lịch sử.
    + Tư liệu có thể sử dụng trong tất cả các khâu trong dạy học lịch sử từ nghiên cứu
    kiến thức mới, ôn tập, củng cố, giao bài tập về nhà đến kiểm tra đánh giá. Việc phân
    tích một tư liệu lịch sử để hình thành kiến thức mới có thể khai thác ở nhiều khía
    cạnh: về nội dung của tư liệu (ra đời từ khi nào, của ai, nội dung phản ánh những
    gì, phản ánh đúng hay chưa?…) và cả về hình thức (tư liệu thuộc loại nào – vật chất
    hay chữ viết, giá trị thẩm mĩ (vật đó đẹp hay không đẹp?…), kĩ thuật (đã có giấy viết
    chưa, trình độ khắc chữ trên đá hay trên các vật liệu khác?…). Từ đó GV có thể dẫn
    dắt HS trở về với bài giảng, hiểu sâu và cụ thể hơn nội dung của bài giảng,...
    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ LỚP 7

    17

    Việc phân chia thành các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trên chỉ mang
    tính tương đối, trong thực tế, khi tổ chức một hoạt động dạy học, GV thường sử dụng
    đan xen, tích hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Ví dụ,
    với hoạt động hình thành kiến thức mới, khi tổ chức dạy học GV không chỉ yêu cầu
    HS quan sát mà vừa quan sát, vừa thảo luận hay trả lời câu hỏi. Hơn nữa hoạt động
    đó có thể tiến hành theo nhóm, cá nhân hay cả lớp, có thể tiến hành trong lớp hay ở
    di tích, bảo tàng,...
    3.2. Phần Địa lí
    3.2.1. Định hướng về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
    Luật Giáo dục, điều 28.2 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
    tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng
    lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
    thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho
    học sinh”.
    a) Về phương pháp dạy học
    Tích cực hoá hoạt động học tập của HS, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của
    HS trong học tập. Do đó, GV phải là người tổ chức, chỉ đạo, điều khiển các hoạt động
    học tập tự giác, chủ động và sáng tạo của HS. GV cần tạo điều kiện để HS trở thành
    chủ thể nhận thức, HS cần phải thực sự hoạt động để đạt được không chỉ kiến thức, kĩ
    năng của môn học, mà quan trọng hơn là tiếp thu được cách học, rèn luyện thói quen
    và khả năng tự học.
    Các hoạt động học tập bao gồm: hoạt động mở đầu, hoạt động khám phá kiến thức mới,
    hoạt động luyện tập và hoạt động vận dụng được thực hiện với sự hỗ trợ của các thiết bị
    dạy học.
    b) Về hình thức tổ chức dạy học
    Các hoạt động dạy học nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường
    thông qua một số hình thức chủ yếu sau: học lí thuyết, thực hành trên lớp; tham quan,
    khảo sát thực địa, thực hiện các dự án học tập ngoài nhà trường,...
    Tùy theo mục tiêu, nội dung học tập, HS được tổ chức làm việc độc lập (cá nhân),
    làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp nhưng phải bảo đảm mỗi HS được tạo
    điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế.
    3.2.2. Một số giải pháp
    a) Đổi mới trong việc lập kế hoạch bài học
    Để có thể phát huy được tính tích cực, chủ động của HS trong hoạt động học tập,
    việc lập kế hoạch bài học hiện nay không đơn thuần chỉ là việc tóm tắt những nội dung
    chính của SGK, mà giáo án phải là một bản thiết kế các hoạt động của GV và HS trên lớp.

    18

    BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

    b) Đổi mới trong tổ chức dạy học trên lớp
    Dạy học trên lớp được tiến hành thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS:
    – Tổ chức và hướng dẫn HS hoạt động với các thiết bị dạy học (TBDH) Địa lí
    Do đặc trưng về nội dung, phương pháp nghiên cứu và PPDH Địa lí, nên việc tổ
    chức và hướng dẫn hoạt động học tập của HS trước hết là hướng dẫn HS khai thác
    kiến thức từ các TBDH như bản đồ, tranh ảnh địa lí, phim video,... Các TBDH này
    cũng chính là những nguồn kiến thức địa lí.
    Từ đó, HS vừa có kiến thức, vừa được rèn luyện các kĩ năng và phương pháp học tập
    địa lí; đồng thời cũng hình thành và phát triển năng lực tìm hiểu địa lí (sử dụng các
    công cụ của địa lí học).
    – Tổ chức, hướng dẫn HS thu thập, xử lí thông tin trong SGK
    SGK Địa lí 7 được biên soạn theo tinh thần cung cấp các tình huống, các thông tin
    đã được lựa chọn kĩ để GV có thể tổ chức, hướng dẫn HS thu thập và xử lí thông tin.
    + Thu thập thông tin: Hoạt động thu thập thông tin của HS được tiến hành qua việc quan
    sát lược đồ, bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, hình vẽ,... (kênh hình) và qua bài viết (kênh chữ)
    trong SGK.
    + Xử lí thông tin: Thông qua các câu hỏi, bài tập trong mỗi bài, GV hướng dẫn HS căn
    cứ vào các thông tin đã thu thập được để rút ra những kết luận cần thiết về các biểu
    tượng, khái niệm, các mối quan hệ địa lí.
    Thông qua hoạt động thu thập và xử lí thông tin, HS sẽ có được phương pháp học tập,
    biết cách thu thập và xử lí thông tin từ các nguồn tài liệu địa lí khác. Từ đó hình thành năng
    lực tự học.
    – Tổ chức hoạt động của HS theo những hình thức học tập khác nhau
    Để có thể tích cực hoá hoạt động học tập của HS thì ngoài hình thức tổ chức học
    tập theo lớp như hiện nay, nên tổ chức cho HS học tập cá nhân và học tập theo nhóm.
    + Hình thức học tập cá nhân: Hình thức học tập cá nhân tạo điều kiện cho mỗi HS
    trong lớp được suy nghĩ, được tự làm...
     
    Gửi ý kiến