Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Tài liệu bồi dưỡng LS và ĐL 7

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 15h:41' 01-03-2024
    Dung lượng: 21.3 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
    MÔN

    (Tài liệu lưu hành nội bộ)

    lớp

    NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

    HÀ BÍCH LIÊN – HOÀNG THỊ KIỀU OANH
    PHAN VĂN PHÚ – MAI THỊ PHÚ PHƯƠNG

    TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
    môn

    (Tài liệu lưu hành nội bộ)

    lớp

    NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

    MỤC LỤC
    PHẦN MỘT: HƯỚNG DẪN CHUNG

    3

    1. QUAN ĐIỂM BIÊN SOẠN VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SGK LỊCH SỬ VÀ ĐỊA
    LÍ 7

    3

    1.1. Quan điểm biên soạn sách

    3

    1.2. Những điểm mới

    3

    2. CẤU TRÚC SÁCH VÀ CẤU TRÚC BÀI HỌC

    4

    2.1. Cấu trúc sách

    4

    2.2. Cấu trúc bài học

    5

    2.3. So sánh những khác biệt giữa SGK mới với SGK hiện hành

    10

    2.4. Phân tích một số chủ đề/bài học đặc trưng

    13

    3. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

    14

    3.1. Phần Lịch sử

    14

    3.2. Phần Địa lí

    23

    4. HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ

    28

    4.1. Hướng dẫn chung

    28

    4.2. Một số gợi ý về hình thức và phương pháp kiểm tra, đánh giá năng lực

    29

    PHẦN HAI: HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC MỘT SỐ DẠNG BÀI

    35

    1. Phần Lịch sử

    35

    2. Phần Địa lí

    39

    PHẦN BA: CÁC NỘI DUNG KHÁC

    47

    1. Hướng dẫn sử dụng SGV

    47

    2. Hướng dẫn khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên sách, thiết bị giáo dục,
    học liệu điện tử của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam

    2

    48

    PHẦN MỘT
    HƯỚNG DẪN CHUNG
    1. QUAN ĐIỂM BIÊN SOẠN VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SGK LỊCH SỬ VÀ
    ĐỊA LÍ 7
    1.1. Quan điểm biên soạn sách
    1.1.1. Bám sát chương trình, kế thừa bộ sách giáo khoa (SGK) hiện hành và
    học hỏi kinh nghiệm viết SGK ở các nước tiên tiến.
    – Nội dung sách được triển khai bám sát chương trình môn Lịch sử và Địa lí 7 được
    Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 26/12/2018.
    – Kế thừa, phát triển những điểm mạnh của SGK Lịch sử và Địa lí 7 hiện hành: cụ
    thể là việc lựa chọn kiến thức căn bản ở những nội dung được đề cập trong chương
    trình mới, tính hệ thống tri thức của Khoa học Lịch sử, Khoa học Địa lí.
    – Tiếp thu kinh nghiệm viết SGK của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.
    Chú trọng giải quyết câu hỏi: tại sao môn Lịch sử, Địa lí lại hấp dẫn học sinh (HS) ở các
    nước tiên tiến? Vai trò của SGK Lịch sử và Địa lí trong việc tạo nên tính hấp dẫn của
    bộ môn?
    1.1.2. Đảm bảo các yêu cầu cần đạt về phẩm chất (PC), năng lực (NL) chung và
    các NL đặc thù của môn học quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
    1.1.3. Tăng tính hấp dẫn của SGK: Ưu tiên hàng đầu khi biên soạn SGK Lịch sử
    và Địa lí 6 là khơi gợi được hứng thú của người học qua tư liệu, cách khai thác tư liệu,
    ngôn ngữ sử dụng và cách diễn đạt nội dung mới, sự hài hoà giữa kênh hình và kênh
    chữ, giữa thiết kế và nội dung.
    1.1.4. Chú trọng SGK là công cụ giúp HS phát triển khả năng tự học: Quán triệt
    quan điểm SGK là sách của HS, dùng để tự đọc, tự học và hỗ trợ cho các em học trên lớp
    dưới sự hướng dẫn của giáo viên (GV):
    – Khuyến khích ngôn ngữ viết SGK giàu hình ảnh, cụ thể, giản dị, phù hợp với lứa
    tuổi HS lớp 7.
    – Tạo điều kiện cho HS có thể tự đọc, tự học bằng hệ thống câu hỏi dẫn dắt
    tìm hiểu nội dung chính và hệ thống câu hỏi và bài tập, luyện tập, vận dụng cuối bài
    bám sát mục tiêu bài học.
    1.2. Những điểm mới
    SGK Lịch sử và Địa lí 7 có những điểm mới nổi bật sau đây:
    3

    1.2.1. Cấu trúc sách
    Trong cấu trúc sách, chúng tôi quan tâm biên soạn thế nào để GV Địa lí có thể dạy
    tốt các bài Lịch sử và ngược lại. Ví dụ, ở chương 1 “TÂY ÂU TỪ THẾ KỈ V ĐẾN NỬA
    ĐẦU THẾ KỈ XVI” với 4 bài; chương 3 “ẤN ĐỘ TỪ THẾ KỈ IV ĐẾN GIỮA THẾ KỈ
    XIX” với 3 bài.
    1.2.2. Về hệ thống câu hỏi phát triển năng lực
    Kế thừa phong cách biên soạn từ sách lớp 6, trong cấu trúc mỗi bài học, hệ thống
    câu hỏi phát triển năng lực đặt ngay đề mục nhằm định hướng hoạt động dạy học; chú ý
    đến các dạng câu hỏi ở các cấp độ khác nhau: Các câu hỏi cơ bản nhằm đáp ứng yêu cầu
    cần đạt và các câu hỏi nâng cao giành cho HS khá, giỏi. Ngoài ra, còn chú trọng đến các
    câu hỏi hình thành tư duy phản biện, trình bày suy nghĩ riêng; chú trọng câu hỏi vận dụng
    kiến thức đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và trong đời sống; các câu hỏi rèn
    luyện kĩ năng,…
    1.2.3. Hệ thống tư liệu đáp ứng yêu cầu cần đạt của bài học và dạy học phát triển
    năng lực
    Tư liệu (đặc biệt là tư liệu gốc rất phong phú, đa dạng) được kiểm chứng cẩn thận
    bảo đảm sự chính xác, khoa học, hình ảnh rõ ràng, hỗ trợ hiệu quả cho việc dạy học phát
    triển năng lực, đáp ứng yêu cầu cần đạt.
    1.2.4. Về tích hợp nội môn và liên môn
    Ngoài 2 chủ đề tích hợp, các tác giả chú ý biên soạn kết nối lịch sử với địa lí, tích
    hợp địa lí với lịch sử thông qua kênh hình, kênh chữ và tích hợp với các môn học khác
    như Văn học, Toán học, Nghệ thuật,… Kiến thức tích hợp được sử dụng trong sách ở cả
    3 phần: Mở đầu, Hình thành kiến thức mới, Luyện tập – Vận dụng.
    2. CẤU TRÚC SÁCH VÀ CẤU TRÚC BÀI HỌC
    2.1. Cấu trúc sách
    2.1.1. Phần Lịch sử
    Phần Lịch sử trong SGK Lịch sử và Địa lí 7 gồm có 5 chương, 21 bài học trong 35
    tuần lễ của năm học. Các chương cụ thể như sau:

    XVI

    CHƯƠNG 1. TÂY ÂU TỪ THẾ KỈ V ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XVI
    CHƯƠNG 2. TRUNG QUỐC TỪ THẾ KỈ VII ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX
    CHƯƠNG 3. ẤN ĐỘ TỪ THẾ KỈ IV ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX
    CHƯƠNG 4. ĐÔNG NAM Á TỪ NỬA SAU THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ
    CHƯƠNG 5. VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ X ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XVI
    4

    Ngoài ra, còn có 2 chủ đề chung: Chủ đề chung 1. Các cuộc đại phát kiến địa lí và
    Chủ đề chung 2. Đô thị: Lịch sử và hiện tại.
    Đầu sách có trang hướng dẫn sử dụng sách, nhằm giúp GV và HS làm quen và nắm
    vững những kí hiệu cơ bản thể hiện trong từng mục của bài học trong cuốn sách. Cuối
    sách có phần từ điển thuật ngữ lịch sử: Giúp HS làm quen với các khái niệm lịch sử, ở
    mức độ đơn giản, có trong nội dung bài học và phục vụ cho những nội dung chính của bài
    học.
    Trang bìa thể hiện rõ ý tưởng về tích hợp 2 phân môn trong môn Lịch sử và Địa lí
    với hình con rồng thời Lý vươn lên mạnh mẽ thể hiện khát vọng bay lên của Đại Việt,
    bên trong là hình quả địa cầu với bản đồ các châu lục, cùng con tàu Vích-to-ri-a trong
    cuộc phát kiến của Ma-gien-lăng. Hình ảnh con tàu đang mạnh mẽ lướt sóng đại dương,
    không chỉ thể hiện chủ đề tích hợp chung: Các cuộc đại phát kiến địa lí, mà còn khơi gợi
    cho HS nguồn cảm hứng vô tận vừa khát khao chiếm lĩnh kiến thức, vừa khát khao đưa
    dân tộc vươn ra thế giới.
    2.1.2. Phần Địa lí
    Phần Địa lí trong SGK Lịch sử và Địa lí 7 gồm có 6 chương và 23 bài, cụ thể:
    CHƯƠNG 1. CHÂU ÂU
    CHƯƠNG 2. CHÂU Á
    CHƯƠNG 3. CHÂU PHI
    CHƯƠNG 4. CHÂU MỸ
    CHƯƠNG 5. CHÂU ĐẠI DƯƠNG
    CHƯƠNG 6. CHÂU NAM CỰC
    Mỗi chương được trình bày theo các bài học và các bài thường được sắp xếp theo
    mạch nội dung từ chủ đề về tự nhiên đến chủ đề về dân cư xã hội và khai thác lãnh thổ,
    giúp HS và GV có thể thuận lợi trong việc tìm hiểu và dễ dàng trong việc so sánh giữa
    các châu lục với nhau.
    2.2. Cấu trúc bài học
    Theo Thông tư 33/2017–BGDĐT, cấu trúc trong từng bài học gồm những phần sau:

    5

    Sau 1 năm triển khai chương trình lớp 6, GV và HS đã làm quen với cấu trúc này. Ở
    đây, chỉ xin lược lại những vấn đề cơ bản nhất.
    2.2.1. Phần Mở đầu
    Bao gồm Mục tiêu bài học và Dẫn nhập:
    Mục tiêu bài học: Là những yêu cầu HS cần phải đạt được sau mỗi bài học.
    Dẫn nhập: là hoạt động khởi động trước khi bắt đầu tìm hiểu kiến thức mới. Để tạo
    hứng thú cho HS, GV có thể dựa vào dẫn nhập trong SGK, hoặc có thể khởi động bằng
    một trò chơi, nghe 1 bài hát, xem 1 đoạn video, quan sát lược đồ, tranh ảnh hoặc nêu 1
    tình huống có vấn đề, kể một câu chuyện có liên quan đến bài học nhằm khơi dậy tò mò,
    tạo hứng thú. Trên cơ sở đó, GV chuyển giao nhiệm vụ cho người học.
    Dẫn nhập rất quan trọng để lôi cuốn HS sẵn sàng với tâm thế đầy háo hức, mong
    muốn khám phá những điều mới mẻ mà bài học sẽ cung cấp. Có nhà giáo dục đã nói rất
    đúng: “Nếu bạn để mất HS trong 2 phút đầu tiên, việc bạn chỉ có thể làm được trong 43
    phút còn lại là kéo HS về với bài học”.
    Ví dụ:
    Trong phần Lịch sử, ở Bài 5:

    Trong phần Địa lí, ở Bài 1. Thiên nhiên châu Âu, đã ghi rõ yêu cầu cần đạt:
    6

    Học xong bài này, em sẽ:
    – Trình bày được đặc điểm vị trí địa lí, hình dạng và kích thước châu Âu.
    – Phân tích được đặc điểm các khu vực địa hình chính, đặc điểm phân hoá khí hậu;
    xác định được trên bản đồ các sông lớn Rai-nơ (Rhein), Đa-nuýp (Danube), Von-ga
    (Volga); các đới thiên nhiên.”
    – Mở đầu (Dẫn nhập): bên cạnh phần yêu cầu cần đạt, mỗi bài học sẽ được bắt đầu
    bằng đoạn văn bản dẫn nhập, giúp HS có định hướng và tạo hứng thú cho việc học tập có
    hiệu quả hơn. Đây cũng là một nguồn dữ liệu phù hợp để GV có thể tổ chức hoạt động
    khởi động đầu giờ học.
    Ví dụ: Ở Bài 10. Đặc điểm dân cư, xã hội châu Phi, phần dẫn nhập vào bài được
    xây dựng như sau: Châu Phi có các quốc gia quy mô dân số trên 100 triệu người như
    Ni-giê-ri-a, Ê-ti-ô-pi-a, Ai Cập. Đây cũng là châu lục có tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên
    cao và có một số vấn đề về xã hội tồn tại. Vậy dân cư, xã hội châu Phi có những vấn đề
    nổi cộm gì?
    2.2.2. Phần hình thành kiến thức mới
    Phần này bao gồm nhiều mục nhỏ được phân chia thành nội dung chính và nội dung
    bổ trợ, mở rộng, nâng cao.
    Nội dung chính là những nội dung cơ bản, trọng tâm bao gồm kênh chữ (thông tin
    bài học, các tư liệu); kênh hình (tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, biểu đồ,…) cùng hệ thống các
    câu hỏi phát triển năng lực trong từng phần của mỗi bài nhằm dẫn dắt HS nắm được nội
    dung chính của từng phần khi sử dụng sách.
    Trong hình thành kiến thức mới, GV cần áp dụng đa dạng các hình thức, kĩ năng
    dạy học, trong đó kết hợp cả 3 thao tác (nghe, nhìn, làm) để HS nắm bắt kiến thức. Nhà
    giáo dục Régis Vaillancourt đã nói:“Nếu chỉ nghe, tôi sẽ quên. Nếu được nhìn, tôi sẽ
    nhớ. Nếu được làm, tôi sẽ hiểu”.
    Ví dụ:
    Phần Lịch sử, ở Bài 13 và Bài 16 như sau:

    7

    Nội dung bổ trợ, mở rộng, nâng cao chiếm khoảng từ 10 đến 15 % nội dung của bài
    học tuỳ theo từng bài bao gồm “Em có biết” và “Nhân vật lịch sử”, trong đó cung cấp
    các thông tin (có thể là tư liệu gốc, tư liệu phái sinh, hoặc tư liệu do chính các tác giả tập
    hợp và biên soạn lại ngắn gọn). Đây là những nội dung mở rộng, nâng cao hoặc có tính
    tích hợp, liên môn với các môn học khác nhằm làm rõ hơn nội dung chính của mục, của
    bài.
    Ví dụ:
    Phần Lịch sử, ở Bài chủ đề chung 1 và Bài 15 như sau:

    8

    Phần Địa lí, ở Bài 6. Đặc điểm dân cư, xã hội châu Á, đề mục đầu tiên là 1. Đặc
    điểm dân cư, phần a. Quy mô và cơ cấu dân số, nhiệm vụ học tập là:
    “Dựa vào thông tin trong bài và bảng 6.1, em hãy:
    – Cho biết số dân của châu Á năm 2020.
    – Nhận xét cơ cấu dân số theo nhóm tuổi của châu Á trong giai đoạn 2005 – 2020”.
    Để thực hiện nhiệm vụ này, HS sẽ dựa vào nguồn ngữ liệu bao gồm:
    – Bảng 6.1. Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi của châu Á (không tính số dân của Liên
    bang Nga), giai đoạn 2005 – 2020.
    – Nội dung chính của đề mục (đoạn chính văn).
    Như vậy, sau khi thực hiện nhiệm vụ học tập này, HS có thể đáp ứng yêu cầu cần
    đạt: “Trình bày được đặc điểm dân cư châu Á”.
    2.2.3. Phần Luyện tập – Vận dụng
    2.2.3.1. Phần Lịch sử
    Nội dung Luyện tập bao gồm các câu hỏi, bài tập, bài thực hành để HS củng cố, hệ
    thống hoá kiến thức, rèn luyện kĩ năng. Nội dung Vận dụng bao gồm các câu hỏi, bài tập
    giúp các em biết vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn cuộc sống hoặc
    9

    biết cách giải quyết các tình huống tương tự diễn ra trong cuộc sống. Các câu hỏi trong
    các mục của bài cũng như trong phần Luyện tập – Vận dụng là chất liệu để GV tổ chức
    các hoạt động nhằm củng cố, phát triển các kiến thức, kĩ năng đã được hình thành cho
    HS.
    Như vậy, qua một bài học, HS có rất nhiều cơ hội để tiếp xúc với thế giới bên ngoài,
    kết nối quá khứ với hiện tại khi được đặt trong những tình huống có thật và phải vận
    dụng kiến thức, kĩ năng đã được học để giải quyết các vấn đề. Cách tiếp cận này của sách
    hoàn toàn phù hợp với quan điểm tiếp cận năng lực đã được Bộ GD&ĐT đặt ra cho việc
    biên soạn SGK.
    Ví dụ:
    Phần Lịch sử, ở Bài 11 như sau:

    2.2.3.2. Phần Địa lí
    – Phần Luyện tập: các câu hỏi, bài tập, bài thực hành để HS củng cố, hệ thống hoá
    kiến thức, rèn luyện kĩ năng. Dạng bài được thiết kế đa dạng: có bài sẽ yêu cầu HS hệ
    thống hoá kiến thức bài học bằng sơ đồ (Câu 1 phần Luyện tập, bài 2); có bài yêu cầu HS
    tính toán số liệu và rút ra nhận xét (Câu 1 phần Luyện tập, bài 4); có bài đòi hỏi HS nhận
    xét bảng số liệu (Câu 1 phần Luyện tập, bài 5, bài 6);…
    – Phần Vận dụng: sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các tình huống,
    vấn đề trong thực tiễn. Có bài yêu cầu HS vẽ tranh, viết đoạn văn thể hiện những nội
    dung theo yêu cầu (bài 11); có bài yêu cầu sưu tầm tư liệu theo yêu cầu (bài 13, bài
    14,…);…
    2.3. So sánh những khác biệt giữa SGK mới với SGK hiện hành
    2.3.1. Phần Lịch sử
    Giống như ở SGK lớp 6, phần Lịch sử ở SGK Lịch sử và Địa lí 7 (bộ Chân trời sáng
    tạo) cũng có những sự khác biệt về thời gian, hàm lượng kiến thức trong từng bài, mục
    tiêu, phương pháp tiếp cận, chuẩn đầu ra,…
    10

    Sự khác biệt
    Thời gian

    Số chương, bài,
    số trang

    Xu hướng chủ đạo

    Tổ chức học tập

    Số lượng kênh hình
    Cách sử dụng
    kênh hình

    Kênh chữ

    Câu hỏi

    SGK hiện hành
    LSVN đến nửa đầu thế kỉ
    XIX (triều đại nhà Nguyễn).
    – Sử TG: 1 chương, 7 bài,
    21 trang.
    – Sử VN: 6 chương, 21 bài,
    126 trang.
    – Không có chủ đề chung.

    Diễn dịch.
    − HS được cung cấp các
    khái niệm, các sự kiện
    trước.
    − GV phân tích ví dụ, tình
    huống, phân tích tư liệu để
    làm rõ, làm minh chứng.
    − Ít hơn.
    − Hầu hết các hình chỉ là
    minh hoạ, không sử dụng
    khai thác phục vụ cho bài
    học.
    − Mở đầu là tóm tắt nội
    dung của bài.
    − Chính văn đặt trước câu
    hỏi.
    − Bài đọc thêm (dài hơn,
    phần riêng, không dùng để
    khai thác kiến thức).
    − Cuối bài: Chốt lại nội
    dung chính.

    – Giữa bài.
    – Cuối bài (không phân biệt
    câu hỏi luyện tập và vận
    dụng).

    Kết luận

    11

    SGK Lịch sử và Địa lí 7
    (bộ Chân trời sáng tạo)
    LSVN đến đầu thế kỉ XVI (triều đại
    Lê sơ).
    – Sử TG: (dự kiến 21,5 tiết): 4
    chương, 13 bài, 43 trang.
    – Sử Việt Nam: (dự kiến 23 tiết), 1
    chương, 8 bài, 52 trang. (Có 1 bài
    mới: Vùng đất phía Nam từ đầu thế
    kỉ X đến đầu thế kỉ XVI.
    – Ngoài ra có 2 chủ đề chung
    chung: Các cuộc đại phát kiến địa
    lí; Đô thị: Lịch sử và hiện tại.
    Quy nạp.
    HS được giao nhiệm vụ tìm hiểu,
    nghiên cứu sự kiện, nhân vật, sự
    vật, hiện tượng, tình huống làm cơ
    sở cho việc đi đến đúc kết các nhận
    định, kết luận của cá nhân để rút ra
    kết luận.
    − Nhiều hơn.
    − Các hình dùng để tổ chức hoạt
    động học tập nhiều hơn, chủ yếu là
    hình tư liệu gốc để GV khai thác,
    sử dụng cho hoạt động phát triển
    năng lực. Hình minh hoạ ít.
    − Mở đầu bằng gợi mở, tạo hứng
    thú khám phá.
    − Chính văn đặt sau câu hỏi, tình
    huống, giao nhiệm vụ học tập cho
    HS ngay đầu mỗi đề mục.
    − Em có biết hoặc nhân vật lịch sử
    (ngắn, xen lẫn trong bài nhằm bổ
    sung thông tin, đôi khi để khai thác
    kiến thức).
    − Cuối bài: Không có chốt lại nội
    dung chính (HS sẽ tự rút ra, khác
    nhau giữa các HS bằng thể hiện
    năng lực riêng).
    – Ngay sau đề mục.
    – Cuối bài (phân biệt rõ câu hỏi câu
    hỏi luyện tập và câu hỏi vận dụng).
    Thuận lợi cho hoạt động dạy học
    phát triển năng lực của HS.

    Về mạch nội dung, giữa SGK hiện hành và SGK mới vẫn giữ điểm giống nhau
    chính là: phần Lịch sử theo logic thời gian từ Nguyên thuỷ  Cổ đại  Trung đại 
    Cận đại và Hiện đại; còn phần Địa lí theo logic không gian từ Đại cương  Khu vực 
    Việt Nam. Tuy vậy, điểm khác nhau cơ bản về nội dung ở chỗ:
    – Trong SGK mới, cấu trúc đã được sắp xếp lại phù hợp hơn.
    – Phân phối tiết học được thực hiện linh hoạt theo thực tế, giúp GV có thể chủ động
    điều chỉnh phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương.
    – Bắt đầu từ lớp 7, SGK mới sẽ có các chủ đề chung.
    – SGK hiện hành mặc dù cũng có tích hợp giữa Địa lí và Lịch sử nhưng không rõ
    ràng còn SGK mới, khả năng tích hợp Địa lí trong Lịch sử và Lịch sử trong Địa lí đã
    được thể hiện rất rõ nét.
    2.3.2. Phần Địa lí:
    2.3.2.1. Về kết cấu chương và bài
    Ở SGK hiện hành gồm 3 phần, 10 chương và 61 bài, trong đó phần 1 và phần 2 có
    thể xem là phần chung, trình bày các vấn đề về thành phần nhân văn của môi trường và
    các môi trường địa lí; đến phần 3 mới đi vào cụ thể ở các châu lục từ châu Phi, châu Mĩ,
    châu Nam Cực, châu Đại Dương và cuối cùng là châu Âu. Châu Á không nằm ở chương
    trình lớp 7 mà ở chương trình lớp 8.
    Ở SGK mới, tất cả các nội dung địa lí nằm trong cùng một phần và chia thành 6
    chương, mỗi chương là một châu lục từ châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ, châu Đại
    Dương và cuối cùng là châu Nam Cực. Hai chủ đề chung sẽ nằm ở sau cùng. Như vậy
    trong SGK mới, các nội dung về thành phần nhân văn của môi trường và các môi trường
    địa lí đã được tinh giản, lồng ghép vào trong các châu lục cụ thể chứ không phân tách và
    trình bày thành các nội dung riêng như ở phần 1 và phần 2 của SGK hiện hành. Thêm
    nữa, toàn bộ châu Á đã được đưa vào SGK lớp 7, đảm bảo tính thống nhất là trong
    chương trình lớp 7, HS được học trọn vẹn phần địa lí các châu lục.
    2.3.2.2. Về các tiểu mục và nội dung các câu hỏi hoạt động
    – Ở SGK hiện hành, có nhiều tiểu mục chỉ cung cấp kiến thức – thông tin chứ
    không có câu hỏi hoặc nhiệm vụ học tập. Trong khi đó ở SGK mới, tất cả các tiểu mục
    đều được bắt đầu bởi câu hỏi hoặc nhiệm vụ học tập, giúp HS có thể định hướng rõ hơn
    để có thể hoàn thành các yêu cầu cần đạt tốt hơn.
    – Ở SGK hiện hành, câu hỏi thường được đặt xen kẽ với phần nội dung chính (kênh
    chữ), có khi được đặt ở đầu nội dung, có tiểu mục được đặt ở cuối nội dung. Trong SGK
    mới, vị trí của hệ thống câu hỏi được thống nhất ở ngay sau tiểu mục. Ngoài ra, các yêu

    12

    cầu về sưu tầm tài liệu cũng được chú trọng thể hiện nhiều hơn hẳn trong các câu hỏi, đặc
    biệt ở phần Vận dụng.
    2.3.2.3. Về nội dung của sách
    – Ở SGK hiện hành, nội dung của châu Phi, châu Mĩ và châu Âu có sự chênh lệch
    đáng kể với châu Đại Dương và châu Nam Cực. Trong đó đã trình bày khá chi tiết về các
    khu vực và hoạt động kinh tế của các châu.
    – Ở SGK mới, châu Đại Dương và châu Nam Cực đã được chú ý nhiều hơn nên
    dung lượng dành cho 2 châu này cũng nhiều hơn hẳn, giảm chênh lệch so với các châu
    còn lại. Ngoài ra, SGK mới đáp ứng yêu cầu của Chương trình SGK mới 2018, không đi
    sâu vào các hoạt động kinh tế của các châu mà dừng lại ở việc làm nổi bật các phương
    thức con người khai thác, sử dụng và bảo vệ thiên nhiên ở các châu, để dành hoạt động
    kinh tế của các châu cho các lớp lớn hơn (cụ thể là lớp 11). Trong SGK mới cũng đã thể
    hiện các nội dung mà trước đây chưa có, đó là các nội dung liên quan đến biến đổi khí
    hậu.
    2.3.2.4. Về hình thức của sách
    Ở SGK hiện hành, với dung lượng kiến thức nhiều thì kênh chữ cũng trội hơn so với
    kênh hình. Ở SGK mới, kênh hình đặc biệt là hệ thống bản đồ đã được đầu tư xây dựng
    kĩ lưỡng, công phu, đảm bảo về nội dung và tính trực quan, giúp HS khai thác tốt hơn để
    hoàn thành nhiệm vụ học tập, đáp ứng các yêu cầu cần đạt.
    2.4. Phân tích một số chủ đề/bài học đặc trưng
    Đối với phần Địa lí, trong Chương trình SGK mới 2018 đã quy định nhiều yêu cầu
    mới mà HS phải đạt được khi học phần này, đó là yêu cầu về sưu tầm tư liệu, góp phần
    đáp ứng thành phần năng lực Tìm hiểu Địa lí. Điều này rất phù hợp với chương trình
    phân môn Địa lí 7, vì nội dung các châu lục cũng như các khu vực, quốc gia trên thế giới
    là rất nhiều, không thể nào trình bày được hết trong khuôn khổ của một cuốn sách. Chính
    vì vậy, trong SGK mới đã chú ý thiết kế một số bài học nhằm hướng dẫn HS thực hiện và
    hình thành năng lực sưu tầm tư liệu, giúp các em có thể tự tìm hiểu về tự nhiên, dân cư
    cũng như nền kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới một cách chủ động, tự giác và
    có hiệu quả.
    Ví dụ 1:
    Ở Bài 8. Thực hành tìm hiểu các nền kinh tế lớn và kinh tế mới nổi ở châu Á
    được xây dựng gồm 3 phần: 1) Chuẩn bị; 2) Viết báo cáo; 3) Trình bày báo cáo. Trong đó
    ở phần Chuẩn bị, SGK đã gợi ý cụ thể các bước HS cần chuẩn bị cho nhiệm vụ viết báo
    cáo, đó là:
    – Lựa chọn nội dung.
    13

    – Lập đề cương báo cáo và phân công nhiệm vụ.
    – Thực hiện sưu tầm tài liệu.
    – Xử lí thông tin.
    Dàn ý viết báo cáo đã được gợi ý cụ thể ở phần 2 và cách trình bày báo cáo cũng đã
    được nêu trong phần 3 của bài.
    Như vậy nếu HS hoàn thành được nhiệm vụ của bài học này thì HS sẽ có năng lực
    tự tìm hiểu các nội dung tương tự ở các quốc gia khác trên thế giới.
    Ví dụ 2:
    Khi phân tích nội dung châu Mỹ ở Chương 4, trong các yêu cầu cần đạt của Bắc
    Mỹ nổi lên các yêu cầu phân tích vấn đề nhập cư, chủng tộc và đô thị hoá; còn yêu cầu
    cần đạt của Trung và Nam Mỹ thì nổi lên yêu cầu trình bày đặc điểm nguồn gốc dân cư,
    đô thị hoá và văn hoá Mỹ La-tinh. Do đó có thể thấy Mê-hi-cô không phù hợp với các
    vấn đề của Bắc Mỹ mà phù hợp hơn với các vấn đề của Trung và Nam Mỹ. Chính vì vậy,
    SGK mới đã tách Mê-hi-cô ra khỏi Bắc Mỹ để đưa vào trình bày trong khu vực Trung và
    Nam Mỹ, vừa đảm bảo tính hợp lí về kiến thức, vừa phù hợp với các số liệu thống kê trên
    thế giới.
    – Bài 13: Trong mục Vị trí địa lí và phạm vi châu Mỹ: đã trình bày rõ Mê-hi-cô
    thuộc khu vực Trung và Nam Mỹ.
    – Bài 14, Bài 15: Trong mục thiên nhiên, dân cư, xã hội, các trung tâm kinh tế của
    Bắc Mỹ chỉ bao gồm 2 quốc gia là Hoa Kỳ và Ca-na-đa.
    – Bài 16, Bài 17: Thiên nhiên, dân cư, xã hội Trung và Nam Mỹ đã bao gồm
    Mê-hi-cô trong cả kênh hình và kênh chữ.
    3. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
    3.1. Phần Lịch sử
    3.1.1. Những yêu cầu cơ bản về PPDH
    Ngày nay, dạy học tiếp cận phát triển phẩm chất, năng lực đang trở nên phổ biến
    trên thế giới. Quan điểm dạy học tiếp cận phát triển năng lực phải lấy người học/ việc học
    làm trung tâm, trái ngược với quan điểm dạy học tiếp cận nội dung lấy người dạy/ việc
    dạy là trung tâm.
    Dạy học tiếp cận nội dung và dạy học tiếp cận phát triển năng lực có những khác
    biệt trên 6 mặt sau đây:

    14

    Tiêu chí

    Dạy học tiếp cận
    nội dung

    Dạy học tiếp cận
    phát triển năng lực

    – Chú trọng hình thành kiến thức, kĩ
    năng, thái độ; mục tiêu dạy học được
    Mục tiêu dạy mô tả không chi tiết và khó có thể
    học
    quan sát, đánh giá được.
    – Lấy mục tiêu học để thi, học để hiểu
    làm trọng.

    – Chú trọng hình thành phẩm chất và
    năng lực thông qua việc hình thành kiến
    thức, kĩ năng; mục tiêu dạy học được
    mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh
    giá được.
    – Học để sống, học để biết làm.

    Nội dung
    dạy học

    – Nội dung được lựa chọn dựa vào
    các khoa học chuyên môn, được quy
    định chi tiết trong chương trình.
    – Chú trọng hệ thống kiến thức lí
    thuyết, sự phát triển tuần tự của các
    khái niệm, định luật, học thuyết khoa
    học. SGK được trình bày liền mạch
    thành hệ thống kiến thức.
    – Việc quy định cứng nhắc những nội
    dung chi tiết trong chương trình dễ bị
    thiếu tính cập nhật.

    – Nội dung được lựa chọn nhằm đạt
    được kết quả đầu ra đã quy định;
    chương trình chỉ quy định những nội
    dung chính.
    – Chú trọng các kĩ năng thực hành, vận
    dụng lí thuyết vào thực tiễn. SGK
    không trình bày thành hệ thống mà phân
    nhánh và xen kẽ kiến thức với hoạt
    động.
    – Nội dung chương trình không quá chi
    tiết, có tính mở nên tạo điều kiện để
    người dạy dễ cập nhật tri thức mới.

    PPDH

    – Người dạy là người truyền thụ tri
    thức, HS tiếp thu những tri thức được
    quy định sẵn.
    – Người học có phần “thụ động”, ít
    phản biện.
    – Giáo án thường được thiết kế theo
    trình tự đường thẳng, chung cho cả
    lớp.
    – Người học khó có điều kiện tìm tòi
    bởi kiến thức đã được có sẵn trong
    sách.
    – GV sử dụng nhiều PPDH truyền
    thống (thuyết trình, hướng dẫn thực
    hành, trực quan…).

    – Người dạy chủ yếu là người tổ chức,
    hỗ trợ trò chiếm lĩnh tri thức; chú trọng
    phát triển khả năng giải quyết vấn đề
    của trò.
    – Coi trọng các tổ chức hoạt động, trò
    chủ động tham gia các hoạt động. Coi
    trọng hướng dẫn trò tự tìm tòi
    – Giáo án được thiết kế phân nhánh, có
    sự phân hoá theo trình độ và năng lực.
    – Người học có nhiều cơ hội được bày
    tỏ ý kiến, tham gia phản biện.
    – GV sử dụng nhiều PPDH tích cực
    (giải quyết vấn đề, tự phát hiện, trải
    nghiệm…) kết hợp PPDH truyền thống.

    Môi trường Thường sắp xếp cố định (theo các dãy Có tính linh hoạt, người dạy không luôn
    học tập
    bàn), người dạy ở vị trí trung tâm.
    luôn ở vị trí trung tâm.
    15

    Đánh giá

    – Tiêu chí đánh giá chủ yếu được xây
    dựng dựa trên kiến thức, kĩ năng, thái
    độ gắn với nội dung đã học, chưa
    quan tâm đầy đủ tới khả năng vận
    dụng kiến thức vào thực tiễn.
    – Người dạy thường được toàn quyền
    trong đánh giá.

    – Tiêu chí đánh giá dựa vào kết quả
    “đầu ra”, quan tâm tới sự tiến bộ của
    người học, chú trọng khả năng vận dụng
    kiến thức đã học vào thực tiễn.
    – Người học được tham gia vào đánh
    giá lẫn nhau.

    Sản phẩm
    giáo dục

    – Tri thức người học có được chủ yếu
    là ghi nhớ.
    – Do kiến thức có sẵn nên người học
    phụ thuộc vào Giáo trình/Tài
    liệu/SGK.
    – Ít chú ý đến khả năng ứng dụng nên
    sản phẩm giáo dục là những con
    người ít năng động, sáng tạo.

    – Tri thức người học có được là khả
    năng áp dụng vào thực tiễn.
    – Phát huy sự tìm tòi nên người học
    không phụ thuộc vào Giáo trình/Tài
    liệu/SGK.
    – Phát huy khả năng ứng dụng nên sản
    phẩm giáo dục là những con người năng
    động, tự tin.

    Như vậy, trong việc tổ chức dạy học phân môn Lịch sử, phải sử dụng, kết hợp nhiều
    phương pháp, kĩ thuật và hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm phát triển năng lực
    cho HS. Hiện nay, trong các trường, phổ biến việc kết hợp giữa phương pháp truyền
    thống (đàm thoại, thuyết trình) và PPDH tích cực (PPDH hợp tác, dạy học giải quyết vấn
    đề, dạy học khám phá, đóng vai, trò chơi, dạy học theo góc,…) và GV cũng áp dụng phổ
    biến các kĩ thuật dạy học hiện đại như khăn trải bàn, phòng tranh, chia sẻ nhóm đôi, kĩ
    thuật Kippling (5W1H), các mảnh ghép, động não, tia chớp, sơ đồ tư duy,…
    Ngoài ra, phần Lịch sử còn có một PPDH đặc trưng nữa là sử dụng tư liệu. Ở lớp 6,
    khi HS THCS lần đầu tiên tiếp cận phân môn, chúng tôi không nhấn mạnh đến sử dụng
    phương pháp này (nhất là trong điều kiện tư liệu LS thời tiền sử và cổ đại còn ít ỏi). Ở
    SGK Lịch sử và Địa lí 7 (phần Lịch sử) (bộ sách Chân trời sáng tạo), hệ thống tư liệu
    (nhất là tư liệu gốc như tư liệu chữ viết, tư liệu hình ảnh, tư liệu hiện vật,…) được cung
    cấp rất phong phú, đa dạng trong sách HS. Vì vậy, chúng tôi đặc biệt chú trọng tăng các
    hoạt động yêu cầu HS khai thác tư liệu để qua đó góp phần giúp các em hình thành và
    phát triển các năng chung và năng lực đặc thù.
    Đối với phần Lịch sử, hình thức tổ chức dạy học ở các cấp cũng có sự thay đổi cho
    phù hợp đối tượng và mục tiêu. Ở cấp tiểu học, hình thức dạy học chú trọng lối kể
    chuyện, dẫn chuyện lịch sử, GV giúp cho HS làm quen với lịch sử địa phương, lịch sử
    dân tộc, lịch sử khu vực và thế giới qua các câu chuyện lịch sử; tạo cơ sở để HS bước đầu
    nhận thức về khái niệm thời gian, không gian, đọc hiểu các nguồn sử liệu đơn giản về sự
    kiện, nhân vật lịch sử. Tuy nhiên, càng lên các lớp lớn hơn, càng giảm dần lối kể chuyện,
    dẫn chuyện lịch sử mà cần thiết tăng dần dạy học đưa HS vào các tình huống có vấn đề
    và khuyến khích HS tìm hiểu, khuyến khích tư duy phản biện, khuyến khích tranh luận,
    bày tỏ quan điểm cá nhân. GV khuyến khích HS học bằng cách làm, bằng cách tự học, tự
    16

    nghiên cứu trên cơ sở làm việc với tư liệu. Đây là cách tốt nhất để HS có được các kĩ
    năng cụ thể, nhất là các kĩ năng của nhà sử học.
    Điều cần chú ý là phải chủ động lựa chọn được các PPDH và kĩ thuật dạy học phù
    hợp với đối tượng HS; phù hợp với mục tiêu và nội dung giáo dục cụ thể trong kế hoạch
    dạy học; phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường và địa phương nhằm đạt
    được mục tiêu đã đề ra.
    3.1.2. Hướng dẫn và gợi ý một số PPDH cơ bản
    Như đã trình bày ở trên, PPDH Lịch sử rất phong phú, đa dạng. Mỗi phương pháp
    đều có ưu điểm riêng và nó chỉ thật sự phát huy hiệu quả nếu biết vận dụng phù hợp trong
    từng bài cụ thể. Vì vậy, trong quá trình dạy học, cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng
    tạo và dù lấy phương pháp nào làm chủ đạo thì GV vẫn cần hướng đến phát huy được
    tính tích cực chủ động học tập của HS.
    3.1.2.1. Vận dụng PPDH hợp tác
    Trong tài liệu này chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng: DHHT có nhiều hình thức như
    thảo luận nhóm, seminar, tranh luận, đóng vai,… trong đó thảo luận nhóm được coi là
    hình thức cơ bản và đơn giản nhất, vận dụng phù hợp với điều kiện lớp học của tất cả các
    trường trên các vùng miền.
    Ví dụ minh hoạ:
    Hoạt động 1 – bài 4: Văn hoá Phục hưng

    Vận dụng PPDH hợp tác/kĩ thuật khăn trải bàn.
    Các bước
    thực hiện

    Bước 1

    Nội dung thực hiện
    GV chia lớp thành các nhóm (4 – 6 em), giao nhiệm vụ cho HS. Yêu cầu
    HS đọc thông tin trong bài, kết hợp quan sát tư liệu 4.1 và 4.2 để:
    1. Nêu những biến đổi quan trọng về kinh tế ở Tây Âu thế kỉ XIII – XVI
    2. Kể tên các tầng lớp mới xuất hiện trong xã hội.
    3. Giải thích vì sao họ lại có nhu cầu xây dựng một hệ tư tưởng và văn
    hoá mới.
    17

    HS làm việc theo nhóm, bầu nhóm trưởng, thư kí; sử dụng kĩ thuật khăn
    trải bàn hoặc bảng hoạt động nhóm, mỗi thành viên nhóm đọc câu hỏi, suy
    nghĩ rồi ghi câu trả lời ra ô giành cho mình hoặc bảng hoạt động nhóm.
    Bước 2
    Các thành viên trong nhóm dưới sự điều hành của nhóm trưởng thảo luận.
    Sau khi thống nhất, thư kí ghi ý kiến của cả nhóm vào ô chính giữa khăn
    trải bàn.
    GV gọi đại diện một số nhóm trình bày. Các nhóm khác lắng nghe, nhận
    Bước 3
    xét, bổ sung thêm.
    Bước 4
    GV nhận xét, chốt lại kiến thức cơ bản.
    Ví dụ minh hoạ này nhằm hướng tới yêu cầu cần đạt: Giới thiệu được những biến đổi
    quan trọng về kinh tế, xã hội ở Tây Âu thế kỉ XIII – XVI. Thông qua việc vận dụng
    phương pháp hợp tác/kĩ thuật khăn trải bàn, HS sẽ:
    – Củng cố thêm thành phần năng lực tìm hiểu lịch sử (cụ thể ở đây là nhận biết và
    khai thác được tư liệu 4.1 và tư liệu 4.2 để nhận thức được những biến đổi quan trọng về
    kinh tế của Tây Âu trong các thế kỉ XIII – XVI là: thành thị phát triển thịnh vượng, đóng
    vai trò là những trung tâm kinh tế quan trọng nhất của Tây Âu (Phi-ren-xê là một thị
    quốc tiêu biểu: nhà cửa san sát, với lâu đài, nhà thờ chánh toà Phi-ren-xê, cung điện, toà
    Thị chính và những cây cầu xây bắc ngang sông nối 2 bờ thành phố,…), mầm mống quan
    hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dần xuất hiện (biểu hiện qua hình ảnh về “quầy đổi tiền”).
    – Củng cố năng lực nhận thức và tư duy lịch sử: HS kể tên được các tầng lớp mới
    xuất hiện (chủ xưởng, thương gia, chủ ngân hàng); phát hiện được mối liên hệ nhân quả
    giữa sự phát triển thịnh vượng về kinh tế  sự xuất hiện tầng lớp mới  nhu cầu khẳng
    định vị thế xã hội, thưởng thức cuộc sống; Thấy được: chính sự giàu có là tiền đề quan
    trọng để nhu cầu xây dựng một hệ tư tưởng và văn hoá mới của tầng lớp mới đang đề cập
    có điều kiện thực hiện.
    Lưu ý GV tránh HS bị nhầm lẫn trong nhận thức và tư duy lịch sử: những nhà văn
    hoá phục hưng và nhà tư bản là hai khái niệm khác nhau: nhà tư bản như thương nhân,
    chủ xưởng, chủ ngân hàng là những người ủng hộ và bảo trợ...
     
    Gửi ý kiến