Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1
CHÂM NGÔN HAY
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tài liệu bồi dưỡng Mỹ thuật 7

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 08h:48' 01-03-2024
Dung lượng: 5.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 08h:48' 01-03-2024
Dung lượng: 5.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA
môn
MĨ THUẬT
LỚP
(Tài liệu lưu hành nội bộ)
7
c sng
u
c
i
c v
h
t
i
r
ni t
t
u
:K
h
c
sá
B
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
QUY ƯỚC VIẾT TẮT DÙNG TRONG SÁCH
2
CBQLGD:
cán bộ quản lí giáo dục
CNTT–TT:
công nghệ thông tin – truyền thông
GV:
giáo viên
GVCC:
giáo viên cốt cán
HĐ:
hoạt động
HS:
học sinh
NXBGDVN:
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
SGK:
sách giáo khoa
SGV:
sách giáo viên
SPMT:
sản phẩm mĩ thuật
THCS:
Trung học cơ sở
THPT:
Trung học phổ thông
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
MỤC LỤC
Trang
Phần một. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
4
1. KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC
4
2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SGK MÔN MĨ THUẬT LỚP 7 – BỘ SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
4
2.1. Quan điểm tiếp cận, biên soạn
4
2.2. Giới thiệu, phân tích cấu trúc sách
6
2.3. Cấu trúc mỗi chủ đề, bài học và các mạch kiến thức
8
2.4. Một số bài học đặc trưng
9
2.5. Khung kế hoạch dạy học
14
3. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC/TỔ CHỨC HĐ
15
3.1. Định hướng, yêu cầu cơ bản về đổi mới phương pháp dạy học môn Mĩ thuật đáp ứng yêu cầu
hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực
15
3.2. Gợi ý phương pháp, cách tổ chức dạy học
16
3.3. Hình thức tổ chức dạy học
18
3.4. Hướng dẫn quy trình dạy học một số dạng bài
19
4. KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
24
4.1. Đánh giá theo định hướng tiếp cận phẩm chất, năng lực
24
4.2. Gợi ý đổi mới hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá, tự đánh giá trong môn Mĩ thuật lớp 7
25
5. GIỚI THIỆU TÀI LIỆU BỔ TRỢ, NGUỒN TÀI NGUYÊN, HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ, THIẾT BỊ GIÁO DỤC
26
5.1. Giới thiệu, hướng dẫn sử dụng SGV
26
5.2. Giới thiệu, hướng dẫn sử dụng sách Bài tập Mĩ thuật 7
28
5.3. Giới thiệu, hướng dẫn sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên, học liệu điện tử, thiết bị dạy học
28
5.4. Giới thiệu diễn đàn Mĩ thuật cấp THCS của bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống
31
Phần hai. HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG KẾ HOẠCH BÀI DẠY
32
1. QUY TRÌNH THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI DẠY
32
1.1. Mục tiêu của việc xây dựng kế hoạch bài dạy
32
1.2. Các nội dung chính trong kế hoạch bài dạy
32
1.3. Một số lưu ý khi tổ chức HĐ dạy học thực hiện theo kế hoạch bài dạy
33
2. BÀI SOẠN MINH HOẠ
33
2.1. Dạng bài mĩ thuật tạo hình
33
2.2. Dạng bài mĩ thuật ứng dụng
37
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
3
PHẦN MỘT
1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC
Ở cấp THCS, môn Mĩ thuật giúp HS tiếp tục hình thành, phát triển năng lực mĩ
thuật dựa trên nền tảng kiến thức, kĩ năng mĩ thuật ở cấp Tiểu học, thông qua các HĐ
thảo luận, thực hành, trải nghiệm; phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực
giải quyết vấn đề và sáng tạo; có ý thức kế thừa, phát huy các giá trị văn hoá, nghệ thuật
truyền thống dân tộc, tiếp cận giá trị thẩm mĩ của thời đại, làm nền tảng cho việc phát
triển các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm; có hiểu biết
về mối quan hệ giữa mĩ thuật với đời sống, nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ và tình yêu
nghệ thuật, phát triển năng lực tự chủ và tự học, có ý thức định hướng nghề nghiệp sau
khi kết thúc cấp học.
Để đáp ứng điều này, môn Mĩ thuật lớp 7 có định hướng về nội dung như sau:
– Thể loại (lựa chọn, kết hợp):
+ Mĩ thuật tạo hình: Lí luận và lịch sử mĩ thuật; Hội hoạ; Đồ hoạ (tranh in); Điêu khắc.
+ Mĩ thuật ứng dụng: Lí luận và lịch sử mĩ thuật; Thiết kế công nghiệp, Thiết kế
đồ hoạ, Thiết kế thời trang.
– HĐ thực hành và thảo luận:
+ Thực hành: SPMT 2D, 3D.
+ Thảo luận (lựa chọn, kết hợp):
y Mĩ thuật tạo hình: tìm hiểu tác giả, tác phẩm, di sản văn hoá nghệ thuật; sản phẩm
thực hành của HS.
y Mĩ thuật ứng dụng: sản phẩm thủ công; sản phẩm thực hành của HS.
– Định hướng chủ đề (lựa chọn, kết hợp): văn hoá, xã hội, nghệ thuật trung đại Việt Nam
và thế giới.
2
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SGK MÔN MĨ THUẬT LỚP 7 – BỘ SÁCH
KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
2.1. Quan điểm tiếp cận, biên soạn
SGK môn Mĩ thuật của bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống ở cấp THCS nói chung và
lớp 7 nói riêng có quan điểm tiếp cận được tạo dựng xuất phát từ ý tưởng: kiến thức kết nối
với cuộc sống. Do đó, về quan điểm biên soạn, nhóm tác giả SGK Mĩ thuật lớp 7 xác định
vừa phải tuân thủ quy định chung về biên soạn SGK, đồng thời tuân thủ định hướng chung
của bộ sách, trước tiên phải đảm bảo 3 yếu tố: phù hợp – thực tiễn – sáng tạo. Cụ thể là sự
4
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và trải nghiệm của HS trên mọi miền Tổ quốc; cần
thể hiện được thực tiễn để phản ánh những vấn đề của cuộc sống; có sự sáng tạo để
tạo không gian mở và sáng tạo cho thầy cô và học trò thông qua các HĐ trò chơi, cách
thức tổ chức lớp học,...
Từ các ý tưởng, cách tiếp cận này, bộ sách có quan điểm biên soạn chung dựa trên
3 nội dung cơ bản:
CHUẨN MỰC: bám sát Chương trình giáo dục phổ thông 2018, đáp ứng yêu cầu
chung đối với SGK mới;
KHOA HỌC: cập nhật thành tựu khoa học và công nghệ, phù hợp nền tảng văn
hoá và thực tiễn;
HIỆN ĐẠI: kế thừa ưu điểm của các bộ SGK trong nước và quốc tế, hỗ trợ đổi mới
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Từ đó truyền tải thông điệp: lấy kiến thức làm nền tảng, kiến thức phải kết nối với
cuộc sống nhằm giúp HS yêu thích và hứng thú với môn học. Theo đó, kiến thức đưa
vào sách phải bảo đảm 3 tiêu chí:
– Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và trải nghiệm của người học;
– Phản ánh những vấn đề của cuộc sống, trong đó chú ý cập nhật những thành tựu
của khoa học và công nghệ, phù hợp nền tảng văn hoá và thực tiễn Việt Nam;
– Giúp người học vận dụng để giải quyết những vấn đề của cuộc sống từ các cấp độ
và phương diện khác nhau: cá nhân và xã hội, tinh thần (đạo đức, giá trị nhân văn) và
vật chất (kĩ năng, nghề nghiệp).
Các yêu cầu này vừa liên quan đến việc lựa chọn, sắp xếp nội dung giáo dục nói
chung và các kiến thức nói riêng, cũng như liên quan đến phương pháp tổ chức HĐ
dạy học trên cơ sở nội dung giáo dục đã được lựa chọn. Các nội dung giáo dục được
chọn lọc theo hướng tinh giản ở mức hợp lí, được sắp xếp theo hướng tăng cường sự
kết nối giữa các lớp, các cấp học trong một môn học và hoạt động giáo dục cũng như
sự tích hợp giữa các môn học và HĐ giáo dục trong cùng một lớp, một cấp học. Các
nội dung giáo dục phân hoá cho những đối tượng HS khác nhau cũng được chú trọng.
Đặc biệt, bộ sách còn đặt ra một vấn đề không kém phần quan trọng, đó là việc hỗ
trợ GV đổi mới hiệu quả phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục. Các bài học
trong SGK Mĩ thuật 7 đều được thiết kế gồm hệ thống các HĐ, theo đúng yêu cầu
trong chương trình môn học. Các HĐ đa dạng, có tác dụng kích thích tính tích cực
và chủ động của người học, giúp HS hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực
phù hợp với đặc điểm, ưu thế của môn Mĩ thuật ở giai đoạn giáo dục cơ bản.
a. Một số nguyên tắc biên soạn SGK môn Mĩ thuật cấp THCS nói chung và lớp 7 nói riêng
– SGK phải có tính giáo dục, được coi là ngữ liệu cần thiết, chuẩn mực giúp cho GV
và HS tổ chức hiệu quả hoạt động dạy – học trong nhà trường, theo đúng mục tiêu của
mỗi bài. Những nội dung này phải đảm bảo các yếu tố như: vùng, miền; bình đẳng giới,
định hướng nghề nghiệp, có tính hấp dẫn theo đặc thù của môn học.
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
5
– SGK phải là công cụ giúp HS và GV cụ thể hoá được nội dung, yêu cầu cần đạt
quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Mĩ thuật. Qua đó, hình thành
nên những kiến thức, kĩ năng liên quan đến các lĩnh vực mĩ thuật tạo hình (Hội hoạ,
Đồ hoạ (tranh in), Điêu khắc, Lí luận và lịch sử mĩ thuật); mĩ thuật ứng dụng (Lí luận
và lịch sử mĩ thuật, Thiết kế đồ hoạ, Thiết kế công nghiệp, Thiết kế thời trang).
– SGK phải đáp ứng tính mở trong Chương trình môn học. Tính mở được hiểu là
GV dạy theo chương trình đã được quy định, nội dung đã được biên soạn trong SGK
nhưng được lựa chọn những phương pháp, cách thức triển khai bài dạy phù hợp với
điều kiện thực tế của nhà trường và đặc thù của HS ở địa phương. Điều này đòi hỏi
GV phải suy nghĩ, vận dụng khéo léo những tri thức chuyên ngành sao cho phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lí của mỗi cá nhân HS. Có thể hiểu GV cần tuân theo những
nguyên tắc, quy trình đã được thiết kế trong SGK và được chủ động, sáng tạo những
chi tiết cho phù hợp với hoàn cảnh, hướng đến việc đảm bảo được đúng mục tiêu cần
đạt của bài học.
b. Những quan điểm biên soạn cụ thể ở SGK Mĩ thuật 7
– Các nội dung giáo dục trong mỗi bài được thực hiện dưới dạng các hoạt động theo
một cấu trúc xác định. Những câu lệnh được sử dụng thể hiện yêu cầu mà HS cần phải
thực hiện. Theo cách này, SGK Mĩ thuật 7 có thể dùng để HS tự học, để phụ huynh hỗ
trợ con em học tập và để GV tổ chức hoạt động dạy học.
– Các kĩ năng của môn học Mĩ thuật như tạo hình 2D, 3D, trang trí, thảo luận, vận
dụng làm đẹp trong cuộc sống,... được dạy học tích hợp trong một chủ đề (ở 2 dạng
bài cơ bản), theo trình tự những gì quan sát được từ cuộc sống xung quanh sẽ làm cơ
sở cho khả năng tái hiện lại bằng các hình thức tạo hình như vẽ, nặn, xé, dán, uốn,...;
những SPMT được tạo ra sẽ làm cơ sở cho hoạt động trao đổi, thảo luận; những kiến
thức, kĩ năng được học sẽ được vận dụng làm đẹp đồ vật trong cuộc sống.
– Thiết kế nội dung mỗi bài trong thời lượng 2 tiết đảm bảo đủ thời gian cho HS
thực hiện SPMT theo yêu cầu. Điều này nhằm khơi gợi hứng thú tìm tòi, khám phá
cũng như bồi dưỡng khả năng tưởng tượng, sáng tạo của HS. Bên cạnh đó, sách chú
trọng khai thác hiệu quả những giá trị nghệ thuật tạo hình từ di sản văn hoá nghệ
thuật truyền thống để HS có thể hiểu hơn về bản sắc văn hoá nghệ thuật của dân tộc,
cũng như trong di sản mĩ thuật thế giới cùng thời kì.
2.2. Giới thiệu, phân tích cấu trúc sách
SGK Mĩ thuật 7 được xây dựng trên cơ sở bám sát các nội dung, yêu cầu cần đạt
của Chương trình giáo dục phổ thông môn Mĩ thuật năm 2018. Trong đó, chú trọng
phát triển năng lực chung ở cấp THCS như: tự chủ, tự học, giao tiếp và hợp tác nhóm,
giải quyết vấn đề và sáng tạo. Cụ thể hơn, các năng lực như: tự điều chỉnh tình cảm,
thái độ, hành vi; thích ứng với cuộc sống, xây dựng được mục đích và phương thức
hợp tác; hình thành và triển khai ý tưởng mới, tư duy độc lập,... Từ đó, môn học
hướng tới hình thành các năng lực đặc thù (quan sát và nhận thức thẩm mĩ, sáng tạo
và ứng dụng thẩm mĩ, phân tích và đánh giá thẩm mĩ) với các nội dung, HĐ.
6
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
NăQJ OӵF QKұQ WKӭF ViQJ
WҥRSKkQWtFKӭQJGөQJWKҭP
Pƭ KѭӟQJ WӟL JL~S +6 FҧP
QKұQÿѭӧFYҿÿҽSFӫDÿӕLWѭӧQJ
WKҭP Pƭ QKұQ ELӃW ÿѭӧF ê
WѭӣQJ WKҭP Pƭ JLi WUӏ FӫD VҧQ
SKҭPWiFSKҭPPƭWKXұWWURQJ
ÿӡL VӕQJ 7ӯ ÿy ELӃW OLrQ KӋ
JLiWUӏWKҭPPƭӣVҧQSKҭPWiF
SKҭP Pƭ WKXұW GL VҧQ YăQ KRi
QJKӋ WKXұW YӟL WKӵF KjQK ViQJ
WҥR &iF QăQJ OӵF Qj\ ÿѭӧF
NKDL WKiF WKӇ KLӋQ ӣ FiF +Ĉ
KӑFQKѭWuPKLӇXYҿÿҽSWURQJ
WUDQK WƭQK YұW Yҿ ÿҽS GL WtFK
WURQJPӝWVӕWiFSKҭPPƭWKXұW
WURQJWKLӃWNӃWHPEѭXFKtQKFӫD
9LӋW 1DP NK{QJ NKt VXP KӑS
JLDÿuQKWURQJPӝWVӕWiFSKҭP
PƭWKXұW4XDFiF+ĈKӑFÿy
QăQJOӵFSKiWWULӇQWѭGX\ViQJ
WҥR JL~S +6 QrX ÿѭӧF ê WѭӣQJ
WKӇKLӋQÿӕLWѭӧQJWKҭPPƭOӵD
FKӑQÿѭӧFKuQKWKӭFWKӵFKjQK
ViQJWҥRWKӇKLӋQêWѭӣQJWKҭP
PƭYұQGөQJÿѭӧFPӝWVӕ\ӃX
Wӕ QJX\rQ Ot WҥR KuQK Yj Vӱ
GөQJÿѭӧFPӝWVӕF{QJFөWKLӃW
Eӏ F{QJ QJKӋ WURQJ WKӵF KjQK
ViQJWҥR
Trong Mĩ thuật 7, HS thể hiện không gian trong tranh theo lối vẽ thuỷ mặc; vẽ mô
phỏng tĩnh vật chất liệu chì, màu; tạo một SPMT mô phỏng vẻ đẹp di tích bằng hình
thức đắp nổi đất nặn; thiết kế một con tem bưu chính, thiết kế logo lớp học, làm tranh
cổ động, làm sản phẩm từ vật liệu sẵn có,... Có thể thấy, năng lực ứng dụng thẩm mĩ
được HS thực hành qua các nội dung như: cùng nhóm vẽ tranh cổ động tuyên truyền
bỏ rác đúng nơi quy định; tạo một SPMT khung ảnh để trang trí trong gia đình và làm
đẹp góc học tập của bản thân; vẽ một bức tranh nhân ngày Quốc tế gia đình hay thiết
kế một bộ trang phục,...
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
7
Những nội dung này đáp ứng yêu cầu cần đạt cho HS, cũng như phát huy, kết nối
được kiến thức, năng lực với các HĐ khác như: trưng bày, giới thiệu SPMT của cá
nhân và nhóm học tập; vận dụng được sản phẩm, tác phẩm nghệ thuật phục vụ cho
học tập và đời sống.
SGK Mĩ thuật 7 gồm có 8 chủ đề và 16 bài học. Mỗi chủ đề gồm 2 bài, thường thiết
kế 2 bài học thuộc 2 lĩnh vực: mĩ thuật tạo hình và mĩ thuật ứng dụng, phân bổ nội
dung đảm bảo tỉ lệ 50% dành cho mĩ thuật tạo hình, 40% dành cho mĩ thuật ứng dụng
(tương đương với 32 tiết) và 10% dành cho kiểm tra, đánh giá (tương đương 3 tiết).
2.3. Cấu trúc mỗi chủ đề, bài học và các mạch kiến thức
Cấu trúc mỗi bài học trong chủ đề được thể hiện ở bốn mục lớn: Quan sát – Thể hiện –
Thảo luận – Vận dụng, phân bổ theo logic giúp HS làm quen và tiếp cận ban đầu với bài
học (HĐ quan sát), từ đó, hướng HS thể hiện đối tượng theo sự hiểu biết cá nhân, giúp
hình thành kiến thức, kĩ năng mới gắn với bài học (HĐ thể hiện). Hai HĐ ban đầu
này có tính chất khá quan trọng trong phát triển năng lực tự chủ, tự học, hình thành
và triển khai ý tưởng mới và có tư duy độc lập,... Hai HĐ tiếp theo là thảo luận và vận
dụng giúp HS luyện tập, củng cố lại nội dung, mục tiêu cần đạt được của bài học, từ
đó làm nền tảng sử dụng những kiến thức, kĩ năng trong bài học để giải quyết những
vấn đề của cuộc sống liên quan đến môn học. Ở HĐ thảo luận, HS luôn có cơ hội được
trưng bày SPMT đã hoàn thành, trao đổi và thực hiện các nội dung/câu hỏi theo một
số yêu cầu, gợi ý cụ thể. HĐ vận dụng giúp HS sử dụng kiến thức đã được học trong
bài, chủ đề để tìm hiểu yếu tố tạo hình, nguyên lí tạo hình trong tác phẩm cụ thể như
tác phẩm: Quang cảnh Tô-lê-đô, Quý bà và con chồn; tìm hiểu và phân tích ý nghĩa các
logo, một bảo vật quốc gia cụ thể; khai thác màu sắc, hoa văn của mĩ thuật ứng dụng
thời kì trung đại trên thế giới để trang trí đồ chơi cũ em yêu thích; sưu tầm tác phẩm
mĩ thuật thể hiện rõ nguồn sáng,...
Tính hệ thống này còn giúp GV (hay CBQLGD) kiểm soát được quá trình lĩnh hội,
để có thể hỗ trợ kịp thời cho HS. Cụ thể là: đối với GV, nếu HS không thể hiện được
đối tượng thẩm mĩ của bài học (mục 2) thì HĐ ở mục 1 (quan sát, phân tích) làm chưa
tốt. Nếu HS khi thực hiện mục 3 không tốt thì HĐ ở mục 1, 2 chưa kĩ. Nếu HS thực
hiện HĐ ở mục 4 khó khăn chứng tỏ HĐ ở mục 1, 2, 3 chưa hiểu đúng, đủ. Điều này
giúp GV có thể hỗ trợ, can thiệp kịp thời căn cứ trên mỗi HS. Đối với CBQLGD, khi
dự giờ, thông qua HĐ học tập của HS ở từng mục, có thể biết GV dạy đã đúng và HS
có thực sự hiểu và học được không.
Mạch kiến thức: Tiếp nối các nội dung về kiến thức, kĩ năng đã được học ở lớp 6,
trong các bài học mĩ thuật lớp 7, nhóm biên soạn tiếp tục tạo điều kiện để HS củng cố
và rèn luyện các kĩ năng đã có và được thực hiện từ cấp Tiểu học (vẽ, nặn, đắp nổi đất
nặn, làm mô hình, xé – dán), đồng thời gia tăng số lượng sản phẩm để củng cố kĩ năng
mới hình thành ở chương trình mĩ thuật lớp 6 (in độc bản). Chính vì vậy, có thể thấy
điều này sẽ được lặp lại trong một số SPMT có tính chất gợi ý cho HS như bài 13 về đề
8
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
tài gia đình trong sáng tạo mĩ thuật, với việc thông qua gợi ý bằng hình ảnh minh hoạ
các bước thể hiện một SPMT về đề tài gia đình bằng hình thức in tranh độc bản đã tạo
cơ hội cho HS củng cố các kĩ năng mới hình thành.
Bên cạnh đó, mạch kiến thức chú trọng bổ sung một số nội dung khác về nguồn
sáng trong tranh, tranh tĩnh vật, thiết kế tem, logo, thiết kế thời trang,... mở ra các kĩ
năng mới, có tính chất nâng cao hơn như: mô phỏng tĩnh vật bằng chì hay màu, vẽ
tranh thuỷ mặc bằng màu nước, mô phỏng tác phẩm mĩ thuật bằng hình thức yêu
thích,... Những điểm mới và khác biệt này, trong tương quan với SGK Mĩ thuật 6 và
các lớp ở cấp Tiểu học, nội dung bài học ở Mĩ thuật 7 được biên soạn để đảm bảo sự
phù hợp và đáp ứng yêu cầu cần đạt theo định hướng phát triển năng lực đã quy định
ở Chương trình giáo dục phổ thông môn Mĩ thuật năm 2018.
2.4. Một số bài học đặc trưng
Như trên đã trình bày, thông qua việc tạo nên các SPMT cụ thể, SGK Mĩ thuật 7 đã
cụ thể hoá nội dung, yêu cầu cần đạt trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Mĩ
thuật năm 2018 nhằm gắn kết tri thức của môn học với cuộc sống, giúp HS hình thành
năng lực mĩ thuật, lĩnh hội tri thức và làm được SPMT yêu thích,... Mỗi bài học trong
SGK Mĩ thuật 7 có những nội dung hấp dẫn, tạo hứng thú của các em đối với môn
học, từ đó hình thành thái độ, ý thức học tập một cách tích cực. Đây cũng là một trong
những cách tiếp cận môn học mới, hiện đại khi mà mọi giải pháp đều lấy HS làm trung
tâm và hướng đến phát triển năng lực của người học.
Về cơ bản, các bài học trong SGK Mĩ thuật 7 được thiết kế theo hai dạng bài chính:
mĩ thuật tạo hình và mĩ thuật ứng dụng. Trong đó, dạng bài mĩ thuật tạo hình hướng HS
hình thành kiến thức, kĩ năng liên quan đến việc sử dụng yếu tố/nguyên lí tạo hình để
thực hiện SPMT ở dạng 2D, 3D. Dạng bài mĩ thuật ứng dụng giúp HS làm quen với các
thể loại của mĩ thuật ứng dụng như: Thiết kế đồ hoạ; Thiết kế công nghiệp; Thiết kế thời
trang và làm một số sản phẩm như đồ chơi, đồ dùng học tập, quà tặng,...
Phần này, chúng tôi đưa ra 4 bài học đặc trưng cho 2 dạng bài đã nêu, bao gồm:
– Dạng bài mĩ thuật tạo hình
Bài 1. Mĩ thuật tạo hình thời kì trung đại
Bài 8. Tranh tĩnh vật
– Dạng bài mĩ thuật ứng dụng
Bài 6. Thiết kế logo
Bài 12. Tranh cổ động
Cụ thể:
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
9
Bài 1. Mĩ thuật tạo hình thời kì trung đại
Ở bài học lồng ghép nội dung lí luận và lịch sử mĩ thuật trong dạng bài mĩ thuật
tạo hình này, HS sẽ được làm quen với giá trị tạo hình của một số tác phẩm mĩ thuật
thời kì trung đại trên thế giới, cũng như cách mô phỏng một tác phẩm yêu thích
cùng thời kì này để củng cố, rèn luyện các kĩ năng liên quan.
10
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
Bài 8. Tranh tĩnh vật
Ở bài 8, HS được tìm hiểu về tranh tĩnh vật, từ đó gợi ý các bước để mô phỏng vật
mẫu ở dạng tĩnh bằng chất liệu chì hoặc màu, tạo cho HS hứng thú trong tìm hiểu
kiến thức và kĩ năng trong mô phỏng mẫu theo đúng quy trình và trình tự các bước
thực hiện.
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
11
Bài 6. Thiết kế logo
Ở bài này, HS được tìm hiểu và nhận biết về tính chất biểu tượng, giá trị thẩm mĩ
và thông tin truyền tải qua hình ảnh của logo thương hiệu. Từ đó biết tìm ý tưởng để
thiết kế được logo ở dạng đơn giản cho lớp học của mình. Hình ảnh và nội dung phân
tích chính là những gợi ý có tính chất gợi mở, hỗ trợ HS hình thành và phát triển ý
tưởng trong thể hiện, sáng tạo SPMT của mình.
12
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
Bài 12. Tranh cổ động
Trong bài học về tranh cổ động, HS hiểu được một cách cơ bản về những đặc điểm
của một bức tranh cổ động, đồng thời nhấn mạnh vào nguyên lí lặp lại của hình vẽ và
chữ trong thiết kế một tranh cổ động. Thông qua đó, truyền tải vẻ đẹp của kiến trúc
nhà trong các tranh cổ động, giúp HS có ý thức hơn trong xây dựng môi trường sống
của chính mình.
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
13
2.5. Khung kế hoạch dạy học
Khung kế hoạch dạy học môn Mĩ thuật lớp 7 (theo hình thức 1 buổi/tuần) như sau:
Tuần
Chủ đề
Từ tuần
1–4
Mĩ thuật thế giới
Từ tuần
5–8
thời kì trung đại
Vẻ đẹp di tích
Từ tuần
9 – 12
Yếu tố dân tộc
Từ tuần
13 –16
Vẻ đẹp trong tác
trong mĩ thuật
phẩm hội hoạ
Tuần 17
Từ tuần
18 – 21
Từ tuần
22 – 25
Từ tuần
26 – 29
Từ tuần
30 – 33
Tuần
34 – 35
14
Bài học
Mĩ thuật tạo hình thời kì trung đại
2
Mĩ thuật ứng dụng thời kì trung đại
2
Hình ảnh di tích trong sáng tạo mĩ thuật
2
Hình ảnh di tích trong thiết kế tem bưu
chính
2
Yếu tố dân tộc trong tranh của một số
hoạ sĩ
2
Thiết kế logo
2
Không gian trong tác phẩm hội hoạ thế
giới thời kì trung đại
2
Tranh tĩnh vật
2
KIỂM TRA, TRƯNG BÀY CUỐI HỌC KÌ I
Hiện thực cuộc
Số tiết
1
Tìm hiểu nguồn sáng trong tranh
2
tạo mĩ thuật
Thiết kế tạo mẫu trang phục
2
Tạo hình ngôi
Tạo hình ngôi nhà từ vật liệu sẵn có
2
tạo mĩ thuật
Tranh cổ động
2
Sum họp gia
Đề tài gia đình trong sáng tạo mĩ thuật
2
đình
Thiết kế khung ảnh từ vật liệu sẵn có
2
Mĩ thuật Việt
Di sản mĩ thuật Việt Nam thời kì trung đại
2
Nam thời kì
Khai thác giá trị tạo hình truyền thống
trong trang trí đồ vật
2
sống trong sáng
nhà trong sáng
trung đại
KIỂM TRA, TRƯNG BÀY CUỐI NĂM
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
2
Căn cứ theo điều kiện dạy học tại địa phương, GV có thể bố trí dạy học theo hình
thức 1 buổi/tuần hay 2 buổi/tuần một cách linh hoạt, để đảm bảo đủ 35 tiết/năm học
và đảm bảo thời gian kiểm tra, trưng bày cuối học kì I, cuối năm đúng theo kế hoạch
của nhà trường.
3
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC/TỔ CHỨC HĐ
3.1. Định hướng, yêu cầu cơ bản về đổi mới phương pháp dạy học môn Mĩ thuật
đáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực
Căn cứ theo nội dung dạy học đã được xác lập theo Chương trình giáo dục phổ thông
môn Mĩ thuật năm 2018, phương pháp dạy học mĩ thuật cần có sự thay đổi cho phù hợp
với chương trình mới, theo định hướng phát triển năng lực của HS. Phương pháp dạy
học mĩ thuật theo hướng tích hợp hướng đến việc hình thành, phát triển được các kĩ
năng sau: Một là, HS được trải nghiệm và trình bày hiểu biết của mình thông qua tác
phẩm, SPMT. Hai là, HS chủ động tạo ra những SPMT, cũng như hình thành thái độ
hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm với các thành viên trong nhóm. Ba là, HS biết cách biểu
đạt ý kiến, ấn tượng và cảm giác của bản thân trước sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật. Bốn
là, HS hiểu, phân tích và diễn giải các yếu tố cấu thành của mĩ thuật theo các mức độ
khác nhau.
Chính những kĩ năng này là điều kiện cần và đủ để hình thành năng lực thẩm mĩ
cho HS, thể hiện ở các phương diện sau: Một là, nhận biết cái đẹp. HS nhận biết được
cái đẹp/cái xấu trong tự nhiên, đời sống xã hội và nghệ thuật; có cảm xúc và biết bày
tỏ cảm xúc trước cái đẹp và cái chưa đẹp trong cuộc sống xung quanh. Hai là, phân
tích, đánh giá cái đẹp. HS mô tả được cái đẹp, biết so sánh, nhận xét về biểu hiện bên
ngoài của cái đẹp, cái chưa đẹp với mức độ đơn giản. Ba là, tạo ra cái đẹp. HS biết mô
phỏng, tái hiện được vẻ đẹp quen thuộc bằng hình thức, công cụ, phương tiện, ngôn
ngữ biểu đạt,... phù hợp ở mức độ đơn giản; có ý tưởng sử dụng kết quả học tập/sáng
tạo thẩm mĩ để làm tăng thêm vẻ đẹp cho cuộc sống hằng ngày của bản thân. Phương
pháp và hình thức tổ chức dạy học, nhấn mạnh việc sử dụng đa dạng chất liệu, vật liệu
sưu tầm trong thực hành, sáng tạo; chú trọng việc tích hợp và lồng ghép HĐ thảo luận
với thực hành. Theo đó, HS vừa là người sáng tạo nghệ thuật, vừa là người thưởng thức
nghệ thuật. Cụ thể:
– Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của
người học. Cần tích hợp, lồng ghép lí thuyết, thực hành và thảo luận nghệ thuật; chú
trọng tổ chức, định hướng các HĐ học tập, thực hành, sáng tạo thông qua trải nghiệm
đa giác quan, đa dạng không gian và hình thức HĐ học tập.
– Phương pháp giáo dục kích thích trí tưởng tượng, tư duy hình ảnh thẩm mĩ, huy
động kiến thức, kinh nghiệm của HS; kết hợp liên hệ, kiến thức, kĩ năng của môn Mĩ
thuật với kiến thức, kĩ năng của các môn học, HĐ giáo dục khác và những vấn đề gắn với
thực tiễn (ở địa phương, trong cuộc sống,...) một cách phù hợp, thiết thực, tạo cơ hội để
HS được vận dụng kiến thức, kĩ năng cũng như đưa các sản phẩm sáng tạo vào đời sống.
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
15
– Phương pháp giáo dục hướng đến phát triển khả năng giải quyết vấn đề, tư duy
độc lập, phân tích, phản biện thẩm mĩ; tăng cường vận dụng các chất liệu, vật liệu sẵn
có ở địa phương, vật liệu sưu tầm, tái sử dụng; phối hợp sử dụng các công cụ, phương
tiện học tập với việc khai thác, sử dụng thiết bị công nghệ, nguồn internet một cách
phù hợp trong tiến trình dạy học, giáo dục. Dạy học mĩ thuật hướng tới mục tiêu lấy
HS làm trung tâm, kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức,
phát triển năng lực và phẩm chất cho HS một cách toàn diện nhằm giúp các em có thể
hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi. Sáng tạo mĩ thuật để qua đó biểu đạt bản
thân: suy nghĩ, tình cảm, mong muốn,...; hiểu, cảm nhận và phản ánh được nội dung
của sản phẩm/tác phẩm mĩ thuật bằng cách giới thiệu, phân tích, đánh giá; giao tiếp/
trao đổi, tiếp nhận ý tưởng và ý nghĩa thông qua sản phẩm/tác phẩm mĩ thuật.
HS lớp 7 trường THCS Thái Thịnh, Hà Nội trong giờ dạy thực nghiệm môn Mĩ thuật
3.2. Gợi ý phương pháp, cách thức tổ chức dạy học
SGK Mĩ thuật 7 sử dụng một số phương pháp dạy học truyền thống kết hợp với
một số phương pháp dạy học mới theo quan điểm dạy học tích cực, cụ thể: phương
pháp trực quan (quan sát bài vẽ, tranh ảnh minh hoạ, mẫu); phương pháp vấn đáp, gợi
mở (gợi mở ý tưởng,...); phương pháp hợp tác nhóm; phương pháp hình học; phương
pháp mô phỏng; phương pháp vẽ theo trí nhớ; phương pháp dạy học tích hợp, dạy
học theo chủ đề; dạy học khám phá; dạy học thực hành, sáng tạo; dạy học đa phương
tiện,... Ngoài ra, SGK Mĩ thuật 7 còn kết hợp một số kĩ thuật dạy học như:
¾
Động não: Kĩ thuật phát huy khả năng quan sát, tìm hiểu chủ đề Æ phù hợp
phần quan sát, thảo luận, trao đổi nhóm qua việc đặt câu hỏi.
¾
Khăn trải bàn: Kĩ thuật tổ chức HĐ mang tính hợp tác, thúc đẩy sự tích cực,
trách nhiệm, tương tác của các cá nhân Æ dùng trong phần thực hành nhóm.
16
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
¾
Phòng tranh: Nhóm HS viết ý tưởng lên giấy, lên bảng,... HS cùng trao đổi tìm
phương án tối ưu.
¾
Công đoạn: Nhóm trưởng trao đổi cùng thực hiện một sản phẩm, sau đó, phân
công các thành viên thực hiện và ghép sản phẩm cá nhân thành nhóm.
¾
Đặt câu hỏi: Lưu ý câu hỏi liên quan đến thực hiện mục tiêu chủ đề, ngắn gọn;
phù hợp năng lực, vốn kinh nghiệm của HS, tránh dùng câu hỏi đa nghĩa, gây
khó với HS.
Để đạt được những năng lực mĩ thuật trong môn học, cũng như phù hợp với tính
mở trong Chương trình môn Mĩ thuật, GV vận dụng một cách có hiệu quả các phương
pháp dạy học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực, kết hợp với các phương pháp
mới cho phù hợp với nội dung, hướng tới mục tiêu đa dạng trong cách giải quyết vấn
đề mà mỗi chủ đề/bài học đặt ra. Như vậy, theo Chương trình giáo dục phổ thông năm
2018, GV được thực sự trao quyền chủ động, linh hoạt và điều này mới giúp các thầy
cô có thể sáng tạo trong dạy học. Theo đó, phương pháp dạy học môn Mĩ thuật có hai
vấn đề chính: Một là, bằng các kĩ thuật dạy học, GV nêu vấn đề và giúp HS phát hiện
vấn đề qua những tình huống trong học tập và trong cuộc sống. Hai là, với những vấn
đề phát hiện được, HS có nhiều cách để giải quyết thông qua bài thực hành và mỗi
cách giải quyết phản ánh nhận thức, kĩ năng của HS. Việc GV giúp HS hình thành kĩ
năng phát hiện vấn đề là quá trình giúp cho HS làm quen với kĩ năng tìm hiểu mối
liên hệ, đặc trưng của sự vật, hiện tượng có vấn đề. Đây là một kĩ năng có ý nghĩa rất
quan trọng đối với HS trong môn Mĩ thuật và phải rèn luyện một quá trình mới có
thể hình thành được. Đặc trưng cơ bản của việc dạy HS phát hiện và giải quyết vấn đề
là GV có thể đưa ra những “tình huống gợi vấn đề” để HS thảo luận, trao đổi và giải
quyết. Khi đó, bài dạy không chỉ giúp HS có năng lực phát hiện kịp thời những vấn đề
nảy sinh trong thực tiễn, mà bước quan trọng tiếp theo là giải quyết hợp lí những vấn
đề được đặt ra. Với cách tiếp cận này, HS không phải gò cảm xúc của mình vào một
khuôn mẫu nhất định, bởi mỗi cá nhân trong hoàn cảnh, điều kiện khác nhau thì có
cảm xúc và những cách bộc lộ cảm xúc khác nhau. Điều này giúp hạn chế việc mặc
định một mẫu số chung trong thể hiện cảm xúc, cũng như giúp HS thoải mái sáng tạo
hơn trong việc hình thành các ý tưởng riêng. Trong thực hành, HS có thể vẽ tranh hay
dùng hình thức nặn, xé, dán, thậm chí có thể kết hợp hình thức đắp nổi và tạo khối để
thể hiện cảm xúc của mình. Rõ ràng, với cách thức này, HS có cơ hội phát triển khả
năng tìm tòi, xem xét một vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau và điều này được thừa
nhận trong lĩnh vực giáo dục nghệ thuật. Việc khuyến khích HS trong khi phát hiện
và giải quyết vấn đề sẽ huy động được tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác,
trao đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất. Thông qua việc
giải quyết vấn đề của bài học, HS được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp thực
hiện, do đó việc dạy mĩ thuật không chỉ thuộc phạm trù phương pháp mà đã trở thành
một mục đích dạy học, cụ thể hoá thành một mục tiêu giáo dục là phát triển năng lực
giải quyết vấn đề. Những phương pháp này đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thời gian và
công sức, phải có năng lực sư phạm tốt để suy nghĩ tạo ra được nhiều tình huống gợi
vấn đề và hướng dẫn HS tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề. Hay có thể hiểu, GV
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
17
dạy Mĩ thuật phải nắm vững các phương pháp, kĩ thuật dạy mĩ thuật cơ bản để chủ
động vận dụng một cách linh hoạt vào tiết dạy của mình, sao cho tri thức và kĩ năng
mà HS lĩnh hội được sẽ giúp các em hình thành những năng lực thẩm mĩ, nâng cao
tư duy trong lĩnh vực này. Một điều nữa cần đề cập đến là việc cho HS chủ động phát
hiện và giải quyết vấn đề trong môn Mĩ thuật không chỉ giúp HS tích cực tham gia vào
việc học, đạt kết quả cao mà điều quan trọng hơn là giúp HS hình thành kĩ năng phát
hiện và giải quyết vấn đề.
Để chủ động lựa chọn sử dụng phương pháp dạy học đạt được mục tiêu đề ra, GV
cần tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề theo hướng:
– Các nhóm HS có thể giải quyết cùng một vấn đề, tình huống hoặc các vấn đề, tình
huống khác nhau, căn cứ theo mục đích của HĐ.
– GV cần hướng dẫn HS xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết. Trong HĐ
nhóm, GV cần phân bổ thời gian cho nhóm thảo luận để liệt kê ra những cách thức có
thể sử dụng để giải quyết vấn đề.
– GV cần tìm hiểu đúng mục đích, mục tiêu của bài dạy để có cách tạo tình huống,
gợi vấn đề và tận dụng các cơ hội để tạo ra tình huống phù hợp, đồng thời tạo điều
kiện để HS ...
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA
môn
MĨ THUẬT
LỚP
(Tài liệu lưu hành nội bộ)
7
c sng
u
c
i
c v
h
t
i
r
ni t
t
u
:K
h
c
sá
B
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
QUY ƯỚC VIẾT TẮT DÙNG TRONG SÁCH
2
CBQLGD:
cán bộ quản lí giáo dục
CNTT–TT:
công nghệ thông tin – truyền thông
GV:
giáo viên
GVCC:
giáo viên cốt cán
HĐ:
hoạt động
HS:
học sinh
NXBGDVN:
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
SGK:
sách giáo khoa
SGV:
sách giáo viên
SPMT:
sản phẩm mĩ thuật
THCS:
Trung học cơ sở
THPT:
Trung học phổ thông
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
MỤC LỤC
Trang
Phần một. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
4
1. KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC
4
2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SGK MÔN MĨ THUẬT LỚP 7 – BỘ SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
4
2.1. Quan điểm tiếp cận, biên soạn
4
2.2. Giới thiệu, phân tích cấu trúc sách
6
2.3. Cấu trúc mỗi chủ đề, bài học và các mạch kiến thức
8
2.4. Một số bài học đặc trưng
9
2.5. Khung kế hoạch dạy học
14
3. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC/TỔ CHỨC HĐ
15
3.1. Định hướng, yêu cầu cơ bản về đổi mới phương pháp dạy học môn Mĩ thuật đáp ứng yêu cầu
hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực
15
3.2. Gợi ý phương pháp, cách tổ chức dạy học
16
3.3. Hình thức tổ chức dạy học
18
3.4. Hướng dẫn quy trình dạy học một số dạng bài
19
4. KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
24
4.1. Đánh giá theo định hướng tiếp cận phẩm chất, năng lực
24
4.2. Gợi ý đổi mới hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá, tự đánh giá trong môn Mĩ thuật lớp 7
25
5. GIỚI THIỆU TÀI LIỆU BỔ TRỢ, NGUỒN TÀI NGUYÊN, HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ, THIẾT BỊ GIÁO DỤC
26
5.1. Giới thiệu, hướng dẫn sử dụng SGV
26
5.2. Giới thiệu, hướng dẫn sử dụng sách Bài tập Mĩ thuật 7
28
5.3. Giới thiệu, hướng dẫn sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên, học liệu điện tử, thiết bị dạy học
28
5.4. Giới thiệu diễn đàn Mĩ thuật cấp THCS của bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống
31
Phần hai. HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG KẾ HOẠCH BÀI DẠY
32
1. QUY TRÌNH THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI DẠY
32
1.1. Mục tiêu của việc xây dựng kế hoạch bài dạy
32
1.2. Các nội dung chính trong kế hoạch bài dạy
32
1.3. Một số lưu ý khi tổ chức HĐ dạy học thực hiện theo kế hoạch bài dạy
33
2. BÀI SOẠN MINH HOẠ
33
2.1. Dạng bài mĩ thuật tạo hình
33
2.2. Dạng bài mĩ thuật ứng dụng
37
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
3
PHẦN MỘT
1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC
Ở cấp THCS, môn Mĩ thuật giúp HS tiếp tục hình thành, phát triển năng lực mĩ
thuật dựa trên nền tảng kiến thức, kĩ năng mĩ thuật ở cấp Tiểu học, thông qua các HĐ
thảo luận, thực hành, trải nghiệm; phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực
giải quyết vấn đề và sáng tạo; có ý thức kế thừa, phát huy các giá trị văn hoá, nghệ thuật
truyền thống dân tộc, tiếp cận giá trị thẩm mĩ của thời đại, làm nền tảng cho việc phát
triển các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm; có hiểu biết
về mối quan hệ giữa mĩ thuật với đời sống, nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ và tình yêu
nghệ thuật, phát triển năng lực tự chủ và tự học, có ý thức định hướng nghề nghiệp sau
khi kết thúc cấp học.
Để đáp ứng điều này, môn Mĩ thuật lớp 7 có định hướng về nội dung như sau:
– Thể loại (lựa chọn, kết hợp):
+ Mĩ thuật tạo hình: Lí luận và lịch sử mĩ thuật; Hội hoạ; Đồ hoạ (tranh in); Điêu khắc.
+ Mĩ thuật ứng dụng: Lí luận và lịch sử mĩ thuật; Thiết kế công nghiệp, Thiết kế
đồ hoạ, Thiết kế thời trang.
– HĐ thực hành và thảo luận:
+ Thực hành: SPMT 2D, 3D.
+ Thảo luận (lựa chọn, kết hợp):
y Mĩ thuật tạo hình: tìm hiểu tác giả, tác phẩm, di sản văn hoá nghệ thuật; sản phẩm
thực hành của HS.
y Mĩ thuật ứng dụng: sản phẩm thủ công; sản phẩm thực hành của HS.
– Định hướng chủ đề (lựa chọn, kết hợp): văn hoá, xã hội, nghệ thuật trung đại Việt Nam
và thế giới.
2
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SGK MÔN MĨ THUẬT LỚP 7 – BỘ SÁCH
KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
2.1. Quan điểm tiếp cận, biên soạn
SGK môn Mĩ thuật của bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống ở cấp THCS nói chung và
lớp 7 nói riêng có quan điểm tiếp cận được tạo dựng xuất phát từ ý tưởng: kiến thức kết nối
với cuộc sống. Do đó, về quan điểm biên soạn, nhóm tác giả SGK Mĩ thuật lớp 7 xác định
vừa phải tuân thủ quy định chung về biên soạn SGK, đồng thời tuân thủ định hướng chung
của bộ sách, trước tiên phải đảm bảo 3 yếu tố: phù hợp – thực tiễn – sáng tạo. Cụ thể là sự
4
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và trải nghiệm của HS trên mọi miền Tổ quốc; cần
thể hiện được thực tiễn để phản ánh những vấn đề của cuộc sống; có sự sáng tạo để
tạo không gian mở và sáng tạo cho thầy cô và học trò thông qua các HĐ trò chơi, cách
thức tổ chức lớp học,...
Từ các ý tưởng, cách tiếp cận này, bộ sách có quan điểm biên soạn chung dựa trên
3 nội dung cơ bản:
CHUẨN MỰC: bám sát Chương trình giáo dục phổ thông 2018, đáp ứng yêu cầu
chung đối với SGK mới;
KHOA HỌC: cập nhật thành tựu khoa học và công nghệ, phù hợp nền tảng văn
hoá và thực tiễn;
HIỆN ĐẠI: kế thừa ưu điểm của các bộ SGK trong nước và quốc tế, hỗ trợ đổi mới
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Từ đó truyền tải thông điệp: lấy kiến thức làm nền tảng, kiến thức phải kết nối với
cuộc sống nhằm giúp HS yêu thích và hứng thú với môn học. Theo đó, kiến thức đưa
vào sách phải bảo đảm 3 tiêu chí:
– Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và trải nghiệm của người học;
– Phản ánh những vấn đề của cuộc sống, trong đó chú ý cập nhật những thành tựu
của khoa học và công nghệ, phù hợp nền tảng văn hoá và thực tiễn Việt Nam;
– Giúp người học vận dụng để giải quyết những vấn đề của cuộc sống từ các cấp độ
và phương diện khác nhau: cá nhân và xã hội, tinh thần (đạo đức, giá trị nhân văn) và
vật chất (kĩ năng, nghề nghiệp).
Các yêu cầu này vừa liên quan đến việc lựa chọn, sắp xếp nội dung giáo dục nói
chung và các kiến thức nói riêng, cũng như liên quan đến phương pháp tổ chức HĐ
dạy học trên cơ sở nội dung giáo dục đã được lựa chọn. Các nội dung giáo dục được
chọn lọc theo hướng tinh giản ở mức hợp lí, được sắp xếp theo hướng tăng cường sự
kết nối giữa các lớp, các cấp học trong một môn học và hoạt động giáo dục cũng như
sự tích hợp giữa các môn học và HĐ giáo dục trong cùng một lớp, một cấp học. Các
nội dung giáo dục phân hoá cho những đối tượng HS khác nhau cũng được chú trọng.
Đặc biệt, bộ sách còn đặt ra một vấn đề không kém phần quan trọng, đó là việc hỗ
trợ GV đổi mới hiệu quả phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục. Các bài học
trong SGK Mĩ thuật 7 đều được thiết kế gồm hệ thống các HĐ, theo đúng yêu cầu
trong chương trình môn học. Các HĐ đa dạng, có tác dụng kích thích tính tích cực
và chủ động của người học, giúp HS hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực
phù hợp với đặc điểm, ưu thế của môn Mĩ thuật ở giai đoạn giáo dục cơ bản.
a. Một số nguyên tắc biên soạn SGK môn Mĩ thuật cấp THCS nói chung và lớp 7 nói riêng
– SGK phải có tính giáo dục, được coi là ngữ liệu cần thiết, chuẩn mực giúp cho GV
và HS tổ chức hiệu quả hoạt động dạy – học trong nhà trường, theo đúng mục tiêu của
mỗi bài. Những nội dung này phải đảm bảo các yếu tố như: vùng, miền; bình đẳng giới,
định hướng nghề nghiệp, có tính hấp dẫn theo đặc thù của môn học.
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
5
– SGK phải là công cụ giúp HS và GV cụ thể hoá được nội dung, yêu cầu cần đạt
quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Mĩ thuật. Qua đó, hình thành
nên những kiến thức, kĩ năng liên quan đến các lĩnh vực mĩ thuật tạo hình (Hội hoạ,
Đồ hoạ (tranh in), Điêu khắc, Lí luận và lịch sử mĩ thuật); mĩ thuật ứng dụng (Lí luận
và lịch sử mĩ thuật, Thiết kế đồ hoạ, Thiết kế công nghiệp, Thiết kế thời trang).
– SGK phải đáp ứng tính mở trong Chương trình môn học. Tính mở được hiểu là
GV dạy theo chương trình đã được quy định, nội dung đã được biên soạn trong SGK
nhưng được lựa chọn những phương pháp, cách thức triển khai bài dạy phù hợp với
điều kiện thực tế của nhà trường và đặc thù của HS ở địa phương. Điều này đòi hỏi
GV phải suy nghĩ, vận dụng khéo léo những tri thức chuyên ngành sao cho phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lí của mỗi cá nhân HS. Có thể hiểu GV cần tuân theo những
nguyên tắc, quy trình đã được thiết kế trong SGK và được chủ động, sáng tạo những
chi tiết cho phù hợp với hoàn cảnh, hướng đến việc đảm bảo được đúng mục tiêu cần
đạt của bài học.
b. Những quan điểm biên soạn cụ thể ở SGK Mĩ thuật 7
– Các nội dung giáo dục trong mỗi bài được thực hiện dưới dạng các hoạt động theo
một cấu trúc xác định. Những câu lệnh được sử dụng thể hiện yêu cầu mà HS cần phải
thực hiện. Theo cách này, SGK Mĩ thuật 7 có thể dùng để HS tự học, để phụ huynh hỗ
trợ con em học tập và để GV tổ chức hoạt động dạy học.
– Các kĩ năng của môn học Mĩ thuật như tạo hình 2D, 3D, trang trí, thảo luận, vận
dụng làm đẹp trong cuộc sống,... được dạy học tích hợp trong một chủ đề (ở 2 dạng
bài cơ bản), theo trình tự những gì quan sát được từ cuộc sống xung quanh sẽ làm cơ
sở cho khả năng tái hiện lại bằng các hình thức tạo hình như vẽ, nặn, xé, dán, uốn,...;
những SPMT được tạo ra sẽ làm cơ sở cho hoạt động trao đổi, thảo luận; những kiến
thức, kĩ năng được học sẽ được vận dụng làm đẹp đồ vật trong cuộc sống.
– Thiết kế nội dung mỗi bài trong thời lượng 2 tiết đảm bảo đủ thời gian cho HS
thực hiện SPMT theo yêu cầu. Điều này nhằm khơi gợi hứng thú tìm tòi, khám phá
cũng như bồi dưỡng khả năng tưởng tượng, sáng tạo của HS. Bên cạnh đó, sách chú
trọng khai thác hiệu quả những giá trị nghệ thuật tạo hình từ di sản văn hoá nghệ
thuật truyền thống để HS có thể hiểu hơn về bản sắc văn hoá nghệ thuật của dân tộc,
cũng như trong di sản mĩ thuật thế giới cùng thời kì.
2.2. Giới thiệu, phân tích cấu trúc sách
SGK Mĩ thuật 7 được xây dựng trên cơ sở bám sát các nội dung, yêu cầu cần đạt
của Chương trình giáo dục phổ thông môn Mĩ thuật năm 2018. Trong đó, chú trọng
phát triển năng lực chung ở cấp THCS như: tự chủ, tự học, giao tiếp và hợp tác nhóm,
giải quyết vấn đề và sáng tạo. Cụ thể hơn, các năng lực như: tự điều chỉnh tình cảm,
thái độ, hành vi; thích ứng với cuộc sống, xây dựng được mục đích và phương thức
hợp tác; hình thành và triển khai ý tưởng mới, tư duy độc lập,... Từ đó, môn học
hướng tới hình thành các năng lực đặc thù (quan sát và nhận thức thẩm mĩ, sáng tạo
và ứng dụng thẩm mĩ, phân tích và đánh giá thẩm mĩ) với các nội dung, HĐ.
6
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
NăQJ OӵF QKұQ WKӭF ViQJ
WҥRSKkQWtFKӭQJGөQJWKҭP
Pƭ KѭӟQJ WӟL JL~S +6 FҧP
QKұQÿѭӧFYҿÿҽSFӫDÿӕLWѭӧQJ
WKҭP Pƭ QKұQ ELӃW ÿѭӧF ê
WѭӣQJ WKҭP Pƭ JLi WUӏ FӫD VҧQ
SKҭPWiFSKҭPPƭWKXұWWURQJ
ÿӡL VӕQJ 7ӯ ÿy ELӃW OLrQ KӋ
JLiWUӏWKҭPPƭӣVҧQSKҭPWiF
SKҭP Pƭ WKXұW GL VҧQ YăQ KRi
QJKӋ WKXұW YӟL WKӵF KjQK ViQJ
WҥR &iF QăQJ OӵF Qj\ ÿѭӧF
NKDL WKiF WKӇ KLӋQ ӣ FiF +Ĉ
KӑFQKѭWuPKLӇXYҿÿҽSWURQJ
WUDQK WƭQK YұW Yҿ ÿҽS GL WtFK
WURQJPӝWVӕWiFSKҭPPƭWKXұW
WURQJWKLӃWNӃWHPEѭXFKtQKFӫD
9LӋW 1DP NK{QJ NKt VXP KӑS
JLDÿuQKWURQJPӝWVӕWiFSKҭP
PƭWKXұW4XDFiF+ĈKӑFÿy
QăQJOӵFSKiWWULӇQWѭGX\ViQJ
WҥR JL~S +6 QrX ÿѭӧF ê WѭӣQJ
WKӇKLӋQÿӕLWѭӧQJWKҭPPƭOӵD
FKӑQÿѭӧFKuQKWKӭFWKӵFKjQK
ViQJWҥRWKӇKLӋQêWѭӣQJWKҭP
PƭYұQGөQJÿѭӧFPӝWVӕ\ӃX
Wӕ QJX\rQ Ot WҥR KuQK Yj Vӱ
GөQJÿѭӧFPӝWVӕF{QJFөWKLӃW
Eӏ F{QJ QJKӋ WURQJ WKӵF KjQK
ViQJWҥR
Trong Mĩ thuật 7, HS thể hiện không gian trong tranh theo lối vẽ thuỷ mặc; vẽ mô
phỏng tĩnh vật chất liệu chì, màu; tạo một SPMT mô phỏng vẻ đẹp di tích bằng hình
thức đắp nổi đất nặn; thiết kế một con tem bưu chính, thiết kế logo lớp học, làm tranh
cổ động, làm sản phẩm từ vật liệu sẵn có,... Có thể thấy, năng lực ứng dụng thẩm mĩ
được HS thực hành qua các nội dung như: cùng nhóm vẽ tranh cổ động tuyên truyền
bỏ rác đúng nơi quy định; tạo một SPMT khung ảnh để trang trí trong gia đình và làm
đẹp góc học tập của bản thân; vẽ một bức tranh nhân ngày Quốc tế gia đình hay thiết
kế một bộ trang phục,...
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
7
Những nội dung này đáp ứng yêu cầu cần đạt cho HS, cũng như phát huy, kết nối
được kiến thức, năng lực với các HĐ khác như: trưng bày, giới thiệu SPMT của cá
nhân và nhóm học tập; vận dụng được sản phẩm, tác phẩm nghệ thuật phục vụ cho
học tập và đời sống.
SGK Mĩ thuật 7 gồm có 8 chủ đề và 16 bài học. Mỗi chủ đề gồm 2 bài, thường thiết
kế 2 bài học thuộc 2 lĩnh vực: mĩ thuật tạo hình và mĩ thuật ứng dụng, phân bổ nội
dung đảm bảo tỉ lệ 50% dành cho mĩ thuật tạo hình, 40% dành cho mĩ thuật ứng dụng
(tương đương với 32 tiết) và 10% dành cho kiểm tra, đánh giá (tương đương 3 tiết).
2.3. Cấu trúc mỗi chủ đề, bài học và các mạch kiến thức
Cấu trúc mỗi bài học trong chủ đề được thể hiện ở bốn mục lớn: Quan sát – Thể hiện –
Thảo luận – Vận dụng, phân bổ theo logic giúp HS làm quen và tiếp cận ban đầu với bài
học (HĐ quan sát), từ đó, hướng HS thể hiện đối tượng theo sự hiểu biết cá nhân, giúp
hình thành kiến thức, kĩ năng mới gắn với bài học (HĐ thể hiện). Hai HĐ ban đầu
này có tính chất khá quan trọng trong phát triển năng lực tự chủ, tự học, hình thành
và triển khai ý tưởng mới và có tư duy độc lập,... Hai HĐ tiếp theo là thảo luận và vận
dụng giúp HS luyện tập, củng cố lại nội dung, mục tiêu cần đạt được của bài học, từ
đó làm nền tảng sử dụng những kiến thức, kĩ năng trong bài học để giải quyết những
vấn đề của cuộc sống liên quan đến môn học. Ở HĐ thảo luận, HS luôn có cơ hội được
trưng bày SPMT đã hoàn thành, trao đổi và thực hiện các nội dung/câu hỏi theo một
số yêu cầu, gợi ý cụ thể. HĐ vận dụng giúp HS sử dụng kiến thức đã được học trong
bài, chủ đề để tìm hiểu yếu tố tạo hình, nguyên lí tạo hình trong tác phẩm cụ thể như
tác phẩm: Quang cảnh Tô-lê-đô, Quý bà và con chồn; tìm hiểu và phân tích ý nghĩa các
logo, một bảo vật quốc gia cụ thể; khai thác màu sắc, hoa văn của mĩ thuật ứng dụng
thời kì trung đại trên thế giới để trang trí đồ chơi cũ em yêu thích; sưu tầm tác phẩm
mĩ thuật thể hiện rõ nguồn sáng,...
Tính hệ thống này còn giúp GV (hay CBQLGD) kiểm soát được quá trình lĩnh hội,
để có thể hỗ trợ kịp thời cho HS. Cụ thể là: đối với GV, nếu HS không thể hiện được
đối tượng thẩm mĩ của bài học (mục 2) thì HĐ ở mục 1 (quan sát, phân tích) làm chưa
tốt. Nếu HS khi thực hiện mục 3 không tốt thì HĐ ở mục 1, 2 chưa kĩ. Nếu HS thực
hiện HĐ ở mục 4 khó khăn chứng tỏ HĐ ở mục 1, 2, 3 chưa hiểu đúng, đủ. Điều này
giúp GV có thể hỗ trợ, can thiệp kịp thời căn cứ trên mỗi HS. Đối với CBQLGD, khi
dự giờ, thông qua HĐ học tập của HS ở từng mục, có thể biết GV dạy đã đúng và HS
có thực sự hiểu và học được không.
Mạch kiến thức: Tiếp nối các nội dung về kiến thức, kĩ năng đã được học ở lớp 6,
trong các bài học mĩ thuật lớp 7, nhóm biên soạn tiếp tục tạo điều kiện để HS củng cố
và rèn luyện các kĩ năng đã có và được thực hiện từ cấp Tiểu học (vẽ, nặn, đắp nổi đất
nặn, làm mô hình, xé – dán), đồng thời gia tăng số lượng sản phẩm để củng cố kĩ năng
mới hình thành ở chương trình mĩ thuật lớp 6 (in độc bản). Chính vì vậy, có thể thấy
điều này sẽ được lặp lại trong một số SPMT có tính chất gợi ý cho HS như bài 13 về đề
8
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
tài gia đình trong sáng tạo mĩ thuật, với việc thông qua gợi ý bằng hình ảnh minh hoạ
các bước thể hiện một SPMT về đề tài gia đình bằng hình thức in tranh độc bản đã tạo
cơ hội cho HS củng cố các kĩ năng mới hình thành.
Bên cạnh đó, mạch kiến thức chú trọng bổ sung một số nội dung khác về nguồn
sáng trong tranh, tranh tĩnh vật, thiết kế tem, logo, thiết kế thời trang,... mở ra các kĩ
năng mới, có tính chất nâng cao hơn như: mô phỏng tĩnh vật bằng chì hay màu, vẽ
tranh thuỷ mặc bằng màu nước, mô phỏng tác phẩm mĩ thuật bằng hình thức yêu
thích,... Những điểm mới và khác biệt này, trong tương quan với SGK Mĩ thuật 6 và
các lớp ở cấp Tiểu học, nội dung bài học ở Mĩ thuật 7 được biên soạn để đảm bảo sự
phù hợp và đáp ứng yêu cầu cần đạt theo định hướng phát triển năng lực đã quy định
ở Chương trình giáo dục phổ thông môn Mĩ thuật năm 2018.
2.4. Một số bài học đặc trưng
Như trên đã trình bày, thông qua việc tạo nên các SPMT cụ thể, SGK Mĩ thuật 7 đã
cụ thể hoá nội dung, yêu cầu cần đạt trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Mĩ
thuật năm 2018 nhằm gắn kết tri thức của môn học với cuộc sống, giúp HS hình thành
năng lực mĩ thuật, lĩnh hội tri thức và làm được SPMT yêu thích,... Mỗi bài học trong
SGK Mĩ thuật 7 có những nội dung hấp dẫn, tạo hứng thú của các em đối với môn
học, từ đó hình thành thái độ, ý thức học tập một cách tích cực. Đây cũng là một trong
những cách tiếp cận môn học mới, hiện đại khi mà mọi giải pháp đều lấy HS làm trung
tâm và hướng đến phát triển năng lực của người học.
Về cơ bản, các bài học trong SGK Mĩ thuật 7 được thiết kế theo hai dạng bài chính:
mĩ thuật tạo hình và mĩ thuật ứng dụng. Trong đó, dạng bài mĩ thuật tạo hình hướng HS
hình thành kiến thức, kĩ năng liên quan đến việc sử dụng yếu tố/nguyên lí tạo hình để
thực hiện SPMT ở dạng 2D, 3D. Dạng bài mĩ thuật ứng dụng giúp HS làm quen với các
thể loại của mĩ thuật ứng dụng như: Thiết kế đồ hoạ; Thiết kế công nghiệp; Thiết kế thời
trang và làm một số sản phẩm như đồ chơi, đồ dùng học tập, quà tặng,...
Phần này, chúng tôi đưa ra 4 bài học đặc trưng cho 2 dạng bài đã nêu, bao gồm:
– Dạng bài mĩ thuật tạo hình
Bài 1. Mĩ thuật tạo hình thời kì trung đại
Bài 8. Tranh tĩnh vật
– Dạng bài mĩ thuật ứng dụng
Bài 6. Thiết kế logo
Bài 12. Tranh cổ động
Cụ thể:
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
9
Bài 1. Mĩ thuật tạo hình thời kì trung đại
Ở bài học lồng ghép nội dung lí luận và lịch sử mĩ thuật trong dạng bài mĩ thuật
tạo hình này, HS sẽ được làm quen với giá trị tạo hình của một số tác phẩm mĩ thuật
thời kì trung đại trên thế giới, cũng như cách mô phỏng một tác phẩm yêu thích
cùng thời kì này để củng cố, rèn luyện các kĩ năng liên quan.
10
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
Bài 8. Tranh tĩnh vật
Ở bài 8, HS được tìm hiểu về tranh tĩnh vật, từ đó gợi ý các bước để mô phỏng vật
mẫu ở dạng tĩnh bằng chất liệu chì hoặc màu, tạo cho HS hứng thú trong tìm hiểu
kiến thức và kĩ năng trong mô phỏng mẫu theo đúng quy trình và trình tự các bước
thực hiện.
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
11
Bài 6. Thiết kế logo
Ở bài này, HS được tìm hiểu và nhận biết về tính chất biểu tượng, giá trị thẩm mĩ
và thông tin truyền tải qua hình ảnh của logo thương hiệu. Từ đó biết tìm ý tưởng để
thiết kế được logo ở dạng đơn giản cho lớp học của mình. Hình ảnh và nội dung phân
tích chính là những gợi ý có tính chất gợi mở, hỗ trợ HS hình thành và phát triển ý
tưởng trong thể hiện, sáng tạo SPMT của mình.
12
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
Bài 12. Tranh cổ động
Trong bài học về tranh cổ động, HS hiểu được một cách cơ bản về những đặc điểm
của một bức tranh cổ động, đồng thời nhấn mạnh vào nguyên lí lặp lại của hình vẽ và
chữ trong thiết kế một tranh cổ động. Thông qua đó, truyền tải vẻ đẹp của kiến trúc
nhà trong các tranh cổ động, giúp HS có ý thức hơn trong xây dựng môi trường sống
của chính mình.
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
13
2.5. Khung kế hoạch dạy học
Khung kế hoạch dạy học môn Mĩ thuật lớp 7 (theo hình thức 1 buổi/tuần) như sau:
Tuần
Chủ đề
Từ tuần
1–4
Mĩ thuật thế giới
Từ tuần
5–8
thời kì trung đại
Vẻ đẹp di tích
Từ tuần
9 – 12
Yếu tố dân tộc
Từ tuần
13 –16
Vẻ đẹp trong tác
trong mĩ thuật
phẩm hội hoạ
Tuần 17
Từ tuần
18 – 21
Từ tuần
22 – 25
Từ tuần
26 – 29
Từ tuần
30 – 33
Tuần
34 – 35
14
Bài học
Mĩ thuật tạo hình thời kì trung đại
2
Mĩ thuật ứng dụng thời kì trung đại
2
Hình ảnh di tích trong sáng tạo mĩ thuật
2
Hình ảnh di tích trong thiết kế tem bưu
chính
2
Yếu tố dân tộc trong tranh của một số
hoạ sĩ
2
Thiết kế logo
2
Không gian trong tác phẩm hội hoạ thế
giới thời kì trung đại
2
Tranh tĩnh vật
2
KIỂM TRA, TRƯNG BÀY CUỐI HỌC KÌ I
Hiện thực cuộc
Số tiết
1
Tìm hiểu nguồn sáng trong tranh
2
tạo mĩ thuật
Thiết kế tạo mẫu trang phục
2
Tạo hình ngôi
Tạo hình ngôi nhà từ vật liệu sẵn có
2
tạo mĩ thuật
Tranh cổ động
2
Sum họp gia
Đề tài gia đình trong sáng tạo mĩ thuật
2
đình
Thiết kế khung ảnh từ vật liệu sẵn có
2
Mĩ thuật Việt
Di sản mĩ thuật Việt Nam thời kì trung đại
2
Nam thời kì
Khai thác giá trị tạo hình truyền thống
trong trang trí đồ vật
2
sống trong sáng
nhà trong sáng
trung đại
KIỂM TRA, TRƯNG BÀY CUỐI NĂM
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
2
Căn cứ theo điều kiện dạy học tại địa phương, GV có thể bố trí dạy học theo hình
thức 1 buổi/tuần hay 2 buổi/tuần một cách linh hoạt, để đảm bảo đủ 35 tiết/năm học
và đảm bảo thời gian kiểm tra, trưng bày cuối học kì I, cuối năm đúng theo kế hoạch
của nhà trường.
3
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC/TỔ CHỨC HĐ
3.1. Định hướng, yêu cầu cơ bản về đổi mới phương pháp dạy học môn Mĩ thuật
đáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực
Căn cứ theo nội dung dạy học đã được xác lập theo Chương trình giáo dục phổ thông
môn Mĩ thuật năm 2018, phương pháp dạy học mĩ thuật cần có sự thay đổi cho phù hợp
với chương trình mới, theo định hướng phát triển năng lực của HS. Phương pháp dạy
học mĩ thuật theo hướng tích hợp hướng đến việc hình thành, phát triển được các kĩ
năng sau: Một là, HS được trải nghiệm và trình bày hiểu biết của mình thông qua tác
phẩm, SPMT. Hai là, HS chủ động tạo ra những SPMT, cũng như hình thành thái độ
hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm với các thành viên trong nhóm. Ba là, HS biết cách biểu
đạt ý kiến, ấn tượng và cảm giác của bản thân trước sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật. Bốn
là, HS hiểu, phân tích và diễn giải các yếu tố cấu thành của mĩ thuật theo các mức độ
khác nhau.
Chính những kĩ năng này là điều kiện cần và đủ để hình thành năng lực thẩm mĩ
cho HS, thể hiện ở các phương diện sau: Một là, nhận biết cái đẹp. HS nhận biết được
cái đẹp/cái xấu trong tự nhiên, đời sống xã hội và nghệ thuật; có cảm xúc và biết bày
tỏ cảm xúc trước cái đẹp và cái chưa đẹp trong cuộc sống xung quanh. Hai là, phân
tích, đánh giá cái đẹp. HS mô tả được cái đẹp, biết so sánh, nhận xét về biểu hiện bên
ngoài của cái đẹp, cái chưa đẹp với mức độ đơn giản. Ba là, tạo ra cái đẹp. HS biết mô
phỏng, tái hiện được vẻ đẹp quen thuộc bằng hình thức, công cụ, phương tiện, ngôn
ngữ biểu đạt,... phù hợp ở mức độ đơn giản; có ý tưởng sử dụng kết quả học tập/sáng
tạo thẩm mĩ để làm tăng thêm vẻ đẹp cho cuộc sống hằng ngày của bản thân. Phương
pháp và hình thức tổ chức dạy học, nhấn mạnh việc sử dụng đa dạng chất liệu, vật liệu
sưu tầm trong thực hành, sáng tạo; chú trọng việc tích hợp và lồng ghép HĐ thảo luận
với thực hành. Theo đó, HS vừa là người sáng tạo nghệ thuật, vừa là người thưởng thức
nghệ thuật. Cụ thể:
– Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của
người học. Cần tích hợp, lồng ghép lí thuyết, thực hành và thảo luận nghệ thuật; chú
trọng tổ chức, định hướng các HĐ học tập, thực hành, sáng tạo thông qua trải nghiệm
đa giác quan, đa dạng không gian và hình thức HĐ học tập.
– Phương pháp giáo dục kích thích trí tưởng tượng, tư duy hình ảnh thẩm mĩ, huy
động kiến thức, kinh nghiệm của HS; kết hợp liên hệ, kiến thức, kĩ năng của môn Mĩ
thuật với kiến thức, kĩ năng của các môn học, HĐ giáo dục khác và những vấn đề gắn với
thực tiễn (ở địa phương, trong cuộc sống,...) một cách phù hợp, thiết thực, tạo cơ hội để
HS được vận dụng kiến thức, kĩ năng cũng như đưa các sản phẩm sáng tạo vào đời sống.
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
15
– Phương pháp giáo dục hướng đến phát triển khả năng giải quyết vấn đề, tư duy
độc lập, phân tích, phản biện thẩm mĩ; tăng cường vận dụng các chất liệu, vật liệu sẵn
có ở địa phương, vật liệu sưu tầm, tái sử dụng; phối hợp sử dụng các công cụ, phương
tiện học tập với việc khai thác, sử dụng thiết bị công nghệ, nguồn internet một cách
phù hợp trong tiến trình dạy học, giáo dục. Dạy học mĩ thuật hướng tới mục tiêu lấy
HS làm trung tâm, kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức,
phát triển năng lực và phẩm chất cho HS một cách toàn diện nhằm giúp các em có thể
hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi. Sáng tạo mĩ thuật để qua đó biểu đạt bản
thân: suy nghĩ, tình cảm, mong muốn,...; hiểu, cảm nhận và phản ánh được nội dung
của sản phẩm/tác phẩm mĩ thuật bằng cách giới thiệu, phân tích, đánh giá; giao tiếp/
trao đổi, tiếp nhận ý tưởng và ý nghĩa thông qua sản phẩm/tác phẩm mĩ thuật.
HS lớp 7 trường THCS Thái Thịnh, Hà Nội trong giờ dạy thực nghiệm môn Mĩ thuật
3.2. Gợi ý phương pháp, cách thức tổ chức dạy học
SGK Mĩ thuật 7 sử dụng một số phương pháp dạy học truyền thống kết hợp với
một số phương pháp dạy học mới theo quan điểm dạy học tích cực, cụ thể: phương
pháp trực quan (quan sát bài vẽ, tranh ảnh minh hoạ, mẫu); phương pháp vấn đáp, gợi
mở (gợi mở ý tưởng,...); phương pháp hợp tác nhóm; phương pháp hình học; phương
pháp mô phỏng; phương pháp vẽ theo trí nhớ; phương pháp dạy học tích hợp, dạy
học theo chủ đề; dạy học khám phá; dạy học thực hành, sáng tạo; dạy học đa phương
tiện,... Ngoài ra, SGK Mĩ thuật 7 còn kết hợp một số kĩ thuật dạy học như:
¾
Động não: Kĩ thuật phát huy khả năng quan sát, tìm hiểu chủ đề Æ phù hợp
phần quan sát, thảo luận, trao đổi nhóm qua việc đặt câu hỏi.
¾
Khăn trải bàn: Kĩ thuật tổ chức HĐ mang tính hợp tác, thúc đẩy sự tích cực,
trách nhiệm, tương tác của các cá nhân Æ dùng trong phần thực hành nhóm.
16
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
¾
Phòng tranh: Nhóm HS viết ý tưởng lên giấy, lên bảng,... HS cùng trao đổi tìm
phương án tối ưu.
¾
Công đoạn: Nhóm trưởng trao đổi cùng thực hiện một sản phẩm, sau đó, phân
công các thành viên thực hiện và ghép sản phẩm cá nhân thành nhóm.
¾
Đặt câu hỏi: Lưu ý câu hỏi liên quan đến thực hiện mục tiêu chủ đề, ngắn gọn;
phù hợp năng lực, vốn kinh nghiệm của HS, tránh dùng câu hỏi đa nghĩa, gây
khó với HS.
Để đạt được những năng lực mĩ thuật trong môn học, cũng như phù hợp với tính
mở trong Chương trình môn Mĩ thuật, GV vận dụng một cách có hiệu quả các phương
pháp dạy học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực, kết hợp với các phương pháp
mới cho phù hợp với nội dung, hướng tới mục tiêu đa dạng trong cách giải quyết vấn
đề mà mỗi chủ đề/bài học đặt ra. Như vậy, theo Chương trình giáo dục phổ thông năm
2018, GV được thực sự trao quyền chủ động, linh hoạt và điều này mới giúp các thầy
cô có thể sáng tạo trong dạy học. Theo đó, phương pháp dạy học môn Mĩ thuật có hai
vấn đề chính: Một là, bằng các kĩ thuật dạy học, GV nêu vấn đề và giúp HS phát hiện
vấn đề qua những tình huống trong học tập và trong cuộc sống. Hai là, với những vấn
đề phát hiện được, HS có nhiều cách để giải quyết thông qua bài thực hành và mỗi
cách giải quyết phản ánh nhận thức, kĩ năng của HS. Việc GV giúp HS hình thành kĩ
năng phát hiện vấn đề là quá trình giúp cho HS làm quen với kĩ năng tìm hiểu mối
liên hệ, đặc trưng của sự vật, hiện tượng có vấn đề. Đây là một kĩ năng có ý nghĩa rất
quan trọng đối với HS trong môn Mĩ thuật và phải rèn luyện một quá trình mới có
thể hình thành được. Đặc trưng cơ bản của việc dạy HS phát hiện và giải quyết vấn đề
là GV có thể đưa ra những “tình huống gợi vấn đề” để HS thảo luận, trao đổi và giải
quyết. Khi đó, bài dạy không chỉ giúp HS có năng lực phát hiện kịp thời những vấn đề
nảy sinh trong thực tiễn, mà bước quan trọng tiếp theo là giải quyết hợp lí những vấn
đề được đặt ra. Với cách tiếp cận này, HS không phải gò cảm xúc của mình vào một
khuôn mẫu nhất định, bởi mỗi cá nhân trong hoàn cảnh, điều kiện khác nhau thì có
cảm xúc và những cách bộc lộ cảm xúc khác nhau. Điều này giúp hạn chế việc mặc
định một mẫu số chung trong thể hiện cảm xúc, cũng như giúp HS thoải mái sáng tạo
hơn trong việc hình thành các ý tưởng riêng. Trong thực hành, HS có thể vẽ tranh hay
dùng hình thức nặn, xé, dán, thậm chí có thể kết hợp hình thức đắp nổi và tạo khối để
thể hiện cảm xúc của mình. Rõ ràng, với cách thức này, HS có cơ hội phát triển khả
năng tìm tòi, xem xét một vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau và điều này được thừa
nhận trong lĩnh vực giáo dục nghệ thuật. Việc khuyến khích HS trong khi phát hiện
và giải quyết vấn đề sẽ huy động được tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác,
trao đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất. Thông qua việc
giải quyết vấn đề của bài học, HS được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp thực
hiện, do đó việc dạy mĩ thuật không chỉ thuộc phạm trù phương pháp mà đã trở thành
một mục đích dạy học, cụ thể hoá thành một mục tiêu giáo dục là phát triển năng lực
giải quyết vấn đề. Những phương pháp này đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thời gian và
công sức, phải có năng lực sư phạm tốt để suy nghĩ tạo ra được nhiều tình huống gợi
vấn đề và hướng dẫn HS tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề. Hay có thể hiểu, GV
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA MÔN MĨ THUẬT LỚP 7
17
dạy Mĩ thuật phải nắm vững các phương pháp, kĩ thuật dạy mĩ thuật cơ bản để chủ
động vận dụng một cách linh hoạt vào tiết dạy của mình, sao cho tri thức và kĩ năng
mà HS lĩnh hội được sẽ giúp các em hình thành những năng lực thẩm mĩ, nâng cao
tư duy trong lĩnh vực này. Một điều nữa cần đề cập đến là việc cho HS chủ động phát
hiện và giải quyết vấn đề trong môn Mĩ thuật không chỉ giúp HS tích cực tham gia vào
việc học, đạt kết quả cao mà điều quan trọng hơn là giúp HS hình thành kĩ năng phát
hiện và giải quyết vấn đề.
Để chủ động lựa chọn sử dụng phương pháp dạy học đạt được mục tiêu đề ra, GV
cần tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề theo hướng:
– Các nhóm HS có thể giải quyết cùng một vấn đề, tình huống hoặc các vấn đề, tình
huống khác nhau, căn cứ theo mục đích của HĐ.
– GV cần hướng dẫn HS xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết. Trong HĐ
nhóm, GV cần phân bổ thời gian cho nhóm thảo luận để liệt kê ra những cách thức có
thể sử dụng để giải quyết vấn đề.
– GV cần tìm hiểu đúng mục đích, mục tiêu của bài dạy để có cách tạo tình huống,
gợi vấn đề và tận dụng các cơ hội để tạo ra tình huống phù hợp, đồng thời tạo điều
kiện để HS ...
 





