Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1
CHÂM NGÔN HAY
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tài liệu bồi dưỡng Ngữ văn 7

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 14h:41' 01-03-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 14h:41' 01-03-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XUẤT BẢN – THIẾT BỊ GIÁO DỤC VIỆT NAM
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA
NGỮ VĂN 7
CÁNH DIỀU
HÀ NỘI – 2022
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 – CÁNH DIỀU
MỤC LỤC
Phần thứ nhất. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. CHƯƠNG TRÌNH MÔN NGỮ VĂN
5
1. Chương trình 2018: mục tiêu và yêu cầu đổi mới cách dạy
5
2. Quy định của Chương trình Ngữ văn 2018 đối với lớp 7
8
3. Sự thống nhất về Chương trình và đa dạng hoá sách giáo khoa
11
II. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7
16
1. Đội ngũ tác giả
16
2. Quan điểm biên soạn sách Ngữ văn 7
16
3. Cấu trúc sách Ngữ văn 7
18
Phần thứ hai. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
27
1. Quan niệm về sách giáo viên
27
2. Về tiến trình dạy học
28
3. Về sự khác biệt giữa Đọc hiểu, Thực hành đọc hiểu và Tự đánh giá
28
4. Về phân bổ thời lượng trong các bài
28
II. DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
29
1. Dạy đọc theo thể loại và kiểu văn bản
29
2. Dạy đọc hiểu văn bản văn học
30
3. Dạy đọc hiểu văn bản nghị luận
37
4. Dạy đọc hiểu văn bản thông tin
38
III. DẠY TIẾNG VIỆT
40
1. Kế thừa cách dạy học tiếng Việt
40
2. Cách dạy tiếng Việt trong sách Ngữ văn 7
41
|3
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
IV. DẠY VIẾT
1. Dạy viết văn bản
42
2. Dạy học sinh tập làm thơ
44
V. DẠY NÓI VÀ NGHE
45
1. Quy định của Chương trình Ngữ văn 2018
42
2. Cách dạy nói và nghe
46
VI. DẠY ĐỌC VÀ VIẾT CHO HỌC SINH VÙNG KHÓ
47
1. Dạy đọc
47
2. Dạy viết
48
VII. KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
4|
42
50
1. Yêu cầu của Chương trình Ngữ văn 2018 về đánh giá
50
2. Đánh giá trong sách Ngữ văn 7
50
3. Gợi ý về việc kiểm tra, đánh giá với Ngữ văn 7
51
4. Giới thiệu một số đề kiểm tra giữa học kì
52
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 – CÁNH DIỀU
Phần thứ nhất
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. CHƯƠNG TRÌNH MÔN NGỮ VĂN
1. Chương trình 2018: mục tiêu và yêu cầu đổi mới cách dạy
Chương trình (CT) Ngữ văn 2018 ra đời với mục tiêu nhằm khắc phục các hạn chế của
việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường và đáp ứng yêu cầu mới. Cụ thể: tập trung hình thành,
phát triển năng lực đọc, viết cho học sinh (HS) theo hướng mới với những kì vọng mới.
Mục tiêu ấy đòi hỏi cần chuyển từ dạy học theo nội dung sang dạy học theo hướng phát
triển phẩm chất và năng lực. Dạy học phát triển năng lực không hướng đến việc cung cấp
thật nhiều kiến thức ngôn ngữ và văn học mà quan tâm đến việc vận dụng những kiến thức
ấy, quan tâm đến năng lực thực hiện của người học.
Theo đó, cái đích cuối cùng của việc học Ngữ văn là HS biết sử dụng tiếng Việt một
cách hiệu quả, từ việc sử dụng ngôn ngữ tự nhiên qua giao tiếp hằng ngày đến đọc, viết,
nói và nghe các văn bản, từ văn bản thông thường đến văn bản văn học. HS cần có năng
lực tiếp nhận, giải mã cái hay, cái đẹp của văn bản văn học, thể hiện chủ yếu ở việc biết
đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật của các văn bản văn học; nhận biết, lí giải, nhận xét và đánh
giá được những đặc sắc về hình thức văn bản văn học; từ đó, biết tiếp nhận đúng và sáng
tạo các thông điệp nội dung (nghĩa, ý nghĩa, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng). HS có năng lực
văn học còn thể hiện ở khả năng tạo lập, biết cách biểu đạt (viết và nói) kết quả cảm nhận,
hiểu và lí giải giá trị thẩm mĩ của văn bản văn học; bước đầu có thể tạo ra được các sản
phẩm văn học.
Muốn đạt được mục tiêu nói trên, trước hết trong dạy đọc hiểu văn bản, giáo viên (GV)
cần phải chuyển từ cách dạy giảng văn sang dạy đọc hiểu; chuyển từ việc nói cho HS nghe
những gì thầy cô hiểu, yêu thích về tác phẩm sang hướng dẫn để các em biết tìm ra cái hay,
cái đẹp của tác phẩm theo cách nhìn và suy nghĩ cảm nhận của chính HS; chuyển từ việc
GV thuyết trình là chính sang tổ chức cho HS thực hành thông qua các hoạt động, bằng
các hoạt động.
Để hiểu tác phẩm, trước hết, HS phải tiếp xúc, làm việc với văn bản, chú ý quan sát
các yếu tố hình thức của văn bản, từ đó, có ấn tượng chung và tóm tắt được nội dung chính
của văn bản. HS được chủ động tìm kiếm, phát hiện, phân tích, bước đầu suy luận ý nghĩa
các thông tin, thông điệp, quan điểm, thái độ, tư tưởng, tình cảm, cảm xúc,... được gửi gắm
trong văn bản. Các em cần liên hệ, so sánh giữa các văn bản, bước đầu kết nối văn bản với
bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội; kết nối văn bản với trải nghiệm cá nhân HS,... để hiểu
sâu hơn giá trị của văn bản. Từ đó, biết vận dụng, chuyển hoá những giá trị ấy thành niềm
tin và hành vi ứng xử của cá nhân trong cuộc sống hằng ngày.
|5
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực đòi hỏi GV cần biết tổ chức các hoạt
động học tập, thông qua các hoạt động nhằm giúp các em tự khám phá và kiến tạo tri thức
cho mình. GV không thể nói suốt trong giờ dạy, nói say mê những điều mình biết về tác
phẩm ấy, mà cần hướng dẫn để HS biết cách tiếp cận, nắm được cách tìm hiểu một văn bản
theo đặc trưng thể loại. HS cần được rèn luyện về cách đọc, từ đọc có hướng dẫn đến đọc
độc lập, tự đọc được các văn bản – tác phẩm tương tự.
Với văn bản văn học, GV phải tập trung kích hoạt việc đọc tích cực, sáng tạo ở chủ thể
đọc. Hướng dẫn và khích lệ HS chủ động, tự tin, phát huy vai trò “đồng sáng tạo” trong
tiếp nhận tác phẩm; bước đầu biết so sánh đối chiếu, liên hệ mở rộng, huy động vốn hiểu
biết cá nhân, sử dụng trải nghiệm cuộc sống của bản thân để đọc hiểu, trải nghiệm văn học,
phát hiện những giá trị đạo đức, văn hoá và triết lí nhân sinh; từ đó, biết vận dụng, chuyển
hoá thành giá trị sống. GV cần có những gợi ý, nhưng không lấy việc phân tích, bình giảng
của mình thay thế cho những suy nghĩ của HS; tránh đọc chép và hạn chế ghi nhớ máy
móc. Cần sử dụng đa dạng các loại câu hỏi ở những mức độ khác nhau để thực hiện dạy
học phân hoá và hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản, hình thành kĩ năng đọc.
Tổ chức cho HS làm thông qua các hoạt động không có nghĩa là GV phó thác và mất
hết vai trò làm thầy trong giờ học, mà trái lại, dạy học phát triển năng lực đòi hỏi GV
phải nỗ lực rất nhiều. GV cần cố gắng trong việc thiết kế giáo án, trong việc hướng dẫn
tổ chức cho HS làm việc, nhắc nhở, uốn nắn những lệch lạc của HS trong tiếp nhận và
tạo lập văn bản, tham gia cùng HS phát biểu những suy nghĩ và cảm nhận của mình về
giá trị của tác phẩm,...
Với CT và sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn mới, dạy văn thực chất là dạy cho HS
phương pháp đọc hiểu. Đọc hiểu ở đây được hiểu một cách khá toàn diện. Đó là một quá
trình bao gồm việc tiếp xúc với văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm
ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ,
các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và cả các giá trị tự thân của hình
tượng nghệ thuật. Đọc hiểu là hoạt động quan trọng nhất để HS tiếp xúc trực tiếp với các
giá trị văn học. Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu
cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chính cũng như
chủ đề của tác phẩm. Lí giải là hiểu đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa xã hội nhân văn của
tác phẩm trong ngữ cảnh của nó. Trong quá trình học đọc, HS sẽ biết cách đọc để tích luỹ
kiến thức, đọc để lí giải, đọc để đánh giá và đọc sáng tạo, phát hiện. HS sẽ học cách trích
câu hay trích chi tiết, trích ý, học cách thuyết minh, thuật lại nội dung văn bản đã học. Hệ
thống văn bản được lựa chọn nhằm thực hiện việc đào tạo năng lực đọc hiểu, qua đó, vừa
cung cấp tri thức văn học, văn hoá dân tộc; vừa giáo dục tư tưởng, tình cảm; vừa rèn luyện
kĩ năng đọc mà HS có thể mang theo suốt đời sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông
(THPT) để có thể đọc hiểu nhiều loại văn bản thông dụng trong đời sống.
6|
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 – CÁNH DIỀU
Đọc văn theo tinh thần đó thực chất là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản.
Muốn thế, HS phải được trang bị trên hai phương diện: những kiến thức để đọc văn và
phương pháp đọc văn. Những kiến thức và phương pháp này chỉ có thể có được qua việc
thực hành trong quá trình đọc văn thông qua các văn bản – tác phẩm cụ thể, tiêu biểu cho
các thể loại ở những giai đoạn khác nhau. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng của sách Ngữ văn
là tập trung hình thành cho HS cách đọc văn, phương pháp đọc hiểu theo thể loại và kiểu
văn bản. Tất nhiên, thông qua hệ thống văn bản – tác phẩm tiêu biểu (như là những văn
liệu, ngữ liệu), CT cung cấp và hình thành cho HS những kiến thức tiêu biểu về lịch sử văn
học, lí luận văn học, tác giả và tác phẩm văn học. Dạy đọc còn phải trang bị cho HS các
kiến thức tiếng Việt với tất cả các đơn vị và cấp độ ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ
pháp, đoạn văn, văn bản. Chính những đơn vị ngôn ngữ này tạo nên thế giới hình tượng
của tác phẩm văn học. Do đó, việc phân tích, cảm nhận tác phẩm văn học không thể không
dựa vào chúng. Nói cách khác, những kiến thức về lịch sử văn học, lí luận văn học, ngôn
ngữ học và các kiến thức về văn hoá tổng hợp đều trở thành kiến thức công cụ, là những
chìa khoá giúp cho HS đọc hiểu tác phẩm văn học có kết quả hơn.
Dạy viết có hai yêu cầu: dạy kĩ thuật viết và dạy viết đoạn văn, văn bản. Ngoài dạy kĩ
thuật viết đúng chính tả, ngữ pháp, mục đích quan trọng nhất của dạy viết theo yêu cầu
phát triển năng lực là rèn luyện tư duy và cách viết, qua đó, giáo dục phẩm chất và phát
triển nhân cách HS. Vì thế khi dạy viết, GV cần chú trọng yêu cầu tạo ra ý tưởng, triển
khai ý tưởng và biết cách trình bày ý tưởng, đảm bảo yêu cầu mạch lạc, sáng tạo và có sức
thuyết phục.
Nói và nghe là hai trong bốn kĩ năng giao tiếp cần rèn luyện cho HS. CT Ngữ văn 2018
số tiết dành cho kĩ năng nói và nghe rất ít, chỉ 10% tổng số thời lượng. Tuy nhiên, cần lưu
ý việc rèn luyện kĩ năng nói và nghe được thực hiện ở rất nhiều hình thức khác nhau: trong
kiểm tra bài cũ, phát biểu ý kiến xây dựng bài, trao đổi thảo luận, trong sinh hoạt lớp,... Có
thể coi số tiết 10% mà CT quy định được hiểu là dạy nói nghe có nội dung theo đề tài, chủ
đề bắt buộc. Cụ thể: đọc hiểu và viết nội dung gì thì nói – nghe sẽ tổ chức để HS rèn luyện
theo nội dung ấy.
Dạy nói – nghe không chỉ là kĩ năng nói và nghe mà còn là cơ hội để rèn giũa phẩm chất,
thái độ, tình cảm, lối sống có văn hoá cho HS. Vì thế, khi dạy nói và nghe, GV không chỉ
chú ý nội dung, mà quan trọng hơn là cần tập trung vào kĩ năng và thái độ khi nghe – nói.
GV cần tập trung vào yêu cầu hướng dẫn HS các bước tạo lập văn bản, thực hành viết
theo quy trình và đặc điểm của kiểu văn bản. Thông qua thực hành, GV hướng dẫn HS nắm
được quy trình tạo lập văn bản; xác định được mục đích và nội dung viết; giới thiệu các
nguồn tư liệu; hướng dẫn cách tìm ý tưởng và phác thảo dàn ý; yêu cầu viết văn bản. GV
cũng cần hướng dẫn HS tự chỉnh sửa và trao đổi dựa trên tiêu chí đánh giá bài viết; hướng
dẫn HS liên hệ với các văn bản ở phần đọc hiểu và văn bản bổ sung để nắm được đặc điểm
của các kiểu văn bản.
|7
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
Cuối cùng, không thể không chú ý tới việc đánh giá kết quả. Cách thức kiểm tra – đánh
giá tác động rất lớn vào cách dạy, cách học. Vì thế, cần có nhận thức đúng để thay đổi cách
ra đề kiểm tra, đề thi Ngữ văn trong nhà trường.
Định hướng chung của việc thay đổi đánh giá là chuyển từ yêu cầu đánh giá ghi nhớ
nội dung sang yêu cầu đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực viết, tức là đánh giá được
khả năng vận dụng tiếng Việt vào đọc và viết văn bản. Đề kiểm tra phải bám sát mục tiêu,
tính chất và yêu cầu của mỗi kì thi. Đề văn hay phải là đề văn đúng, phù hợp với trình độ
của HS, gợi được cảm xúc và hứng thú của người viết; đừng yêu cầu HS bàn những vấn
đề lí luận quá cao siêu, xa vời. Phải khơi dậy được khả năng tư duy độc lập, phát huy cá
tính sáng tạo của từng HS; vì thế, đề thi và đáp án không nên áp đặt những khuôn mẫu nhất
định. Cần khuyến khích những bài viết có sáng tạo; chống hiện tượng chép văn mẫu và học
thuộc tài liệu có sẵn, không dám bứt phá, vượt thoát sang một hướng nào khác.
2. Quy định của Chương trình Ngữ văn 2018 đối với lớp 7
2.1. Yêu cầu cần đạt
2.1.1. Về đọc
CT yêu cầu đọc ba loại: văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản thông tin.
– Văn bản văn học: HS cần biết đọc các thể loại tục ngữ, truyện ngụ ngôn, truyện khoa
học viễn tưởng, truyện nói chung (truyện ngắn, tiểu thuyết), thơ trữ tình (trong đó có thơ
bốn chữ, năm chữ do yêu cầu tập làm thể thơ này ở kĩ năng viết), tuỳ bút, tản văn.
Khi học các văn bản văn học, cần: a) Nêu được ấn tượng chung về văn bản; nhận biết
được các chi tiết tiêu biểu, đề tài, câu chuyện, nhân vật trong tính chỉnh thể của tác phẩm;
b) Nhận biết được chủ đề, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc; c) Nhận biết
được tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản; d) Nhận biết được
một số yếu tố của truyện như: sự kiện, tình huống, cốt truyện, nhân vật, không gian, thời
gian; e) Nhận biết được tính cách nhân vật thể hiện qua cử chỉ, hành động, lời thoại, qua ý
nghĩ của các nhân vật khác trong truyện, qua lời người kể chuyện; g) Nhận biết và nêu
được tác dụng của việc thay đổi kiểu người kể chuyện; h) Nhận biết và nhận xét được nét
độc đáo của bài thơ thể hiện qua từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, biện pháp tu từ; i) Nhận biết
được chất trữ tình, cái “tôi”, ngôn ngữ của tuỳ bút, tản văn; k) Tóm tắt được văn bản một
cách ngắn gọn; l) Nêu được những trải nghiệm trong cuộc sống giúp bản thân hiểu thêm
về tác phẩm văn học; m) Thể hiện được thái độ đồng tình hoặc không đồng tình với thái
độ, tình cảm và cách giải quyết vấn đề của tác giả.
– Văn bản nghị luận: Nghị luận phân tích một tác phẩm văn học và nghị luận về một
vấn đề đời sống xã hội. Khi học các văn bản nghị luận, cần: a) Nhận biết được các ý kiến,
lí lẽ, bằng chứng trong văn bản, chỉ ra mối liên hệ giữa các ý kiến, lí lẽ, bằng chứng; b)
Xác định được mục đích và nội dung chính của văn bản.
8|
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 – CÁNH DIỀU
– Văn bản thông tin: Giới thiệu một quy tắc hoặc luật lệ trong trò chơi hay hoạt động
với yêu cầu hiểu được tác dụng của cước chú và tài liệu tham khảo; nhận biết được cách
triển khai ý tưởng và thông tin trong văn bản. Khi học văn bản thông tin, cần: a) Nhận biết
được thông tin cơ bản của văn bản; b) Nhận biết được vai trò của các chi tiết trong việc thể
hiện thông tin cơ bản của văn bản.
2.1.2. Về viết
HS được rèn luyện theo quy trình viết và thực hành viết các kiểu văn bản với yêu cầu
cụ thể như sau:
– Viết được bài văn kể về sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử.
– Viết được bài văn biểu cảm; bước đầu biết làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ;
viết đoạn văn ghi lại cảm xúc của mình sau khi đọc một bài thơ bốn chữ, năm chữ.
– Bước đầu biết viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống; bước đầu biết viết
bài phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học.
– Bước đầu biết viết văn bản thuyết minh về một quy tắc, luật lệ trong trò chơi hay hoạt
động; viết được văn bản tường trình rõ ràng, đầy đủ, đúng quy cách.
– Biết tóm tắt một văn bản theo những yêu cầu khác nhau về độ dài.
2.1.3. Về nói và nghe
CT yêu cầu như sau:
– Trình bày được ý kiến về một vấn đề trong đời sống.
– Biết kể lại một truyện ngụ ngôn; biết sử dụng và thưởng thức những cách nói thú vị,
dí dỏm.
– Giải thích được quy tắc hoặc luật lệ trong một trò chơi hay hoạt động.
– Tóm tắt được các ý chính do người khác trình bày.
– Biết trao đổi một cách xây dựng, tôn trọng các ý kiến khác biệt.
– Biết thảo luận trong nhóm về một vấn đề gây tranh cãi.
2.2. Kiến thức
Để đạt được mục tiêu và các yêu cầu trên, cần thông qua các hệ thống kiến thức tiếng
Việt, văn học và văn bản sau đây.
2.2.1. Kiến thức tiếng Việt
– Thành ngữ và tục ngữ.
– Thuật ngữ.
– Nghĩa của một số yếu tố Hán Việt thông dụng.
– Ngữ cảnh và nghĩa của từ trong ngữ cảnh.
– Số từ, phó từ: đặc điểm và chức năng.
– Các thành phần chính và thành phần trạng ngữ trong câu.
|9
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
– Công dụng của dấu chấm lửng.
– Biện pháp tu từ nói quá, nói giảm – nói tránh.
– Liên kết và mạch lạc của văn bản.
– Văn bản tự sự, văn bản biểu cảm, văn bản nghị luận, văn bản thông tin.
– Ngôn ngữ của các vùng miền.
– Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ.
2.2.2. Kiến thức văn học
– Giá trị nhận thức của văn học.
– Mối liên hệ giữa chi tiết với chủ đề, cách xác định chủ đề văn bản; thái độ, tình cảm
của tác giả thể hiện qua văn bản.
– Hình thức của tục ngữ.
– Đề tài, sự kiện, tình huống, cốt truyện, không gian, thời gian, nhân vật của truyện ngụ
ngôn và truyện khoa học viễn tưởng.
– Người kể chuyện ngôi thứ nhất và người kể chuyện ngôi thứ ba; tác dụng của mỗi
kiểu người kể chuyện.
– Một số yếu tố hình thức của thơ bốn chữ, năm chữ.
– Chất trữ tình, cái “tôi”, ngôn ngữ của tuỳ bút, tản văn.
– Những trải nghiệm trong cuộc sống và việc hiểu văn học.
2.2.3. Hệ thống ngữ liệu
– Văn bản văn học: truyện ngụ ngôn, truyện ngắn, truyện khoa học viễn tưởng; thơ, thơ
bốn chữ, năm chữ; tuỳ bút, tản văn; tục ngữ.
– Văn bản nghị luận: nghị luận xã hội; nghị luận văn học.
– Văn bản thông tin: văn bản giới thiệu quy tắc, luật lệ trong trò chơi hay hoạt động;
văn bản tường trình.
LƯU Ý
Tất cả nội dung mục 2.1 là yêu cầu cần đạt (kết quả đầu ra) và mục 2.2 là hệ thống
kiến thức (nguyên liệu đầu vào). Hệ thống kiến thức chỉ là phương tiện để đạt được mục
tiêu. Việc biên soạn SGK, tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá,... tất cả đều phải dựa
vào các yêu cầu cần đạt nêu trên của CT. Kiến thức có thể thay đổi, bổ sung, thêm bớt,
nhưng kết quả cần đạt thì là yêu cầu bắt buộc của CT. Dạy bộ sách nào cũng phải đạt
được các yêu cầu đó. Kiểm tra, đánh giá không dựa vào một bộ sách cụ thể.
10 |
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 – CÁNH DIỀU
3. Sự thống nhất về Chương trình và đa dạng hoá sách giáo khoa
3.1. Cần phân biệt Chương trình và sách giáo khoa
CT môn Ngữ văn cũng như tất cả các môn học, đều do một tiểu ban soạn thảo trên cơ
sở thống nhất với CT tổng thể, được lấy ý kiến của các cơ sở giáo dục và xã hội, được Hội
đồng quốc gia thẩm định CT xem xét, thông qua và được ban hành bằng một văn bản quy
phạm pháp luật (thông tư của Bộ GD&ĐT). CT Tiếng Việt – Ngữ văn cũ (2006) được làm
từ các thời điểm khác nhau (Tiểu học – 1995, Trung học cơ sở (THCS) – 1998 và THPT –
2000); đến năm 2006, được hợp nhất, bổ sung chuẩn CT theo quy định của Luật Giáo dục
2005, nên được gọi là CT 2006. CT 2018 làm trong hai năm 2017 và 2018, được ban hành
cuối năm 2018 nên gọi là CT 2018.
CT Ngữ văn 2018 là CT mở, phục vụ cho chủ trương một CT, nhiều SGK; vì thế, chỉ
nêu lên mục tiêu, các yêu cầu cần đạt và một số nội dung cốt lõi của mỗi lớp, mỗi cấp. Trên
cơ sở quy định của CT, người biên soạn các bộ SGK tự quyết định lựa chọn ngữ liệu, sắp
xếp nội dung, hướng dẫn tổ chức hoạt động rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe.
Ví dụ, ba bộ SGK Ngữ văn lớp 7 mới sẽ có cách triển khai rất khác nhau, nhưng tất cả đều
phải hướng đến mục tiêu và đáp ứng được các yêu cầu cần đạt mà CT đã nêu lên. Chẳng
hạn, mục tiêu và yêu cầu cần đạt của đọc hiểu với lớp 7 là: “Nhận biết được một số yếu tố
của truyện ngụ ngôn và truyện khoa học viễn tưởng như: đề tài, sự kiện, tình huống, cốt
truyện, nhân vật, không gian, thời gian”. Với yêu cầu này, cả ba bộ SGK đều phải tuân thủ,
trước hết về thể loại, phải dạy cách đọc hiểu truyện ngụ ngôn và truyện khoa học viễn
tưởng và khi dạy phải chú ý giúp HS “nhận biết được các yếu tố như: đề tài, sự kiện, tình
huống, cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian”. Tương tự với yêu cầu “Nhận biết và
nêu được tác dụng của việc thay đổi kiểu người kể chuyện (người kể chuyện ngôi thứ nhất
và người kể chuyện ngôi thứ ba) trong một truyện kể” thì cả ba bộ SGK đều phải khai thác
về tác dụng của việc thay đổi kiểu người kể chuyện,...
Các yêu cầu khác về đọc hiểu, viết, nói và nghe đều là các yêu cầu chung cần tuân thủ,
nhưng biên soạn SGK và tổ chức dạy học như thế nào để đạt được mục tiêu, yêu cầu ấy có
thể rất khác nhau.
3.2. Từ Chương trình đến sách giáo khoa Ngữ văn
Với hầu hết các nước, CT Giáo dục phổ thông quốc gia chỉ có một. Từ CT quốc gia,
các địa phương (bang, khu vực, nhà trường) căn cứ vào thực tiễn để thiết kế CT địa phương
và CT nhà trường. CT địa phương và CT nhà trường thường tuân thủ CT quốc gia từ 80%
đến 90%; nội dung còn lại do địa phương tự điều chỉnh. Hầu hết các nước thực hiện chính
sách một CT, nhiều SGK. Và vì thế, CT trở thành cơ sở quan trọng nhất của việc dạy học,
từ biên soạn SGK, lựa chọn phương pháp và kiểm tra – đánh giá. SGK chỉ là một trong
những tài liệu dạy học quan trọng nhưng không bắt buộc. GV có thể dạy theo bất kì
|11
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
bộ sách nào và lấy tư liệu từ các nguồn khác nhau để hướng dẫn HS học hằng ngày, miễn
là đáp ứng được yêu cầu của CT.
Văn bản CT của mỗi nước trình bày có khác nhau, nhưng đã theo định hướng nhiều
SGK thì CT phải có tính “mở”. Tức là CT chỉ quy định “kết quả đầu ra” bằng các yêu cầu
cần đạt đối với HS. Từ yêu cầu cần đạt này, CT nêu lên một số kiến thức cốt lõi cần dạy
để đạt được các yêu cầu. Cái đích của dạy và học là yêu cầu cần đạt; còn dạy thông qua cái
gì, bằng cách nào là quyền của người soạn SGK và GV. Điều này giống như học ngoại
ngữ: HS học sách nào, giáo trình nào, học ở đâu, ai dạy,... không quan trọng, mà quan trọng
là cuối cùng HS nói – nghe lưu loát và đọc thông, viết thạo một ngoại ngữ nào đó.
Như thế, SGK chỉ là công cụ, phương tiện để giúp GV, HS dạy và học nhằm đạt được
mục tiêu, yêu cầu của CT. Vì thế, khi kiểm tra – đánh giá phải dựa vào yêu cầu cần đạt của
CT, không dựa vào một SGK cụ thể nào. CT Ngữ văn 2018 đã nêu rõ yêu cầu cần đạt ở
mỗi lớp về bốn kĩ năng giao tiếp: đọc, viết, nói và nghe với ba loại văn bản: văn học, nghị
luận và thông tin. Theo CT này, GV dạy sách nào cũng được, nhưng cuối năm lớp 7, HS
cần biết đọc truyện ngụ ngôn, truyện ngắn, truyện khoa học viễn tưởng, thơ, thơ bốn chữ,
năm chữ, tuỳ bút, tản văn; tục ngữ; biết đọc văn bản nghị luận văn học và nghị luận xã hội;
biết đọc văn bản thông tin giới thiệu quy tắc, luật lệ trong trò chơi hay hoạt động,...; biết
viết các kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm; bước đầu biết viết văn bản thuyết minh,
nghị luận. Tương tự như đọc và viết, HS phải biết nói và nghe đạt yêu cầu mà CT đã đề ra.
SGK phải tuân thủ CT, cụ thể hoá các yêu cầu của CT thông qua các văn bản và các
hoạt động đọc, viết, nói, nghe cụ thể. Để dạy cách đọc, SGK cần tổ chức cho HS học đọc
theo thể loại và kiểu văn bản. Mỗi bài học cần tập trung vào một thể loại chứ không chạy
theo nội dung như đề tài, chủ đề trong tác phẩm văn học. Tuy nhiên, dạy học Ngữ văn còn
có nhiệm vụ trang bị cho HS vốn văn học, văn hoá. Vì thế, ở mỗi thể loại, SGK cần lựa
chọn được những tác phẩm tiêu biểu cho văn học dân tộc và nhân loại. Việc giáo dục phẩm
chất, nhân cách được thông qua nội dung các tác phẩm cụ thể. Mỗi tác phẩm văn học đều
hàm chứa nhiều giá trị, nhiều ý nghĩa khó có thể khuôn vào một chủ đề duy nhất. GV cứ
hướng dẫn HS đọc hiểu tốt các văn bản – tác phẩm thì chính là vừa dạy cách đọc, vừa góp
phần giáo dục phẩm chất, nhân cách.
3.3. Lí luận văn học trong Chương trình và sách giáo khoa 2018
Trong các CT Ngữ văn truyền thống, lí luận văn học được dạy với hai yêu cầu: một là
học một số thuật ngữ văn học thông qua các bài giảng văn, phân tích tác phẩm như đề tài,
chủ đề, nhân vật, thể loại văn học; ví dụ, sơ lược về đặc điểm của các thể loại: thơ ngũ
ngôn, thơ thất ngôn, thơ lục bát, thơ song thất lục bát; một số khái niệm cơ bản về hình ảnh,
nhịp điệu, tiết tấu trong thơ (CT 2006, lớp 7),... Hai là học các bài lí luận văn học chuyên
về một vấn đề nào đó ở cấp THPT; ví dụ: chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, trào
lưu và khuynh hướng văn học,... (CT 2006, lớp 11); hoặc quá trình văn học, phong cách
văn học, giá trị văn học, tiếp nhận văn học (CT 2006, lớp 12);...
12 |
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 – CÁNH DIỀU
CT Ngữ văn 2018 thay đổi cách dạy lí luận văn học. Trước hết, cần trả lời câu hỏi: HS
biết các kiến thức lí luận văn học ấy để làm gì? Với hầu hết tất cả những người lao động
bình thường, điều quan trọng nhất là hiểu được văn bản – tác phẩm chứ không phải để biết
các tri thức lí luận văn học. Vì thế, lí luận văn học chỉ có ích khi giúp HS hiểu được văn
bản – tác phẩm. Có nghĩa là lí luận văn học phải trở thành phương tiện để giúp HS đọc
hiểu văn một cách tốt hơn, hiệu quả hơn, chứ không học các bài lí luận văn học lí thuyết
nặng nề, khó hiểu nhưng không giúp HS hiểu văn bản.
Theo định hướng trên, lí luận văn học trong CT Ngữ văn 2018 được thể hiện ngay trong
các yêu cầu cần đạt về các thể loại văn bản và các thành tố tạo nên văn bản văn học. lí luận
văn học có mặt ngay từ các lớp ở Tiểu học. Chẳng hạn với lớp 3 và 4, khi yêu cầu HS
“Nhận biết được đặc điểm của nhân vật thể hiện qua hình dáng, điệu bộ, hành động, lời
thoại”, tức là đã có lí luận văn học ít nhất ở hai khái niệm “nhân vật” và “lời thoại”. Đây
là yêu cầu của CT, còn việc thể hiện vào SGK như thế nào, bằng cách nào cho đơn giản,
dễ hiểu, phù hợp với HS độ tuổi này là tuỳ thuộc vào mỗi bộ SGK. Với sách Ngữ văn 7, lí
luận văn học thể hiện ở các bài đọc hiểu, trước hết là hệ thống thể loại và kiểu văn bản nêu
trong nhan đề 10 bài học. Tiếp đó là các thành tố của văn bản văn học được cài đặt trong
các bài đọc hiểu gắn với mỗi thể loại như: đề tài, sự kiện, tình huống, cốt truyện, nhân vật,
bối cảnh của truyện khoa học viễn tưởng,... Hoặc kiểu người kể chuyện và tác dụng của
việc thay đổi kiểu người kể chuyện được gắn với Bài 1. Tiểu thuyết và truyện ngắn,... Đọc
các yêu cầu cần đạt trong CT Ngữ văn 2018 sẽ thấy các kiến thức lí luận văn học thể hiện
rõ ở cả ba phương diện: i) Nội dung, với các khái niệm như: đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm
hứng,...; ii) Hình thức, với các khái niệm như: thể loại, cốt truyện, nhân vật, lời nhân vật,
lời người kể, điểm nhìn và ngôi kể,...; iii) Tiếp nhận văn học, với các yêu cầu HS biết liên
hệ, so sánh, kết nối với bối cảnh lịch sử, văn hoá, đặc biệt liên hệ với kinh nghiệm sống
của bản thân để hiểu văn bản – tác phẩm một cách sáng tạo, mang dấu ấn cá nhân. Một số
vấn đề lí luận văn học mang tính chuyên sâu chỉ được giới thiệu trong các chuyên đề tự
chọn ở cấp THPT.
Để dạy đọc hiểu văn bản văn học, GV cần tổ chức cho HS hiểu nội dung trong mối
quan hệ với các yếu tố hình thức là một yêu cầu căn bản đặt ra từ lâu. Với CT 2018, yêu
cầu ấy được thể hiện trực tiếp vào các yêu cầu cần đạt của mỗi bài học, buộc GV phải tổ
chức, hướng dẫn HS khai thác để hiểu văn bản. Đó không còn chỉ là một khuyến nghị nằm
ngoài, muốn làm hay không làm cũng được. Dạy lí luận văn học không còn là “dạy chay”
mà luôn phải gắn chặt với mỗi văn bản – tác phẩm cụ thể.
3.4. Lịch sử văn học trong Chương trình và sách giáo khoa 2018
Trong các CT Ngữ văn truyền thống, lịch sử văn học được dạy với hai yêu cầu: một
là học trực tiếp các bài khái quát văn học sử; hai là giảng văn các tác phẩm theo các giai
đoạn lịch sử từ dân gian đến trung đại và hiện đại. Từ cuối cấp THCS, HS học bài sơ lược
về văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử. Lên THPT, lịch sử văn học được học thông
qua các bài khái quát như Tổng quan nền văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử hoặc
|13
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
Khái quát văn học từ đầu thế kỉ XX đến 1945 và các bài khái quát về Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh,... Ngoài ra, mỗi bài học đều có phần Tiểu dẫn nêu
thông tin về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời,... thực chất đó cũng là lịch sử văn học.
Có thể thấy, với CT Ngữ văn truyền thống, lịch sử văn học là đối tượng cần dạy, cần
học; là yêu cầu cần đạt. Với CT Ngữ văn 2018, lịch sử văn học trở thành phương tiện để
giúp HS đọc hiểu văn bản. Cụ thể, HS sẽ không phải học các bài lịch sử văn học lí thuyết
nặng nề, nhiều khái niệm, thuật ngữ khó hiểu. Và quan trọng hơn, cần trả lời câu hỏi: HS
biết các kiến thức lịch sử văn học ấy để làm gì? Câu trả lời của CT Ngữ văn 2018 là phải
giúp HS đọc hiểu được văn bản một cách tốt hơn, hiệu quả hơn. Vì thế, những kiến thức
lịch sử văn học phải gắn với từng văn bản – tác phẩm, làm sáng tỏ và giúp cho việc hiểu
văn bản ấy.
CT Ngữ văn 2018 không yêu cầu dạy và học những bài khái quát như trước. Đến cuối
lớp 9 mới có yêu cầu HS “Vận dụng được một số hiểu biết về lịch sử văn học Việt Nam để
đọc hiểu văn bản văn học”, hoặc cuối lớp 12 mới yêu cầu “Vận dụng được kiến thức về
lịch sử văn học và kĩ năng tra cứu để sắp xếp một số tác phẩm, tác giả lớn theo tiến trình
lịch sử văn học; biết đặt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và bối cảnh hiện tại để có đánh
giá phù hợp”. Nghĩa là ở các lớp cuối cấp, HS mới cần có những hiểu biết về lịch sử văn
học nhưng vẫn không ngoài mục đích giúp cho việc đọc hiểu văn bản. Với ba tác gia
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Chí Minh, ở THPT mới có yêu cầu “Vận dụng được những
hiểu biết về tác giả để đọc hiểu một số tác phẩm của tác giả này”. Các văn bản đọc hiểu ở
tất cả các lớp không sắp xếp theo lịch sử văn học mà theo thể loại văn học Ví dụ: dạy đọc
hiểu truyện dân gian bên cạnh truyện hiện đại, truyện trung đại; truyện Việt Nam bên cạnh
truyện nước ngoài;... Các thể loại khác cũng tương tự.
Tuy tổ chức bài học theo thể loại nhưng SGK Ngữ văn vẫn chú trọng lịch sử văn học.
Các kiến thức văn học sử được thể hiện ở yêu cầu về bối cảnh ra đời của tác phẩm; chẳng
hạn với tác phẩm Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi) hoặc Buổi học cuối cùng (A. Đô-đê),
Búp xen xanh (Sơn Tùng), Hai vạn dặm dưới đáy biển (Giuyn Véc-nơ),... Việc vận dụng
các kiến thức lịch sử văn học như là công cụ và phương tiện giúp cho đọc hiểu được gắn
với yêu cầu “liên hệ, so sánh, kết nối” (yêu cầu số 3 của CT Ngữ văn 2018). Yêu cầu này
có trong mục đọc hiểu của tất cả các lớp. Theo đó, để dạy đọc hiểu một văn bản, GV cần
tổ chức cho HS biết liên hệ với bối cảnh lịch sử – văn hoá thời đại và hoàn cảnh ra đời của
mỗi tác phẩm; so sánh các bối cảnh, các điều kiện lịch sử khác nhau của các văn bản để
hiểu sâu hơn, nhận xét và đánh giá đúng hơn giá trị của mỗi văn bản.
3.5. Tính kế thừa và phát triển trong CT 2018
Đổi mới không có nghĩa là xoá đi tất cả, làm lại từ đầu; cũng không thể giữ nguyên
như cũ. Vì thế, cần làm rõ CT Ngữ văn 2018 kế thừa những gì của CT Ngữ văn 2006 và
đổi mới ở những điểm nào. Chúng tôi xin nêu mấy điểm khái quát sau đây.
a) CT môn Ngữ văn 2018 tiếp tục mục tiêu giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng tình cảm, phát
triển nhân cách cho HS, coi đây là thế mạnh của môn Ngữ văn trong giáo dục phẩm chất.
1...
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XUẤT BẢN – THIẾT BỊ GIÁO DỤC VIỆT NAM
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA
NGỮ VĂN 7
CÁNH DIỀU
HÀ NỘI – 2022
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 – CÁNH DIỀU
MỤC LỤC
Phần thứ nhất. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. CHƯƠNG TRÌNH MÔN NGỮ VĂN
5
1. Chương trình 2018: mục tiêu và yêu cầu đổi mới cách dạy
5
2. Quy định của Chương trình Ngữ văn 2018 đối với lớp 7
8
3. Sự thống nhất về Chương trình và đa dạng hoá sách giáo khoa
11
II. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7
16
1. Đội ngũ tác giả
16
2. Quan điểm biên soạn sách Ngữ văn 7
16
3. Cấu trúc sách Ngữ văn 7
18
Phần thứ hai. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
27
1. Quan niệm về sách giáo viên
27
2. Về tiến trình dạy học
28
3. Về sự khác biệt giữa Đọc hiểu, Thực hành đọc hiểu và Tự đánh giá
28
4. Về phân bổ thời lượng trong các bài
28
II. DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
29
1. Dạy đọc theo thể loại và kiểu văn bản
29
2. Dạy đọc hiểu văn bản văn học
30
3. Dạy đọc hiểu văn bản nghị luận
37
4. Dạy đọc hiểu văn bản thông tin
38
III. DẠY TIẾNG VIỆT
40
1. Kế thừa cách dạy học tiếng Việt
40
2. Cách dạy tiếng Việt trong sách Ngữ văn 7
41
|3
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
IV. DẠY VIẾT
1. Dạy viết văn bản
42
2. Dạy học sinh tập làm thơ
44
V. DẠY NÓI VÀ NGHE
45
1. Quy định của Chương trình Ngữ văn 2018
42
2. Cách dạy nói và nghe
46
VI. DẠY ĐỌC VÀ VIẾT CHO HỌC SINH VÙNG KHÓ
47
1. Dạy đọc
47
2. Dạy viết
48
VII. KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
4|
42
50
1. Yêu cầu của Chương trình Ngữ văn 2018 về đánh giá
50
2. Đánh giá trong sách Ngữ văn 7
50
3. Gợi ý về việc kiểm tra, đánh giá với Ngữ văn 7
51
4. Giới thiệu một số đề kiểm tra giữa học kì
52
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 – CÁNH DIỀU
Phần thứ nhất
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. CHƯƠNG TRÌNH MÔN NGỮ VĂN
1. Chương trình 2018: mục tiêu và yêu cầu đổi mới cách dạy
Chương trình (CT) Ngữ văn 2018 ra đời với mục tiêu nhằm khắc phục các hạn chế của
việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường và đáp ứng yêu cầu mới. Cụ thể: tập trung hình thành,
phát triển năng lực đọc, viết cho học sinh (HS) theo hướng mới với những kì vọng mới.
Mục tiêu ấy đòi hỏi cần chuyển từ dạy học theo nội dung sang dạy học theo hướng phát
triển phẩm chất và năng lực. Dạy học phát triển năng lực không hướng đến việc cung cấp
thật nhiều kiến thức ngôn ngữ và văn học mà quan tâm đến việc vận dụng những kiến thức
ấy, quan tâm đến năng lực thực hiện của người học.
Theo đó, cái đích cuối cùng của việc học Ngữ văn là HS biết sử dụng tiếng Việt một
cách hiệu quả, từ việc sử dụng ngôn ngữ tự nhiên qua giao tiếp hằng ngày đến đọc, viết,
nói và nghe các văn bản, từ văn bản thông thường đến văn bản văn học. HS cần có năng
lực tiếp nhận, giải mã cái hay, cái đẹp của văn bản văn học, thể hiện chủ yếu ở việc biết
đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật của các văn bản văn học; nhận biết, lí giải, nhận xét và đánh
giá được những đặc sắc về hình thức văn bản văn học; từ đó, biết tiếp nhận đúng và sáng
tạo các thông điệp nội dung (nghĩa, ý nghĩa, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng). HS có năng lực
văn học còn thể hiện ở khả năng tạo lập, biết cách biểu đạt (viết và nói) kết quả cảm nhận,
hiểu và lí giải giá trị thẩm mĩ của văn bản văn học; bước đầu có thể tạo ra được các sản
phẩm văn học.
Muốn đạt được mục tiêu nói trên, trước hết trong dạy đọc hiểu văn bản, giáo viên (GV)
cần phải chuyển từ cách dạy giảng văn sang dạy đọc hiểu; chuyển từ việc nói cho HS nghe
những gì thầy cô hiểu, yêu thích về tác phẩm sang hướng dẫn để các em biết tìm ra cái hay,
cái đẹp của tác phẩm theo cách nhìn và suy nghĩ cảm nhận của chính HS; chuyển từ việc
GV thuyết trình là chính sang tổ chức cho HS thực hành thông qua các hoạt động, bằng
các hoạt động.
Để hiểu tác phẩm, trước hết, HS phải tiếp xúc, làm việc với văn bản, chú ý quan sát
các yếu tố hình thức của văn bản, từ đó, có ấn tượng chung và tóm tắt được nội dung chính
của văn bản. HS được chủ động tìm kiếm, phát hiện, phân tích, bước đầu suy luận ý nghĩa
các thông tin, thông điệp, quan điểm, thái độ, tư tưởng, tình cảm, cảm xúc,... được gửi gắm
trong văn bản. Các em cần liên hệ, so sánh giữa các văn bản, bước đầu kết nối văn bản với
bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội; kết nối văn bản với trải nghiệm cá nhân HS,... để hiểu
sâu hơn giá trị của văn bản. Từ đó, biết vận dụng, chuyển hoá những giá trị ấy thành niềm
tin và hành vi ứng xử của cá nhân trong cuộc sống hằng ngày.
|5
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực đòi hỏi GV cần biết tổ chức các hoạt
động học tập, thông qua các hoạt động nhằm giúp các em tự khám phá và kiến tạo tri thức
cho mình. GV không thể nói suốt trong giờ dạy, nói say mê những điều mình biết về tác
phẩm ấy, mà cần hướng dẫn để HS biết cách tiếp cận, nắm được cách tìm hiểu một văn bản
theo đặc trưng thể loại. HS cần được rèn luyện về cách đọc, từ đọc có hướng dẫn đến đọc
độc lập, tự đọc được các văn bản – tác phẩm tương tự.
Với văn bản văn học, GV phải tập trung kích hoạt việc đọc tích cực, sáng tạo ở chủ thể
đọc. Hướng dẫn và khích lệ HS chủ động, tự tin, phát huy vai trò “đồng sáng tạo” trong
tiếp nhận tác phẩm; bước đầu biết so sánh đối chiếu, liên hệ mở rộng, huy động vốn hiểu
biết cá nhân, sử dụng trải nghiệm cuộc sống của bản thân để đọc hiểu, trải nghiệm văn học,
phát hiện những giá trị đạo đức, văn hoá và triết lí nhân sinh; từ đó, biết vận dụng, chuyển
hoá thành giá trị sống. GV cần có những gợi ý, nhưng không lấy việc phân tích, bình giảng
của mình thay thế cho những suy nghĩ của HS; tránh đọc chép và hạn chế ghi nhớ máy
móc. Cần sử dụng đa dạng các loại câu hỏi ở những mức độ khác nhau để thực hiện dạy
học phân hoá và hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản, hình thành kĩ năng đọc.
Tổ chức cho HS làm thông qua các hoạt động không có nghĩa là GV phó thác và mất
hết vai trò làm thầy trong giờ học, mà trái lại, dạy học phát triển năng lực đòi hỏi GV
phải nỗ lực rất nhiều. GV cần cố gắng trong việc thiết kế giáo án, trong việc hướng dẫn
tổ chức cho HS làm việc, nhắc nhở, uốn nắn những lệch lạc của HS trong tiếp nhận và
tạo lập văn bản, tham gia cùng HS phát biểu những suy nghĩ và cảm nhận của mình về
giá trị của tác phẩm,...
Với CT và sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn mới, dạy văn thực chất là dạy cho HS
phương pháp đọc hiểu. Đọc hiểu ở đây được hiểu một cách khá toàn diện. Đó là một quá
trình bao gồm việc tiếp xúc với văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm
ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ,
các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và cả các giá trị tự thân của hình
tượng nghệ thuật. Đọc hiểu là hoạt động quan trọng nhất để HS tiếp xúc trực tiếp với các
giá trị văn học. Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu
cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chính cũng như
chủ đề của tác phẩm. Lí giải là hiểu đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa xã hội nhân văn của
tác phẩm trong ngữ cảnh của nó. Trong quá trình học đọc, HS sẽ biết cách đọc để tích luỹ
kiến thức, đọc để lí giải, đọc để đánh giá và đọc sáng tạo, phát hiện. HS sẽ học cách trích
câu hay trích chi tiết, trích ý, học cách thuyết minh, thuật lại nội dung văn bản đã học. Hệ
thống văn bản được lựa chọn nhằm thực hiện việc đào tạo năng lực đọc hiểu, qua đó, vừa
cung cấp tri thức văn học, văn hoá dân tộc; vừa giáo dục tư tưởng, tình cảm; vừa rèn luyện
kĩ năng đọc mà HS có thể mang theo suốt đời sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông
(THPT) để có thể đọc hiểu nhiều loại văn bản thông dụng trong đời sống.
6|
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 – CÁNH DIỀU
Đọc văn theo tinh thần đó thực chất là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản.
Muốn thế, HS phải được trang bị trên hai phương diện: những kiến thức để đọc văn và
phương pháp đọc văn. Những kiến thức và phương pháp này chỉ có thể có được qua việc
thực hành trong quá trình đọc văn thông qua các văn bản – tác phẩm cụ thể, tiêu biểu cho
các thể loại ở những giai đoạn khác nhau. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng của sách Ngữ văn
là tập trung hình thành cho HS cách đọc văn, phương pháp đọc hiểu theo thể loại và kiểu
văn bản. Tất nhiên, thông qua hệ thống văn bản – tác phẩm tiêu biểu (như là những văn
liệu, ngữ liệu), CT cung cấp và hình thành cho HS những kiến thức tiêu biểu về lịch sử văn
học, lí luận văn học, tác giả và tác phẩm văn học. Dạy đọc còn phải trang bị cho HS các
kiến thức tiếng Việt với tất cả các đơn vị và cấp độ ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ
pháp, đoạn văn, văn bản. Chính những đơn vị ngôn ngữ này tạo nên thế giới hình tượng
của tác phẩm văn học. Do đó, việc phân tích, cảm nhận tác phẩm văn học không thể không
dựa vào chúng. Nói cách khác, những kiến thức về lịch sử văn học, lí luận văn học, ngôn
ngữ học và các kiến thức về văn hoá tổng hợp đều trở thành kiến thức công cụ, là những
chìa khoá giúp cho HS đọc hiểu tác phẩm văn học có kết quả hơn.
Dạy viết có hai yêu cầu: dạy kĩ thuật viết và dạy viết đoạn văn, văn bản. Ngoài dạy kĩ
thuật viết đúng chính tả, ngữ pháp, mục đích quan trọng nhất của dạy viết theo yêu cầu
phát triển năng lực là rèn luyện tư duy và cách viết, qua đó, giáo dục phẩm chất và phát
triển nhân cách HS. Vì thế khi dạy viết, GV cần chú trọng yêu cầu tạo ra ý tưởng, triển
khai ý tưởng và biết cách trình bày ý tưởng, đảm bảo yêu cầu mạch lạc, sáng tạo và có sức
thuyết phục.
Nói và nghe là hai trong bốn kĩ năng giao tiếp cần rèn luyện cho HS. CT Ngữ văn 2018
số tiết dành cho kĩ năng nói và nghe rất ít, chỉ 10% tổng số thời lượng. Tuy nhiên, cần lưu
ý việc rèn luyện kĩ năng nói và nghe được thực hiện ở rất nhiều hình thức khác nhau: trong
kiểm tra bài cũ, phát biểu ý kiến xây dựng bài, trao đổi thảo luận, trong sinh hoạt lớp,... Có
thể coi số tiết 10% mà CT quy định được hiểu là dạy nói nghe có nội dung theo đề tài, chủ
đề bắt buộc. Cụ thể: đọc hiểu và viết nội dung gì thì nói – nghe sẽ tổ chức để HS rèn luyện
theo nội dung ấy.
Dạy nói – nghe không chỉ là kĩ năng nói và nghe mà còn là cơ hội để rèn giũa phẩm chất,
thái độ, tình cảm, lối sống có văn hoá cho HS. Vì thế, khi dạy nói và nghe, GV không chỉ
chú ý nội dung, mà quan trọng hơn là cần tập trung vào kĩ năng và thái độ khi nghe – nói.
GV cần tập trung vào yêu cầu hướng dẫn HS các bước tạo lập văn bản, thực hành viết
theo quy trình và đặc điểm của kiểu văn bản. Thông qua thực hành, GV hướng dẫn HS nắm
được quy trình tạo lập văn bản; xác định được mục đích và nội dung viết; giới thiệu các
nguồn tư liệu; hướng dẫn cách tìm ý tưởng và phác thảo dàn ý; yêu cầu viết văn bản. GV
cũng cần hướng dẫn HS tự chỉnh sửa và trao đổi dựa trên tiêu chí đánh giá bài viết; hướng
dẫn HS liên hệ với các văn bản ở phần đọc hiểu và văn bản bổ sung để nắm được đặc điểm
của các kiểu văn bản.
|7
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
Cuối cùng, không thể không chú ý tới việc đánh giá kết quả. Cách thức kiểm tra – đánh
giá tác động rất lớn vào cách dạy, cách học. Vì thế, cần có nhận thức đúng để thay đổi cách
ra đề kiểm tra, đề thi Ngữ văn trong nhà trường.
Định hướng chung của việc thay đổi đánh giá là chuyển từ yêu cầu đánh giá ghi nhớ
nội dung sang yêu cầu đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực viết, tức là đánh giá được
khả năng vận dụng tiếng Việt vào đọc và viết văn bản. Đề kiểm tra phải bám sát mục tiêu,
tính chất và yêu cầu của mỗi kì thi. Đề văn hay phải là đề văn đúng, phù hợp với trình độ
của HS, gợi được cảm xúc và hứng thú của người viết; đừng yêu cầu HS bàn những vấn
đề lí luận quá cao siêu, xa vời. Phải khơi dậy được khả năng tư duy độc lập, phát huy cá
tính sáng tạo của từng HS; vì thế, đề thi và đáp án không nên áp đặt những khuôn mẫu nhất
định. Cần khuyến khích những bài viết có sáng tạo; chống hiện tượng chép văn mẫu và học
thuộc tài liệu có sẵn, không dám bứt phá, vượt thoát sang một hướng nào khác.
2. Quy định của Chương trình Ngữ văn 2018 đối với lớp 7
2.1. Yêu cầu cần đạt
2.1.1. Về đọc
CT yêu cầu đọc ba loại: văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản thông tin.
– Văn bản văn học: HS cần biết đọc các thể loại tục ngữ, truyện ngụ ngôn, truyện khoa
học viễn tưởng, truyện nói chung (truyện ngắn, tiểu thuyết), thơ trữ tình (trong đó có thơ
bốn chữ, năm chữ do yêu cầu tập làm thể thơ này ở kĩ năng viết), tuỳ bút, tản văn.
Khi học các văn bản văn học, cần: a) Nêu được ấn tượng chung về văn bản; nhận biết
được các chi tiết tiêu biểu, đề tài, câu chuyện, nhân vật trong tính chỉnh thể của tác phẩm;
b) Nhận biết được chủ đề, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc; c) Nhận biết
được tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản; d) Nhận biết được
một số yếu tố của truyện như: sự kiện, tình huống, cốt truyện, nhân vật, không gian, thời
gian; e) Nhận biết được tính cách nhân vật thể hiện qua cử chỉ, hành động, lời thoại, qua ý
nghĩ của các nhân vật khác trong truyện, qua lời người kể chuyện; g) Nhận biết và nêu
được tác dụng của việc thay đổi kiểu người kể chuyện; h) Nhận biết và nhận xét được nét
độc đáo của bài thơ thể hiện qua từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, biện pháp tu từ; i) Nhận biết
được chất trữ tình, cái “tôi”, ngôn ngữ của tuỳ bút, tản văn; k) Tóm tắt được văn bản một
cách ngắn gọn; l) Nêu được những trải nghiệm trong cuộc sống giúp bản thân hiểu thêm
về tác phẩm văn học; m) Thể hiện được thái độ đồng tình hoặc không đồng tình với thái
độ, tình cảm và cách giải quyết vấn đề của tác giả.
– Văn bản nghị luận: Nghị luận phân tích một tác phẩm văn học và nghị luận về một
vấn đề đời sống xã hội. Khi học các văn bản nghị luận, cần: a) Nhận biết được các ý kiến,
lí lẽ, bằng chứng trong văn bản, chỉ ra mối liên hệ giữa các ý kiến, lí lẽ, bằng chứng; b)
Xác định được mục đích và nội dung chính của văn bản.
8|
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 – CÁNH DIỀU
– Văn bản thông tin: Giới thiệu một quy tắc hoặc luật lệ trong trò chơi hay hoạt động
với yêu cầu hiểu được tác dụng của cước chú và tài liệu tham khảo; nhận biết được cách
triển khai ý tưởng và thông tin trong văn bản. Khi học văn bản thông tin, cần: a) Nhận biết
được thông tin cơ bản của văn bản; b) Nhận biết được vai trò của các chi tiết trong việc thể
hiện thông tin cơ bản của văn bản.
2.1.2. Về viết
HS được rèn luyện theo quy trình viết và thực hành viết các kiểu văn bản với yêu cầu
cụ thể như sau:
– Viết được bài văn kể về sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử.
– Viết được bài văn biểu cảm; bước đầu biết làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ;
viết đoạn văn ghi lại cảm xúc của mình sau khi đọc một bài thơ bốn chữ, năm chữ.
– Bước đầu biết viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống; bước đầu biết viết
bài phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học.
– Bước đầu biết viết văn bản thuyết minh về một quy tắc, luật lệ trong trò chơi hay hoạt
động; viết được văn bản tường trình rõ ràng, đầy đủ, đúng quy cách.
– Biết tóm tắt một văn bản theo những yêu cầu khác nhau về độ dài.
2.1.3. Về nói và nghe
CT yêu cầu như sau:
– Trình bày được ý kiến về một vấn đề trong đời sống.
– Biết kể lại một truyện ngụ ngôn; biết sử dụng và thưởng thức những cách nói thú vị,
dí dỏm.
– Giải thích được quy tắc hoặc luật lệ trong một trò chơi hay hoạt động.
– Tóm tắt được các ý chính do người khác trình bày.
– Biết trao đổi một cách xây dựng, tôn trọng các ý kiến khác biệt.
– Biết thảo luận trong nhóm về một vấn đề gây tranh cãi.
2.2. Kiến thức
Để đạt được mục tiêu và các yêu cầu trên, cần thông qua các hệ thống kiến thức tiếng
Việt, văn học và văn bản sau đây.
2.2.1. Kiến thức tiếng Việt
– Thành ngữ và tục ngữ.
– Thuật ngữ.
– Nghĩa của một số yếu tố Hán Việt thông dụng.
– Ngữ cảnh và nghĩa của từ trong ngữ cảnh.
– Số từ, phó từ: đặc điểm và chức năng.
– Các thành phần chính và thành phần trạng ngữ trong câu.
|9
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
– Công dụng của dấu chấm lửng.
– Biện pháp tu từ nói quá, nói giảm – nói tránh.
– Liên kết và mạch lạc của văn bản.
– Văn bản tự sự, văn bản biểu cảm, văn bản nghị luận, văn bản thông tin.
– Ngôn ngữ của các vùng miền.
– Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ.
2.2.2. Kiến thức văn học
– Giá trị nhận thức của văn học.
– Mối liên hệ giữa chi tiết với chủ đề, cách xác định chủ đề văn bản; thái độ, tình cảm
của tác giả thể hiện qua văn bản.
– Hình thức của tục ngữ.
– Đề tài, sự kiện, tình huống, cốt truyện, không gian, thời gian, nhân vật của truyện ngụ
ngôn và truyện khoa học viễn tưởng.
– Người kể chuyện ngôi thứ nhất và người kể chuyện ngôi thứ ba; tác dụng của mỗi
kiểu người kể chuyện.
– Một số yếu tố hình thức của thơ bốn chữ, năm chữ.
– Chất trữ tình, cái “tôi”, ngôn ngữ của tuỳ bút, tản văn.
– Những trải nghiệm trong cuộc sống và việc hiểu văn học.
2.2.3. Hệ thống ngữ liệu
– Văn bản văn học: truyện ngụ ngôn, truyện ngắn, truyện khoa học viễn tưởng; thơ, thơ
bốn chữ, năm chữ; tuỳ bút, tản văn; tục ngữ.
– Văn bản nghị luận: nghị luận xã hội; nghị luận văn học.
– Văn bản thông tin: văn bản giới thiệu quy tắc, luật lệ trong trò chơi hay hoạt động;
văn bản tường trình.
LƯU Ý
Tất cả nội dung mục 2.1 là yêu cầu cần đạt (kết quả đầu ra) và mục 2.2 là hệ thống
kiến thức (nguyên liệu đầu vào). Hệ thống kiến thức chỉ là phương tiện để đạt được mục
tiêu. Việc biên soạn SGK, tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá,... tất cả đều phải dựa
vào các yêu cầu cần đạt nêu trên của CT. Kiến thức có thể thay đổi, bổ sung, thêm bớt,
nhưng kết quả cần đạt thì là yêu cầu bắt buộc của CT. Dạy bộ sách nào cũng phải đạt
được các yêu cầu đó. Kiểm tra, đánh giá không dựa vào một bộ sách cụ thể.
10 |
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 – CÁNH DIỀU
3. Sự thống nhất về Chương trình và đa dạng hoá sách giáo khoa
3.1. Cần phân biệt Chương trình và sách giáo khoa
CT môn Ngữ văn cũng như tất cả các môn học, đều do một tiểu ban soạn thảo trên cơ
sở thống nhất với CT tổng thể, được lấy ý kiến của các cơ sở giáo dục và xã hội, được Hội
đồng quốc gia thẩm định CT xem xét, thông qua và được ban hành bằng một văn bản quy
phạm pháp luật (thông tư của Bộ GD&ĐT). CT Tiếng Việt – Ngữ văn cũ (2006) được làm
từ các thời điểm khác nhau (Tiểu học – 1995, Trung học cơ sở (THCS) – 1998 và THPT –
2000); đến năm 2006, được hợp nhất, bổ sung chuẩn CT theo quy định của Luật Giáo dục
2005, nên được gọi là CT 2006. CT 2018 làm trong hai năm 2017 và 2018, được ban hành
cuối năm 2018 nên gọi là CT 2018.
CT Ngữ văn 2018 là CT mở, phục vụ cho chủ trương một CT, nhiều SGK; vì thế, chỉ
nêu lên mục tiêu, các yêu cầu cần đạt và một số nội dung cốt lõi của mỗi lớp, mỗi cấp. Trên
cơ sở quy định của CT, người biên soạn các bộ SGK tự quyết định lựa chọn ngữ liệu, sắp
xếp nội dung, hướng dẫn tổ chức hoạt động rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe.
Ví dụ, ba bộ SGK Ngữ văn lớp 7 mới sẽ có cách triển khai rất khác nhau, nhưng tất cả đều
phải hướng đến mục tiêu và đáp ứng được các yêu cầu cần đạt mà CT đã nêu lên. Chẳng
hạn, mục tiêu và yêu cầu cần đạt của đọc hiểu với lớp 7 là: “Nhận biết được một số yếu tố
của truyện ngụ ngôn và truyện khoa học viễn tưởng như: đề tài, sự kiện, tình huống, cốt
truyện, nhân vật, không gian, thời gian”. Với yêu cầu này, cả ba bộ SGK đều phải tuân thủ,
trước hết về thể loại, phải dạy cách đọc hiểu truyện ngụ ngôn và truyện khoa học viễn
tưởng và khi dạy phải chú ý giúp HS “nhận biết được các yếu tố như: đề tài, sự kiện, tình
huống, cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian”. Tương tự với yêu cầu “Nhận biết và
nêu được tác dụng của việc thay đổi kiểu người kể chuyện (người kể chuyện ngôi thứ nhất
và người kể chuyện ngôi thứ ba) trong một truyện kể” thì cả ba bộ SGK đều phải khai thác
về tác dụng của việc thay đổi kiểu người kể chuyện,...
Các yêu cầu khác về đọc hiểu, viết, nói và nghe đều là các yêu cầu chung cần tuân thủ,
nhưng biên soạn SGK và tổ chức dạy học như thế nào để đạt được mục tiêu, yêu cầu ấy có
thể rất khác nhau.
3.2. Từ Chương trình đến sách giáo khoa Ngữ văn
Với hầu hết các nước, CT Giáo dục phổ thông quốc gia chỉ có một. Từ CT quốc gia,
các địa phương (bang, khu vực, nhà trường) căn cứ vào thực tiễn để thiết kế CT địa phương
và CT nhà trường. CT địa phương và CT nhà trường thường tuân thủ CT quốc gia từ 80%
đến 90%; nội dung còn lại do địa phương tự điều chỉnh. Hầu hết các nước thực hiện chính
sách một CT, nhiều SGK. Và vì thế, CT trở thành cơ sở quan trọng nhất của việc dạy học,
từ biên soạn SGK, lựa chọn phương pháp và kiểm tra – đánh giá. SGK chỉ là một trong
những tài liệu dạy học quan trọng nhưng không bắt buộc. GV có thể dạy theo bất kì
|11
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
bộ sách nào và lấy tư liệu từ các nguồn khác nhau để hướng dẫn HS học hằng ngày, miễn
là đáp ứng được yêu cầu của CT.
Văn bản CT của mỗi nước trình bày có khác nhau, nhưng đã theo định hướng nhiều
SGK thì CT phải có tính “mở”. Tức là CT chỉ quy định “kết quả đầu ra” bằng các yêu cầu
cần đạt đối với HS. Từ yêu cầu cần đạt này, CT nêu lên một số kiến thức cốt lõi cần dạy
để đạt được các yêu cầu. Cái đích của dạy và học là yêu cầu cần đạt; còn dạy thông qua cái
gì, bằng cách nào là quyền của người soạn SGK và GV. Điều này giống như học ngoại
ngữ: HS học sách nào, giáo trình nào, học ở đâu, ai dạy,... không quan trọng, mà quan trọng
là cuối cùng HS nói – nghe lưu loát và đọc thông, viết thạo một ngoại ngữ nào đó.
Như thế, SGK chỉ là công cụ, phương tiện để giúp GV, HS dạy và học nhằm đạt được
mục tiêu, yêu cầu của CT. Vì thế, khi kiểm tra – đánh giá phải dựa vào yêu cầu cần đạt của
CT, không dựa vào một SGK cụ thể nào. CT Ngữ văn 2018 đã nêu rõ yêu cầu cần đạt ở
mỗi lớp về bốn kĩ năng giao tiếp: đọc, viết, nói và nghe với ba loại văn bản: văn học, nghị
luận và thông tin. Theo CT này, GV dạy sách nào cũng được, nhưng cuối năm lớp 7, HS
cần biết đọc truyện ngụ ngôn, truyện ngắn, truyện khoa học viễn tưởng, thơ, thơ bốn chữ,
năm chữ, tuỳ bút, tản văn; tục ngữ; biết đọc văn bản nghị luận văn học và nghị luận xã hội;
biết đọc văn bản thông tin giới thiệu quy tắc, luật lệ trong trò chơi hay hoạt động,...; biết
viết các kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm; bước đầu biết viết văn bản thuyết minh,
nghị luận. Tương tự như đọc và viết, HS phải biết nói và nghe đạt yêu cầu mà CT đã đề ra.
SGK phải tuân thủ CT, cụ thể hoá các yêu cầu của CT thông qua các văn bản và các
hoạt động đọc, viết, nói, nghe cụ thể. Để dạy cách đọc, SGK cần tổ chức cho HS học đọc
theo thể loại và kiểu văn bản. Mỗi bài học cần tập trung vào một thể loại chứ không chạy
theo nội dung như đề tài, chủ đề trong tác phẩm văn học. Tuy nhiên, dạy học Ngữ văn còn
có nhiệm vụ trang bị cho HS vốn văn học, văn hoá. Vì thế, ở mỗi thể loại, SGK cần lựa
chọn được những tác phẩm tiêu biểu cho văn học dân tộc và nhân loại. Việc giáo dục phẩm
chất, nhân cách được thông qua nội dung các tác phẩm cụ thể. Mỗi tác phẩm văn học đều
hàm chứa nhiều giá trị, nhiều ý nghĩa khó có thể khuôn vào một chủ đề duy nhất. GV cứ
hướng dẫn HS đọc hiểu tốt các văn bản – tác phẩm thì chính là vừa dạy cách đọc, vừa góp
phần giáo dục phẩm chất, nhân cách.
3.3. Lí luận văn học trong Chương trình và sách giáo khoa 2018
Trong các CT Ngữ văn truyền thống, lí luận văn học được dạy với hai yêu cầu: một là
học một số thuật ngữ văn học thông qua các bài giảng văn, phân tích tác phẩm như đề tài,
chủ đề, nhân vật, thể loại văn học; ví dụ, sơ lược về đặc điểm của các thể loại: thơ ngũ
ngôn, thơ thất ngôn, thơ lục bát, thơ song thất lục bát; một số khái niệm cơ bản về hình ảnh,
nhịp điệu, tiết tấu trong thơ (CT 2006, lớp 7),... Hai là học các bài lí luận văn học chuyên
về một vấn đề nào đó ở cấp THPT; ví dụ: chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, trào
lưu và khuynh hướng văn học,... (CT 2006, lớp 11); hoặc quá trình văn học, phong cách
văn học, giá trị văn học, tiếp nhận văn học (CT 2006, lớp 12);...
12 |
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 – CÁNH DIỀU
CT Ngữ văn 2018 thay đổi cách dạy lí luận văn học. Trước hết, cần trả lời câu hỏi: HS
biết các kiến thức lí luận văn học ấy để làm gì? Với hầu hết tất cả những người lao động
bình thường, điều quan trọng nhất là hiểu được văn bản – tác phẩm chứ không phải để biết
các tri thức lí luận văn học. Vì thế, lí luận văn học chỉ có ích khi giúp HS hiểu được văn
bản – tác phẩm. Có nghĩa là lí luận văn học phải trở thành phương tiện để giúp HS đọc
hiểu văn một cách tốt hơn, hiệu quả hơn, chứ không học các bài lí luận văn học lí thuyết
nặng nề, khó hiểu nhưng không giúp HS hiểu văn bản.
Theo định hướng trên, lí luận văn học trong CT Ngữ văn 2018 được thể hiện ngay trong
các yêu cầu cần đạt về các thể loại văn bản và các thành tố tạo nên văn bản văn học. lí luận
văn học có mặt ngay từ các lớp ở Tiểu học. Chẳng hạn với lớp 3 và 4, khi yêu cầu HS
“Nhận biết được đặc điểm của nhân vật thể hiện qua hình dáng, điệu bộ, hành động, lời
thoại”, tức là đã có lí luận văn học ít nhất ở hai khái niệm “nhân vật” và “lời thoại”. Đây
là yêu cầu của CT, còn việc thể hiện vào SGK như thế nào, bằng cách nào cho đơn giản,
dễ hiểu, phù hợp với HS độ tuổi này là tuỳ thuộc vào mỗi bộ SGK. Với sách Ngữ văn 7, lí
luận văn học thể hiện ở các bài đọc hiểu, trước hết là hệ thống thể loại và kiểu văn bản nêu
trong nhan đề 10 bài học. Tiếp đó là các thành tố của văn bản văn học được cài đặt trong
các bài đọc hiểu gắn với mỗi thể loại như: đề tài, sự kiện, tình huống, cốt truyện, nhân vật,
bối cảnh của truyện khoa học viễn tưởng,... Hoặc kiểu người kể chuyện và tác dụng của
việc thay đổi kiểu người kể chuyện được gắn với Bài 1. Tiểu thuyết và truyện ngắn,... Đọc
các yêu cầu cần đạt trong CT Ngữ văn 2018 sẽ thấy các kiến thức lí luận văn học thể hiện
rõ ở cả ba phương diện: i) Nội dung, với các khái niệm như: đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm
hứng,...; ii) Hình thức, với các khái niệm như: thể loại, cốt truyện, nhân vật, lời nhân vật,
lời người kể, điểm nhìn và ngôi kể,...; iii) Tiếp nhận văn học, với các yêu cầu HS biết liên
hệ, so sánh, kết nối với bối cảnh lịch sử, văn hoá, đặc biệt liên hệ với kinh nghiệm sống
của bản thân để hiểu văn bản – tác phẩm một cách sáng tạo, mang dấu ấn cá nhân. Một số
vấn đề lí luận văn học mang tính chuyên sâu chỉ được giới thiệu trong các chuyên đề tự
chọn ở cấp THPT.
Để dạy đọc hiểu văn bản văn học, GV cần tổ chức cho HS hiểu nội dung trong mối
quan hệ với các yếu tố hình thức là một yêu cầu căn bản đặt ra từ lâu. Với CT 2018, yêu
cầu ấy được thể hiện trực tiếp vào các yêu cầu cần đạt của mỗi bài học, buộc GV phải tổ
chức, hướng dẫn HS khai thác để hiểu văn bản. Đó không còn chỉ là một khuyến nghị nằm
ngoài, muốn làm hay không làm cũng được. Dạy lí luận văn học không còn là “dạy chay”
mà luôn phải gắn chặt với mỗi văn bản – tác phẩm cụ thể.
3.4. Lịch sử văn học trong Chương trình và sách giáo khoa 2018
Trong các CT Ngữ văn truyền thống, lịch sử văn học được dạy với hai yêu cầu: một
là học trực tiếp các bài khái quát văn học sử; hai là giảng văn các tác phẩm theo các giai
đoạn lịch sử từ dân gian đến trung đại và hiện đại. Từ cuối cấp THCS, HS học bài sơ lược
về văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử. Lên THPT, lịch sử văn học được học thông
qua các bài khái quát như Tổng quan nền văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử hoặc
|13
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
Khái quát văn học từ đầu thế kỉ XX đến 1945 và các bài khái quát về Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh,... Ngoài ra, mỗi bài học đều có phần Tiểu dẫn nêu
thông tin về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời,... thực chất đó cũng là lịch sử văn học.
Có thể thấy, với CT Ngữ văn truyền thống, lịch sử văn học là đối tượng cần dạy, cần
học; là yêu cầu cần đạt. Với CT Ngữ văn 2018, lịch sử văn học trở thành phương tiện để
giúp HS đọc hiểu văn bản. Cụ thể, HS sẽ không phải học các bài lịch sử văn học lí thuyết
nặng nề, nhiều khái niệm, thuật ngữ khó hiểu. Và quan trọng hơn, cần trả lời câu hỏi: HS
biết các kiến thức lịch sử văn học ấy để làm gì? Câu trả lời của CT Ngữ văn 2018 là phải
giúp HS đọc hiểu được văn bản một cách tốt hơn, hiệu quả hơn. Vì thế, những kiến thức
lịch sử văn học phải gắn với từng văn bản – tác phẩm, làm sáng tỏ và giúp cho việc hiểu
văn bản ấy.
CT Ngữ văn 2018 không yêu cầu dạy và học những bài khái quát như trước. Đến cuối
lớp 9 mới có yêu cầu HS “Vận dụng được một số hiểu biết về lịch sử văn học Việt Nam để
đọc hiểu văn bản văn học”, hoặc cuối lớp 12 mới yêu cầu “Vận dụng được kiến thức về
lịch sử văn học và kĩ năng tra cứu để sắp xếp một số tác phẩm, tác giả lớn theo tiến trình
lịch sử văn học; biết đặt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và bối cảnh hiện tại để có đánh
giá phù hợp”. Nghĩa là ở các lớp cuối cấp, HS mới cần có những hiểu biết về lịch sử văn
học nhưng vẫn không ngoài mục đích giúp cho việc đọc hiểu văn bản. Với ba tác gia
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Chí Minh, ở THPT mới có yêu cầu “Vận dụng được những
hiểu biết về tác giả để đọc hiểu một số tác phẩm của tác giả này”. Các văn bản đọc hiểu ở
tất cả các lớp không sắp xếp theo lịch sử văn học mà theo thể loại văn học Ví dụ: dạy đọc
hiểu truyện dân gian bên cạnh truyện hiện đại, truyện trung đại; truyện Việt Nam bên cạnh
truyện nước ngoài;... Các thể loại khác cũng tương tự.
Tuy tổ chức bài học theo thể loại nhưng SGK Ngữ văn vẫn chú trọng lịch sử văn học.
Các kiến thức văn học sử được thể hiện ở yêu cầu về bối cảnh ra đời của tác phẩm; chẳng
hạn với tác phẩm Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi) hoặc Buổi học cuối cùng (A. Đô-đê),
Búp xen xanh (Sơn Tùng), Hai vạn dặm dưới đáy biển (Giuyn Véc-nơ),... Việc vận dụng
các kiến thức lịch sử văn học như là công cụ và phương tiện giúp cho đọc hiểu được gắn
với yêu cầu “liên hệ, so sánh, kết nối” (yêu cầu số 3 của CT Ngữ văn 2018). Yêu cầu này
có trong mục đọc hiểu của tất cả các lớp. Theo đó, để dạy đọc hiểu một văn bản, GV cần
tổ chức cho HS biết liên hệ với bối cảnh lịch sử – văn hoá thời đại và hoàn cảnh ra đời của
mỗi tác phẩm; so sánh các bối cảnh, các điều kiện lịch sử khác nhau của các văn bản để
hiểu sâu hơn, nhận xét và đánh giá đúng hơn giá trị của mỗi văn bản.
3.5. Tính kế thừa và phát triển trong CT 2018
Đổi mới không có nghĩa là xoá đi tất cả, làm lại từ đầu; cũng không thể giữ nguyên
như cũ. Vì thế, cần làm rõ CT Ngữ văn 2018 kế thừa những gì của CT Ngữ văn 2006 và
đổi mới ở những điểm nào. Chúng tôi xin nêu mấy điểm khái quát sau đây.
a) CT môn Ngữ văn 2018 tiếp tục mục tiêu giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng tình cảm, phát
triển nhân cách cho HS, coi đây là thế mạnh của môn Ngữ văn trong giáo dục phẩm chất.
1...
 





