Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1
CHÂM NGÔN HAY
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Thiên đường có thật

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 09h:54' 19-03-2024
Dung lượng: 940.9 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 09h:54' 19-03-2024
Dung lượng: 940.9 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
THIÊN ĐƯỜNG CÓ THẬT
Nguyên tác: Heaven is for Real
Tác giả: Todd Burpo
Nhà xuất bản: NXB Hội Nhà Văn
Công ty phát hành: Phương Nam
Ngày xuất bản: 03-2012
Số trang: 224
Làm ebook: Heoconmtv
Nguồn: Waka
Ngày hoàn thành: 13-04-2017
Nếu có điều kiện hãy mua sách để ủng hộ tác giả và nhà xuất bản nhé!
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
ẠN SẼ CẢM ĐỘNG BỞI NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐƠN
GIẢN chân thành, hồn nhiên của một bé trai đã từng đến
thiên đường. Câu chuyện thật hấp dẫn và thuyết phục.
Đây là quyển sách bạn nên đọc. Nếu bạn đã sẵn sàng đến
thiên đường, quyển sách sẽ tạo cảm hứng cho bạn. Còn
nếu bạn chưa sẵn sàng, hãy để một trẻ nhỏ dắt bạn đi.
Như Colton nói, “Thiên đường có thật.”
“B
- Don Piper
Diễn giả và Tác giả cuốn 90 phút nơi Thiên đàng
“Thiên đường không phải là giải an ủi. Nơi đó thật sự là mái nhà
vĩnh hằng đối với những ai có niềm tin. Hãy đồng hành cùng bé
Colton và Todd để được nghe miêu tả những trải nghiệm bản thân
về những điều kỳ diệu, những bí ẩn, và sự uy nghi của thiên đường.
Điều đó khiến cho thế gian thêm trọn vẹn ý nghĩa và tương lai trở
nên hữu ích hơn.”
- Brady Boyd
Mục sư quản nhiệm, Giáo đường Đời sống mới, Colorado Springs
“Tôi thường không đọc những truyện kể về trải nghiệm 'cận tử'
đơn giản chỉ vì thật lòng tôi không mấy tin tưởng tác giả những câu
chuyện này. Thế rồi, tôi đã đọc quyển sách này từ đầu đến cuối và,
thậm chí, tôi hầu như không thể ngưng lại! Vì sao ư? Vì tôi quen biết
người viết và tôi tin anh ấy. Todd Burpo cho chúng ta một món quà
tuyệt vời khi anh và con trai mình vén bức màn đến cõi vĩnh hằng,
cho chúng ta"
- Tiến sĩ Everett Piper
Chủ tịch, Đại học Oklahoma Wesleyan
Tác giả cuốn Vì sao tôi là người tự do và những tư tưởng bảo
thủ khác (Why I'm a Liberal and Other Conservative Ideas)
“Trong quyển sách tuyệt vời này, Colton, mới bốn tuổi, có một
trải nghiệm được xem như cận tử khi đang được gây mê. Tôi đã
nghiên cứu hơn 1.600 trường hợp cận tử và thấy rằng các trường
hợp điển hình có thể xảy đến với những trẻ em rất nhỏ và trong lúc
bị gây mê. Ngay cả sau khi đã nghiên cứu rất nhiều trường hợp
NDE, tôi vẫn thấy trải nghiệm của Colton đầy kịch tính, đặc biệt và
là một nguồn cảm hứng đối với các tín đồ Kitô giáo khắp mọi nơi.”
- Jeffrey Long, Tiến sĩ Y khoa,
Người sáng lập Quỹ nghiên cứu Trải nghiệm Cận tử
Tác giả cuốn Bằng chứng về Đời sau: Khoa học nghiên cứu các
Trải nghiệm Cận tử
“Nhiều câu chuyện cần được kể lại, đơn giản là vì những câu
chuyện đó có đời sống riêng của chúng. Quyển sách bạn đang cầm
trên tay thuộc loại ấy. Nhưng bạn sẽ không thể giữ nó riêng cho
mình; nó sẽ lan đi qua những cuộc trò chuyện của bạn với những
người chưa được nghe kể. Tôi biết bạn sẽ làm thế vì tôi đã làm thế.”
- Phil McCallum
Mục sư quản nhiệm, Giáo đường Evergreen,
Bothell, Washington
“Thánh kinh miêu tả Thiên đường là nơi cư ngụ của Chúa Trời.
Đó là nơi có thật, chốn cư ngụ vĩnh hằng cho những ai dâng hiến
cuộc đời mình cho Chúa. Trong quyển sách này, Todd Burpo kể lại
trải nghiệm của con trai mình khi cậu trải qua ca mổ ruột thừa. Câu
chuyện thật chân thực, cảm động và đầy khích lệ đối với những ai
hy vọng về chốn vĩnh hằng.”
- Robert Morris
Mục sư, Giáo đường Gateway, Southlake, Texas
“Thiên Đường Có Thật là một quyển sách tuyệt vời. Nó khẳng
định lại niềm tin quan trọng như thế nào trong cuộc đời chúng ta –
đối với cả trẻ em cũng như người lớn.”
- Timothy P. O'Holleran, Tiến sĩ Y khoa
“Câu chuyện của Colton có thể được kể trong Tân Ước – nhưng
Chúa Trời đã chọn cách truyền đạt với chúng ta trong thế kỷ 21 này
qua cái nhìn trong sáng của một đứa trẻ, tiết lộ một số bí ẩn về thiên
đường. Giọng văn đầy cuốn hút và câu chuyện thật đáng kinh ngạc,
khiến ta háo hức muốn nghe thêm.”
- Jo Anne Lyon
Tổng trưởng giáo hạt, Nhà thờ Wesleyan
“Chúa Trời thật sáng tạo và đầy xác tín! Quyển sách này sẽ thể
hiện điều này rõ hơn theo những góc độ mới. Tôi đã biết Colton từ
lúc cậu mới ra đời. Khi mới chập chững biết đi, cậu đã có cảm xúc
mãnh liệt về tâm linh. Khi mới 3 tuổi, cậu ngồi trên gối tôi, nhìn vào
mắt tôi và hỏi tôi có muốn lên thiên đường sau khi chết không. Rồi
cậu bảo tôi rằng “Bác phải có Chúa Giêsu ở trong tim.” Tôi xem
quyển sách này như một góc nhìn mới đối với thực tế về Chúa Trời,
Người thường có vẻ như ẩn khuất nhưng xuất hiện bất ngờ theo
cách của Người.”
- Phil Harris
Tổng giáo hạt, Khu Colorado-Nebraska thuộc Nhà thờ Wesleyan
“Thật là một ân sủng khi biết tranh vẽ của Akiane đã tác động
đến cuộc sống của một ai khác. Bức họa Hoàng tử Hòa Bình của cô
bé về Đấng Ki-tô luôn là một trong những tác phẩm được yêu thích
nhất. Là bậc cha mẹ của một đứa bé đã trải nghiệm những điều phi
thường và không thể giải thích theo những tiêu chí của trần gian, tôi
chúc tụng gia đình này với niềm hân hoan của họ và trong việc họ kể
lại câu chuyện đặc biệt của mình.”
- Forelli Kramarik
Đồng tác giả cuốn Akiane: cuộc đời, trái tim, thơ ca
LỜI MỞ ĐẦU
K
HI KỂ CÂU CHUYỆN VỀ COLTON, chúng tôi đã có cơ hội làm
việc với những con người không những chuyên nghiệp và đầy
nhiệt huyết mà còn là những con người chân thật và đầy yêu
thương. Dĩ nhiên, chúng tôi rất ấn tượng với kiến thức chuyên
môn của họ, nhưng điều mà cả Sonja và tôi cảm thấy trân
trọng hơn nhiều chính là tấm lòng và tính cách của họ.
Phil McCallum, Joel Kneedler, Lynn Vincent, và Debbie Wickwire
không chỉ gác cả cuộc sống để thực hiện quyển sách này, họ còn vun
đắp cho cuộc sống gia đình chúng tôi thêm phong phú. Nếu không có
những nỗ lực lớn lao và tinh thần nhạy bén của họ, quyển sách Thiên
đường có thật đã không thể được hoàn thành một cách mỹ mãn như
vậy.
Chúng tôi cảm tạ Đức Chúa Trời mỗi ngày vì đã mang những con
người tài năng đến giúp chúng tôi kể câu chuyện của Colton. Mỗi
người trong số họ chính là một phước lành đối với chúng tôi.
Đối với tôi và Sonja, việc có được những người bạn như họ là một
đặc ân quý giá.
L
Ễ QUỐC KHÁNH GỢI LẠI KỶ NIỆM về những cuộc diễu hành
yêu nước, mùi thịt nướng thơm phức, bắp ngọt, và bầu trời
đêm bừng sáng ánh pháo hoa. Nhưng đối với gia đình tôi, kỳ lễ
Quốc Khánh năm 2003 có ý nghĩa to lớn vì những nguyên do
khác.
Vợ tôi, Sonja, và tôi lên kế hoạch đưa các con đi thăm gia đình
anh trai cô ấy, Steve, ở vùng Sioux Falls, South Dakota. Đó sẽ là lần
đầu chúng tôi gặp cậu cháu trai Bennett vừa chào đời 2 tháng trước.
Thêm vào đó, các con chúng tôi, Cassi và Colton, chưa từng biết đến
các thác nước trước đây. (Đúng thật là ở Sioux Falls có khu thác nước
Sioux). Nhưng ý nghĩa lớn nhất của chuyến đi này nằm ở chỗ đây là
lần đầu tiên chúng tôi rời khỏi quê nhà Imperial, bang Nebraska sau
khi chuyến đi Greeley, bang Colorado hồi tháng 3 biến thành cơn ác
mộng kinh khủng nhất trong đời vợ chồng tôi.
Nói một cách dễ hiểu hơn, trong chuyến đi chơi xa lần trước, một
đứa con của vợ chồng tôi suýt mất mạng. Nghe có vẻ thái quá, nhưng
lần này chúng tôi lo sợ đến mức gần như không muốn đi. Là một mục
sư, tôi không tin vào những điều mê tín. Tuy nhiên, một chút gì đó
huyễn hoặc, bất ổn trong lòng khiến tôi cảm thấy cả nhà chỉ an toàn
khi quanh quẩn đâu đó gần nhà. Thế nhưng cuối cùng, lý trí – và sự
thôi thúc được gặp bé Bennette, mà theo lời Steve là đứa bé dễ
thương nhất trần đời – đã chiến thắng. Thế là cả nhà chúng tôi gói
ghém đồ đạc cho chuyến đi cuối tuần trên chiếc Ford Expedition màu
xanh và sẵn sàng lên đường về phía Bắc.
Cả hai vợ chồng tôi đều nhất trí rằng cách đi hay nhất là lái xe chủ
yếu vào ban đêm. Bằng cách đó, cho dù cậu nhỏ Colton 4 tuổi với tính
cách hiếu động bị buộc phải ngồi yên một chỗ trong xe, ít ra nó cũng
sẽ ngủ trong gần suốt chuyến đi. Vậy là hơn 8 giờ tối một chút, tôi lái
chiếc Expedition ra khỏi nhà, hướng qua Nhà thờ Ngã tư Wesleyan,
giáo xứ chúng tôi, và chạy ra Đường cao tốc 61.
Vùng đồng bằng trải dài tít tắp dưới trời đêm trong vắt, nửa vầng
trăng trắng ngà treo vắt vẻo trên nền trời đêm mượt như nhung.
Imperial là một thị trấn nông nghiệp nhỏ nép gọn ở vùng biên giới
phía Tây Nebraska. Với dân số vỏn vẹn 2.000 người và không có trụ
đèn giao thông nào, đây là kiểu thị trấn có nhiều nhà thờ hơn ngân
hàng, nơi các nông dân từ những cánh đồng chạy thẳng vào quán café
của gia đình để dùng bữa trưa, chân đi ủng Wolverine, đầu đội mũ
lưỡi trai John Deere, với một chiếc kềm - dụng cụ sửa hàng rào đeo
trên hông. Vậy là cô bé 6 tuổi Cassie và em trai là Colton rất hứng
khởi trên đường đến thành phố lớn Sioux Falls thăm đứa em họ mới
sinh.
Lũ trẻ đùa giỡn huyên thuyên suốt 90 dặm đường đến thành phố
North Platte, Colton chơi trò chiến đấu với mô hình các siêu anh hùng
và cứu được thế giới vài lần trong suốt đoạn đường. Khoảng gần 10
giờ đêm, chúng tôi ghé vào thị trấn với dân số khoảng 24.000 người,
nổi tiếng là quê hương của ông bầu sô Viễn Tây nổi tiếng, Buffalo Bill
Cody. North Platte sẽ là điểm dừng có người cuối cùng - hoặc ít ra
cũng là trạm dừng cuối cùng - của chúng tôi trong đêm đó vì chúng tôi
sẽ đi về hướng Ðông Bắc, băng qua những dải ruộng bắp dài tít tắp,
hoang vắng, không có gì ngoài nai, gà lôi, lâu lâu mới điểm xuyết vài
ngôi nhà vườn lẻ loi. Chúng tôi đã tính trước sẽ dừng ở đó để đổ đầy
xăng cũng như nạp đầy dạ dày của cả nhà.
Sau khi đổ đầy xăng tại một trạm ở Sinclair, chúng tôi đi theo
đường Jeffers, và tôi nhận ra mình đang băng qua một ngã tư mà nếu
quẹo trái, chúng tôi sẽ đến Trung tâm Y tế Địa phương Great Plains.
Tại nơi đó, chúng tôi đã trải qua 15 ngày kinh hoàng hồi tháng 3, mà
phần lớn thời gian, chúng tôi đã quì để cầu xin Chúa cứu sống Colton.
Chúa đã đáp lời, còn vợ chồng tôi về sau thường đùa rằng sự việc này
đã lấy đi mất cả mấy năm trong đời chúng tôi.
Đôi khi cười lại là cách duy nhất vượt qua những lúc gian khó, và
khi băng qua giao lộ, tôi quay sang nói đùa với Colton một chút.
“Colton này, nếu quẹo ở đây, mình có thể quay lại bệnh viện,” tôi
nói. “Con có muốn quay lại bệnh viện không?”
Cậu trai nhỏ đang tuổi mẫu giáo của chúng tôi khúc khích cười.
“Không, ba ơi, con không đi đâu. Ba đưa chị Cassie đi đi... chị Cassie
có thể đi bệnh viện!”
Cô chị ngồi kế bên cười to. “Ứ. Con cũng không muốn đến đó
đâu!”
Trong ghế bên cạnh, Sonja quay lại nhìn đứa con trai bé nhỏ đang
ngồi ngay sau lưng tôi. Tôi hình dung ra mái tóc húi cua vàng óng và
đôi mắt xanh da trời như đang ánh lên trong bóng tối. “Con còn nhớ
bệnh viện đó không, Colton?” Sonja hỏi.
“Còn chứ, mẹ, con còn nhớ,” bé trả lời. “Ở đó, có các thiên thần
hát cho con nghe.”
Bên trong chiếc Expedition, thời gian bất chợt như ngưng đọng.
Sonja và tôi nhìn nhau, như nói với nhau trong thinh lặng: Có phải
con mình vừa nói những điều đó thật không?
Sonja nghiêng người, thì thầm vào tai tôi, “Con có bao giờ nói với
anh về các thiên thần chưa?”
Tôi lắc đầu. “Nó có nói với em không?”
Cô ấy cũng lắc đầu.
Tôi nhìn thấy một tiệm Arby's, chạy vào bãi đậu xe, và tắt máy.
Ánh sáng trắng từ ngọn đèn đường hắt vào trong xe. Ngồi quay lưng
lại, tôi quay xuống nhìn Colton. Vào lúc đó, tôi bỗng giật mình nhận
ra sự bé bỏng, thơ ngây của đứa con trai. Cậu bé thật sự là một cậu
trai nhỏ vẫn hay nói chuyện với một vẻ trong sáng đáng yêu (và đôi
lúc e thẹn) theo kiểu thấy-sao-nói-vậy. Nếu bạn có con cái, bạn sẽ hiểu
ý tôi: Cái độ tuổi mà một đứa trẻ chỉ tay vào một cô đang mang thai
và hỏi (rất to), “Ba ơi, sao cô đó mập quá vậy ba?” Colton đang trong
cái lứa tuổi bập bẹ nhìn đời, khi cậu bé chưa được học những qui tắc
cư xử tinh tế hay những thủ đoạn mưu mô.
Tất cả những suy nghĩ đó lóe lên trong đầu tôi khi tôi đang tìm
cách đáp lại lời nói của đứa con trai 4 tuổi rằng các thiên thần đã hát
cho cậu bé nghe. Cuối cùng, tôi cũng lên tiếng: “Colton ơi, con nói là
các thiên thần đã hát cho con nghe khi con nằm bệnh viện phải
không?”
Bé gật đầu thành thật.
“Các thiên thần hát gì?”
Colton đưa mắt nhìn lên, rồi nhìn sang phải, tỏ vẻ như đang nhớ
lại. “A, các thiên thần hát bài 'Chúa yêu thương tôi' và 'Joshua đánh
trận ở Jericho'” cu cậu nói với vẻ thành thật. “Con xin được nghe bài
'Chúng tôi sẽ làm cho bạn nhảy múa', nhưng các thiên thần không hát
bài đó.”
Khi Cassie cười khẽ, tôi nhận ra rằng Colton trả lời rất thành thật
và nhanh chóng, không hề ấp úng chút nào.
Sonja và tôi lại đưa mắt nhìn nhau. Chuyện gì đang xảy ra? Có
phải bé đã mơ khi ở trong bệnh viện?
Và tôi lại thầm hỏi: Mình nên nói gì nữa bây giờ?
Và một thắc mắc nữa hiện lên trong đầu tôi: “Colton ơi, những
thiên thần đó trông như thế nào?”
Cậu bé trả lời, như cười thầm khi nhớ về một kỷ niệm. “A, một
thiên thần trông giống ông nội Dennis, nhưng không phải, vì ông nội
có đeo kính.”
Và rồi cu cậu trở nên nghiêm túc. “Ba ơi, Chúa Giêsu cho các
thiên thần xuống hát cho con nghe vì con quá sợ. Các thiên thần giúp
con thấy dễ chịu hơn.”
Chúa Giêsu ư?
Tôi lại liếc nhìn Sonja và thấy cô ấy há hốc miệng. Tôi quay lại hỏi
Colton. “Ý con là Chúa Giêsu cũng có mặt phải không?”
Con trai bé bỏng của tôi gật đầu như thể đang tường thuật lại một
điều hiển nhiên hệt như khi nó nhìn thấy một chú bọ dừa ở sân nhà.
“Dạ, Chúa Giêsu cũng có ở đó.”
“À, Chúa Giêsu đứng ở đâu?”
Colton nhìn thẳng vào mắt tôi. “Con ngồi trong lòng của Chúa.”
Không gian bỗng như ngưng đọng lại, như thể có ai đó vừa nhấn
nút dừng cuộc nói chuyện. Ngạc nhiên đến lặng người, Sonja và tôi
nhìn nhau và trao nhau một thông điệp nữa trong yên lặng: Được rồi,
chúng ta thật sự cần phải nói về chuyện này.
Cả hai chúng tôi ra khỏi xe và đi vào tiệm Arby's, rồi ít phút sau lại
trở ra với túi thức ăn trên tay. Trên đường trở ra, tôi và Sonja thầm
trò chuyện.
“Em có tin con thực sự đã nhìn thấy các thiên thần không?”
“Lại còn Chúa Giêsu nữa?”
“Em không biết.”
“Nằm mơ chứ gì?”
“Anh không biết – con có vẻ rất chắc chắn.”
Quay trở vào xe, Sonja phát cho các con sandwich bò nướng và
bánh khoai tây, và tôi lại có một câu hỏi nữa.
“Colton ơi, con ở đâu khi nhìn thấy Chúa Giêsu?”
Cậu bé nhìn tôi với cái vẻ như thể muốn nói: Đã nói về chuyện
này rồi mà?
“Ở trong bệnh viện. Ba biết mà, lúc đó bác sĩ O'Holleran đang
chữa cho con.”
“Này con, bác sĩ chữa cho con cũng vài ba lần, con nhớ không?”
Tôi nói. Colton phải làm phẫu thuật cắt ruột thừa rồi súc ruột ở bệnh
viện, và sau đó là xóa sẹo lồi, nhưng là tại phòng khám của bác sĩ
O'Holleran. “Con có chắc là ở bệnh viện không?”
Colton gật đầu. “Vâng, ở bệnh viện ạ. Khi con đang ở với Chúa
Giêsu, ba đang cầu nguyện, và mẹ đang nói chuyện điện thoại.”
Cái gì?
Điều đó có nghĩa đúng là cậu đang nói về những việc xảy ra trong
bệnh viện. Nhưng bằng cái cách quỉ quái nào mà thằng bé biết được
chúng tôi ở đâu trong lúc ấy?
“Nhưng con đang ở trong phòng mổ, Colton,” tôi nói. “Làm sao
con biết ba mẹ đang làm gì?”
“Vì con có thể thấy ba mẹ lúc đó,” Colton trả lời rất đỗi hồn
nhiên. “Con bay ra khỏi thân thể mình và lúc đó con nhìn xuống, con
thấy bác sĩ đang mổ cho con. Và con thấy ba mẹ. Ba đang cầu nguyện
một mình trong căn phòng nhỏ; mẹ thì đang ở một phòng khác, cầu
nguyện và nói chuyện điện thoại.”
Lời Colton nói làm tôi rúng động toàn thân. Sonja mở to mắt,
nhưng không nói gì cả, chỉ nhìn thẳng vào tôi và lơ đãng cắn vào
miếng sandwich.
Tôi không thể kham nổi thêm một thông tin nào nữa. Tôi nổ máy
xe, lái chiếc Expedition quay trở lại đường cái, và thẳng hướng đến
South Dakota. Khi tôi ra đến xa lộ I-80, hai bên đường đồng cỏ trải
dài tít tắp, loáng thoáng đâu đó mấy ao nuôi vịt lấp lóe dưới ánh
trăng. Lúc đó, đêm đã rất khuya, và tất cả vợ con tôi nhanh chóng
chìm vào giấc ngủ say như dự tính.
Khi chỉ còn tiếng bánh xe chạm mặt đường rì rầm dưới chân, tôi
suy nghĩ và kinh ngạc về những điều mình vừa nghe thấy. Con trai bé
bỏng của chúng tôi vừa nói ra những điều khó tin – và thằng bé vừa
chứng minh bằng những thông tin đáng tin, những điều mà không
cách nào nó có thể biết được. Chúng tôi chưa hề kể cho Colton nghe
chúng tôi đã làm gì khi nó đang được phẫu thuật, khi đang được gây
mê, gần như bất tỉnh.
Tôi cứ tự hỏi đi hỏi lại, Làm sao thằng bé biết được? Nhưng ngay
khi chúng tôi băng qua ranh giới bang South Dakota, tôi có một câu
hỏi khác: Liệu chuyện này có thật không?
CHƯƠNG 1
KHU VƯỜN CÔN TRÙNG BÒ
SÁT
HUYẾN ĐI CHƠI ĐẦY ÁC MỘNG của gia đình tôi lẽ ra là một
chuyến ăn mừng. Vào đầu tháng 3 năm 2003, tôi đã lên kế
hoạch đi Greeley, Colorado, tham dự một cuộc họp hội đồng
giáo khu Wesleyan. Bắt đầu từ tháng 8 trước, cả nhà chúng tôi
đã trải qua nhiều biến cố: 7 tháng gặp chấn thương và bệnh tật
liên tiếp: một người gãy chân, 2 cuộc phẫu thuật, và một dấu
hiệu cảnh báo ung thư cùng một lúc đã khiến cho tình hình tài chính
của chúng tôi kiệt quệ đến nỗi tôi thấy hoảng loạn khi nhận được các
hóa đơn. Đồng lương mục sư ít ỏi không bị ảnh hưởng, nhưng nguồn
tài chính của chúng tôi là việc kinh doanh cửa kéo ga-ra. Các biến cố
về sức khỏe của gia đình tôi đã gây tổn thất nặng nề.
C
Mặc dù vậy, đến tháng 2, chúng tôi có vẻ đã vượt qua được tất cả
những khó khăn đó. Vì dẫu sao cũng phải đi, chúng tôi quyết định
biến chuyến đi họp hội đồng thành một dịp cho gia đình – một dịp
vui chơi, khôi phục lại tinh thần và tâm trí, và tiếp tục phấn đấu với
niềm hy vọng mới.
Sonja nghe nói về một nơi vui chơi khá lý thú cho bọn trẻ khi vừa
qua khỏi Denver, gọi là Vườn Bướm. Được mệnh danh là “Vườn
động vật không xương sống,” Vườn Bướm mở cửa năm 1995, nằm
trong một dự án giáo dục với mục đích giáo dục mọi người về các kỳ
quan của thế giới côn trùng cũng như loài gặm nhấm dưới biển, các
chủng loài sống trong các hồ kín. Ngày nay, bọn trẻ khi đến vườn
động vật này sẽ được chào đón ngay từ ngoài cổng bởi một bức tượng
bằng kim loại rực rỡ, cao chót vót hình một con bọ ngựa trong tư thế
cầu nguyện. Nhưng hồi năm 2003, chú côn trùng to lớn này chưa
xuất hiện, thế nên tòa nhà thấp xây bằng gạch, chỉ cách khu phố thị
Denver chừng 15 phút lái xe, trông không có vẻ gì thu hút đối với trẻ
em khi nhìn từ bên ngoài. Nhưng bên trong đó có cả một thế giới kì
diệu đang chờ đón, đặc biệt là đối với trẻ cỡ tuổi Colton và Cassie.
Điểm dừng đầu tiên của cả nhà là Khu “Bò mà xem”, một căn
phòng đặt đầy những lồng kính nuôi các loài côn trùng và chân khớp
bò qua bò lại trông thật đáng sợ. Một khu trưng bày mang tên Tháp
nhện Tarantula đã hút chặt sự chú ý của Cassie và Colton như một
thỏi nam châm. Cụm các nhà kính này, đúng như trong quảng cáo, là
một cái tháp cao gồm những lồng kính chứa các loài nhện chân lớn,
đầy lông lá khiến bạn vừa mê vừa sợ.
Cassie và Colton lần lượt trèo lên bậc tam cấp để nhìn xem các cư
dân ở các tầng trên của Tháp Nhện Tarantula. Trong một bể kính,
một con nhện Tarantula ngồi trong góc, bộ xương ngoài của nó được
bao phủ bởi một lớp lông xám tái “đáng yêu” theo cách mô tả trong áp
phích quảng cáo triển lãm. Một lồng kính khác chứa một con nhện
lông hai màu đỏ đen xuất xứ từ Ấn Độ. Một cư dân trông dễ sợ hơn
chính là con “tarantula xương xẩu.” Nó được đặt tên đó vì những cái
chân đen trông như được phân ra từng khúc bởi các đường màu
trắng khiến nó trông như một bức hình chụp X-quang đảo ngược. Sau
đó chúng tôi mới biết loại nhện lông xương xẩu đặc biệt này hơi nổi
loạn một chút: Có một lần, không biết bằng cách nào, nó vượt ngục,
bò qua khu vực kế bên, và chén anh bạn hàng xóm như bữa trưa.
Khi Colton nhảy lên ghế để xem con tarantula đỏ trông ra sao,
cậu nhóc đưa mắt nhìn tôi, cười toe toét, khiến tôi ấm lòng. Tôi cảm
thấy các cơ cổ bắt đầu thả lỏng và ở đâu đó trong người tôi một phần
áp lực được giải tỏa, và cảm xúc tôi tựa hồ như buông một tiếng thở
dài nhẹ nhõm. Lần đầu tiên sau nhiều tháng, tôi cảm thấy mình có thể
tận hưởng hạnh phúc với gia đình.
“Ôi, nhìn con nhện đó kìa!” Cassie reo lên, chỉ vào một cái lồng
kính. Gần 6 tuổi và đầy tinh nghịch, con gái tôi thật lanh lợi như thừa
hưởng từ mẹ. Cassie chỉ vào bảng chú giải có ghi: “Loài ăn chim
Goliath... con cái có thể dài hơn 27cm.”
Con nhện trong chiếc bể kính này dài khoảng 13cm, nhưng cả
người nó to bằng cổ tay của Colton. Nó nhìn chăm chăm qua vách
kính, mắt mở to. Tôi nhìn qua và thấy Sonja nhăn nhăn mũi.
Tôi nghĩ có một anh nhân viên vườn thú tình nguyện cũng nhìn
thấy vẻ mặt của cô ấy, vì thế anh ta mau chóng đến thuyết minh về
con nhện ăn chim này. “Con Goliath xuất xứ từ Nam Mỹ,” anh nói
bằng một giọng nhẹ nhàng, thân thiện như có ý là Chúng không đáng
sợ như quý vị nghĩ đâu. “Tarantula gốc Bắc và Nam Mỹ rất ngoan.
Thậm chí, quý vị còn có thể cầm một con ngay đằng kia.” Anh chỉ tay
vào một nhân viên khác đang cầm một con tarantula nhỏ hơn trong
lòng bàn tay cho một nhóm trẻ xem gần hơn.
Cassie băng nhanh qua căn phòng để xem có gì ở chỗ đông đúc
đó, Sonja, Colton và tôi đi theo sau. Trong một góc phòng được trang
trí như một cái lều tre, người trông vườn thú đang giới thiệu ngôi sao
của khu “Bò mà xem”, Nhện hồng Rosie. Là một con tarantula với
lông màu hồng từ Nam Mỹ, Rosie là giống nhện lông lá, thân to bằng
trái mận với chân dài 6 inch, to như cây bút chì. Nhưng điều tuyệt
nhất về Rosie theo bọn trẻ chính là nếu bạn đủ can đảm cầm nó, chỉ
cần một chút thôi, nhân viên vườn thú sẽ thưởng cho bạn một hình
dán.
Bây giờ, nếu có con nhỏ, bạn biết đây có những lúc tụi nhỏ thích
hình dán hơn một nắm tiền. Và hình dán này cũng đặc biệt: nền
trắng, với hình con tarantula và dòng chữ: “Tôi đã cầm nhện Rosie!”
Đây không phải là hình dán bình thường; mà chính là tấm huân
chương cho lòng can đảm!
Cassie cúi người thấp xuống gần tay người nhân viên. Colton mở
to cặp mắt tròn xoe màu xanh biển. “Con có thể lấy cái hình dán đó
không ba?”
“Con phải cầm Rosie thì mới được hình dán, cậu nhóc ạ.”
Ở cái tuổi của cậu, Colton có một cách nói chuyện đặc biệt, vừa
nghiêm túc, vừa thổn thức, trầm trồ một cách hồn nhiên. Cậu là một
cậu nhóc thông minh, vui tính với ánh mắt nhìn cuộc đời đầy tươi
mới, rạch ròi trắng đen. Cậu thấy một món đồ chơi hoặc là thú vị
(như LEGO) hoặc không (như búp bê Barbie). Cậu thích ăn một món
ăn (như bò bít tết) hoặc là ghét nó (như đậu xanh). Có người tốt và
người xấu, và món đồ chơi yêu thích nhất của cậu là các búp bê hình
các nhân vật anh hùng hành động. Siêu anh hùng có ý nghĩa to lớn
đối với Colton. Cậu luôn đem theo các hình nhân Người Nhện, Người
Dơi, và anh hùng du hành vũ trũ Buzz Lightyear theo bên mình đi
mọi nơi. Như thế, cho dù là lúc cậu phải yên vị trong ghế sau của
chiếc xe hơi mọi địa hình, trong phòng chờ, hay ở nhà thờ, cậu cũng
có thể sáng tạo ra những cảnh tượng các anh hùng cứu thế giới. Các
cảnh này thường có sự xuất hiện của những thanh gươm, vũ khí yêu
thích của Colton để tiêu diệt cái ác. Ở nhà, cậu có thể đóng vai siêu
anh hùng. Tôi thường trở về nhà và thấy Colton với vũ khí “trang bị
tận răng”, với một thanh gươm đồ chơi giắt ngang hông và mỗi tay
cầm thêm một thanh nữa: “Con là Zorro đây, ba ơi! Ba chơi với con
không?”
Lúc này, Colton dõi mắt nhìn chăm chú vào con nhện trong tay
người nhân viên, và tôi thấy như thể cậu đang ước ao có được một
thanh gươm ngay lúc này, ít nhất cũng giúp cậu giữ vững tinh thần.
Tôi cố hình dung xem con nhện trông phải to như thế nào đối với một
cậu bé chưa cao đến 1,2m. Con trai tôi đúng là một cậu bé gan góc và
hiếu động vốn đã từng đến gần và tiếp xúc với nhiều loài kiến và bọ,
và các loài động vật nhiều chân và bò sát khác. Nhưng không có loài
nhiều chân đáng sợ nào to bằng cả cái đầu và lông dài bằng tóc của
cậu nhóc.
Cassie đứng thẳng người dậy và cười với Sonja. “Con sẽ cầm nó,
mẹ ơi. Con được phép cầm Rosie không mẹ?”
“Được, nhưng con phải đợi đến lượt mình đã,” Sonja trả lời.
Cassie xếp hàng sau vài trẻ khác. Colton không hề rời mắt khỏi
nhện Rosie trong khi đầu tiên là một bé trai, rồi một bé gái đến cầm
con nhện khổng lồ trong tay và người nhân viên tặng cho chúng các
tấm hình dán chúng ao ước. Ngay sau đó chính là thời điểm quan
trọng của Cassie. Colton ôm lấy chân tôi, đủ gần để nhìn thấy chị nó,
nhưng cũng như muốn chạy trốn cùng một lúc, khi cậu nhóc cứ đẩy
đẩy đầu gối tôi. Cassie đưa bàn tay ra và cả nhà cùng chăm chăm nhìn
nhện Rosie, có vẻ quá quen với những con người bé nhỏ, hiếu kỳ,
đang nhấc từng chân cái chân lông lá và chạy nhanh qua chiếc cầu nối
giữa bàn tay người nhân viên lên bàn tay Cassie và rồi quay trở lại với
người nhân viên.
“Thành công rồi!” Người nhân viên nói trong khi tôi và Sonja vỗ
tay hoan hô Cassie. “Giỏi lắm!” Rồi người nhân viên đứng lên, gỡ một
miếng hình dán màu trắng và vàng ra khỏi dây hình dán dài, đưa cho
Cassie.
Dĩ nhiên, việc này khiến cho Colton cảm thấy tệ hơn, cậu bé
không chỉ thấy mình thua kém cô chị gái mà giờ đây còn là đứa bé họ
Burpo duy nhất không có được cái hình dán nào. Cậu chăm chú nhìn
phần thưởng của Cassie đầy ao ước, rồi lại nhìn nhện Rosie, và tôi có
thể nhận ra cậu đang cố gắng đấu tranh với nỗi sợ hãi. Cuối cùng, cậu
bĩu môi, thôi không nhìn Rosie nữa, mà quay ra nhìn tôi. “Con không
muốn cầm nó đâu.”
“Vậy cũng được,” Tôi nói.
“Nhưng con có thể lấy hình dán được không?”
“Không con à, cách duy nhất để có hình dán là phải cầm nhện
Rosie trên tay. Cassie làm được rồi. Con cũng có thể làm được nếu
con muốn. Con muốn thử không? Chỉ một chút thôi?”
Colton nhìn lại chú nhện, rồi nhìn chị cậu, và tôi có thể thấy
những suy nghĩ quay mòng mòng đằng sau ánh mắt ấy: Cassie làm
được rồi đó. Chị ấy không hề bị cắn.
Rồi cậu lắc đầu một cách chắc chắn: Không. “Nhưng con vẫn
muốn có hình dán!” Cậu nhất quyết. Lúc đó, Colton còn 2 tháng nữa
mới tròn 4 tuổi – và cậu luôn giữ vững lập trường.
“Chỉ khi cầm được Rosie thì con mới có hình dán,” Sonja nói.
“Con chắc chắn không muốn cầm phải không?”
Colton trả lời bằng cách nắm lấy tay Sonja và cố lôi mẹ ra xa khỏi
người nhân viên. “Không, con muốn đi xem sao biển cơ.”
“Con có chắc không?” Sonja hỏi. Gật đầu lia lịa, Colton bước
nhanh qua cánh cửa Khu Vườn Côn Trùng và Bò Sát.
ƯỚC SANG PHÒNG KẾ BÊN, chúng tôi thấy hàng dãy các bể
cá thủy tinh và “hồ san hô” trong nhà. Chúng tôi rảo quanh khu
trưng bày, thưởng lãm những con sao biển, các động vật
nhuyễn thể, và hải quì trông giống như những bông hoa khoe
sắc dưới mặt nước. Cassie và Colton ồ lên thích thú khi hai đứa
nhúng tay vào các hồ san hô nhân tạo và chạm vào các sinh vật
mới lạ chúng chưa từng nhìn thấy.
B
Sau đó, chúng tôi bước vào một khu vực giếng trời rộng lớn, chen
chúc những lá rừng, những cây leo buông xuống trước mặt, những
cành cây vươn lên trên cao. Tôi nhìn những cây cọ dầu và những loài
hoa độc đáo trông như thể xuất xứ từ mấy quyển sách truyện của
Colton. Và xung quanh chúng tôi là hàng trăm cánh bướm như những
đám mây lúc thì nhẹ nhàng lướt qua, lúc lại như xoáy lượn.
Trong khi bọn trẻ hứng thú khám phá xung quanh, tôi thả dòng
suy tưởng trở lại mùa hè năm ngoái, khi Sonja và tôi cùng chơi trong
đội bóng mềm như mọi năm. Chúng tôi thường vào được nhóm 5 đội
giỏi nhất, mặc dù nằm trong đội “lão tướng” – nghĩa là: những người
tuổi băm – đấu với các đội bóng của sinh viên. Giờ đây, tôi cảm thấy
oái oăm là thử thách 7 tháng qua của gia đình tôi bắt đầu từ chấn
thương trong trận đấu cuối cùng của giải đấu cuối cùng, mùa giải
2002. Tôi chơi ở vị trí giữa sân, và Sonja chạy ở đường biên. Lúc đó,
Sonja vừa lấy bằng thạc sĩ ngành thư viện và đối với tôi lúc đó, cô ấy
còn xinh đẹp hơn cả lần đầu tôi nhìn thấy cô ấy lúc còn là sinh viên
năm nhất đang đi bộ băng qua sân trường Đại học Bartleswille
Wesleyan.
Mùa hè sắp kết thúc, nhưng cái nóng oi bức của ngày hè gắt gỏng
vẫn không hề dịu, khao khát chờ mưa xuống. Từ Imperial chúng tôi
đã đi khoảng 20 dặm đến làng Wauneta tham gia một giải đấu loại
kép. Gần nửa đêm, chúng tôi đang thi đấu hết mình dưới ánh sáng
màu trắng xanh của bóng đèn sân vận động.
Tôi không nhớ rõ lúc đó tỉ số là bao nhiêu, nhưng tôi nhớ lúc đó
đang là những phút cuối của trận đấu, và chiến thắng đang ở trong
tầm tay. Tôi đã ghi được một cú đúp và đang ở điểm đến thứ 2. Người
đánh gậy của chúng tôi bước lên và phát bóng ra đến bãi cỏ giữa sân.
Tôi nhận thấy cơ hội. Là hậu vệ, tôi phóng một mạch đến điểm thứ
ba.
Tôi cảm thấy trái bóng bay về phía sân trong.
Huấn luyện viên ở điểm thứ ba ra hiệu dữ dội: “Chuồi lên đi!
Chuồi lên đi!”
Adrenaline như dâng tràn trong huyết quản, tôi lao người xuống
mặt đất và cảm thấy lớp đất đỏ kêu sột soạt bên dưới hông trái mình.
Hậu vệ ở điểm thứ ba của đội bạn vươn tay ra đón bóng và...
Rắc!
Chân tôi gãy kêu một tiếng to đến nỗi tôi tưởng như trái bóng bay
vút từ ngoài biên và nện vào chân. Ống quyển và mắt cá chân tôi nóng
bừng như lửa nổ. Tôi ngã ra sau, co rúm người lại, co đầu gối lên gần
bụng. Cơn đau điếng người, tôi thấy xung quanh bụi đất nhạt nhòa
rồi vây quanh tôi là những gương mặt đầy lo lắng khi hai đồng đội tôi,
và cả hai nhân viên cấp cứu, chạy đến trợ giúp.
Tôi lờ mờ thấy Sonja chạy đến bên tôi. Qua nét mặt của cô ấy, tôi
cảm nhận được chân tôi bị gập lại một cách bất bình thường. Cô ấy
lùi lại để nhân viên cấp cứu tác nghiệp. Hình chụp X-quang ở bệnh
viện cho thấy tôi bị 2 chấn thương nghiêm trọng. Xương ống chân
của tôi, theo cách bác sĩ gọi, đã bị “gãy xoắn ốc”, nghĩa là hai đầu của
đoạn gãy trông giống như hình xoắn ốc trên mũi khoan. Mắt cá chân
của tôi cũng gãy làm đôi. Đó có thể chính là tiếng gãy tôi nghe thấy.
Sau này, tôi biết được tiếng kêu rắc đó to đến nỗi người ngồi ở những
hàng đầu trên khán đài cũng có thể nghe thấy.
Âm thanh đó vang lại trong đầu tôi khi Sonja và tôi nhìn Cassie và
Colton chạy vụt lên phía trước chúng tôi trong khu Nhà Lồng Bươm
Bướm. Bọn trẻ dừng lại trên một cây cầu nhỏ, và nhìn xuống một ao
cá, vừa chỉ trỏ, vừa trò chuyện. Từng đàn bướm dập dìu bay xung
quanh chúng đôi, và tôi liếc nhìn tờ giới thiệu mua ở quầy đón khách
để xem tên chúng là gì. Có loài bướm xanh Nam Mỹ với đôi cánh màu
xanh biển đậm, loài bướm cánh giấy màu trắng và đen bay chầm
chậm và nhẹ nhàng như những mảnh báo vụn rơi lơ lửng trong
không trung, và loài bướm vàng phương nam, một giống bướm miền
nhiệt đới với đôi cánh vàng như trái xoài tươi.
Lúc này, tôi chợt thấy thật hạnh phúc khi cuối cùng cũng có thể
đi được mà không khập khiễng. Ngoài cơn đau như cắt của cái chân
gãy, tác động nhãn tiền của tai nạn lần này chính là tình hình tài
chính của gia đình tôi. Việc leo lên xuống thang trở nên rất khó khăn
khi phải kéo lê cái chân bó bột nặng 4 kí và không gập đầu gối được.
Tài khoản ngân hàng của chúng tôi nhanh chóng cạn kiệt. Số tiền ít ỏi
chúng tôi để dành được từ mức lương của một mục sư bốc hơi nhanh
chóng sau vài tuần. Trong lúc đó, thu nhập lại bị giảm đi một nửa.
Nỗi đau, mặc dù ...
Nguyên tác: Heaven is for Real
Tác giả: Todd Burpo
Nhà xuất bản: NXB Hội Nhà Văn
Công ty phát hành: Phương Nam
Ngày xuất bản: 03-2012
Số trang: 224
Làm ebook: Heoconmtv
Nguồn: Waka
Ngày hoàn thành: 13-04-2017
Nếu có điều kiện hãy mua sách để ủng hộ tác giả và nhà xuất bản nhé!
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
ẠN SẼ CẢM ĐỘNG BỞI NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐƠN
GIẢN chân thành, hồn nhiên của một bé trai đã từng đến
thiên đường. Câu chuyện thật hấp dẫn và thuyết phục.
Đây là quyển sách bạn nên đọc. Nếu bạn đã sẵn sàng đến
thiên đường, quyển sách sẽ tạo cảm hứng cho bạn. Còn
nếu bạn chưa sẵn sàng, hãy để một trẻ nhỏ dắt bạn đi.
Như Colton nói, “Thiên đường có thật.”
“B
- Don Piper
Diễn giả và Tác giả cuốn 90 phút nơi Thiên đàng
“Thiên đường không phải là giải an ủi. Nơi đó thật sự là mái nhà
vĩnh hằng đối với những ai có niềm tin. Hãy đồng hành cùng bé
Colton và Todd để được nghe miêu tả những trải nghiệm bản thân
về những điều kỳ diệu, những bí ẩn, và sự uy nghi của thiên đường.
Điều đó khiến cho thế gian thêm trọn vẹn ý nghĩa và tương lai trở
nên hữu ích hơn.”
- Brady Boyd
Mục sư quản nhiệm, Giáo đường Đời sống mới, Colorado Springs
“Tôi thường không đọc những truyện kể về trải nghiệm 'cận tử'
đơn giản chỉ vì thật lòng tôi không mấy tin tưởng tác giả những câu
chuyện này. Thế rồi, tôi đã đọc quyển sách này từ đầu đến cuối và,
thậm chí, tôi hầu như không thể ngưng lại! Vì sao ư? Vì tôi quen biết
người viết và tôi tin anh ấy. Todd Burpo cho chúng ta một món quà
tuyệt vời khi anh và con trai mình vén bức màn đến cõi vĩnh hằng,
cho chúng ta"
- Tiến sĩ Everett Piper
Chủ tịch, Đại học Oklahoma Wesleyan
Tác giả cuốn Vì sao tôi là người tự do và những tư tưởng bảo
thủ khác (Why I'm a Liberal and Other Conservative Ideas)
“Trong quyển sách tuyệt vời này, Colton, mới bốn tuổi, có một
trải nghiệm được xem như cận tử khi đang được gây mê. Tôi đã
nghiên cứu hơn 1.600 trường hợp cận tử và thấy rằng các trường
hợp điển hình có thể xảy đến với những trẻ em rất nhỏ và trong lúc
bị gây mê. Ngay cả sau khi đã nghiên cứu rất nhiều trường hợp
NDE, tôi vẫn thấy trải nghiệm của Colton đầy kịch tính, đặc biệt và
là một nguồn cảm hứng đối với các tín đồ Kitô giáo khắp mọi nơi.”
- Jeffrey Long, Tiến sĩ Y khoa,
Người sáng lập Quỹ nghiên cứu Trải nghiệm Cận tử
Tác giả cuốn Bằng chứng về Đời sau: Khoa học nghiên cứu các
Trải nghiệm Cận tử
“Nhiều câu chuyện cần được kể lại, đơn giản là vì những câu
chuyện đó có đời sống riêng của chúng. Quyển sách bạn đang cầm
trên tay thuộc loại ấy. Nhưng bạn sẽ không thể giữ nó riêng cho
mình; nó sẽ lan đi qua những cuộc trò chuyện của bạn với những
người chưa được nghe kể. Tôi biết bạn sẽ làm thế vì tôi đã làm thế.”
- Phil McCallum
Mục sư quản nhiệm, Giáo đường Evergreen,
Bothell, Washington
“Thánh kinh miêu tả Thiên đường là nơi cư ngụ của Chúa Trời.
Đó là nơi có thật, chốn cư ngụ vĩnh hằng cho những ai dâng hiến
cuộc đời mình cho Chúa. Trong quyển sách này, Todd Burpo kể lại
trải nghiệm của con trai mình khi cậu trải qua ca mổ ruột thừa. Câu
chuyện thật chân thực, cảm động và đầy khích lệ đối với những ai
hy vọng về chốn vĩnh hằng.”
- Robert Morris
Mục sư, Giáo đường Gateway, Southlake, Texas
“Thiên Đường Có Thật là một quyển sách tuyệt vời. Nó khẳng
định lại niềm tin quan trọng như thế nào trong cuộc đời chúng ta –
đối với cả trẻ em cũng như người lớn.”
- Timothy P. O'Holleran, Tiến sĩ Y khoa
“Câu chuyện của Colton có thể được kể trong Tân Ước – nhưng
Chúa Trời đã chọn cách truyền đạt với chúng ta trong thế kỷ 21 này
qua cái nhìn trong sáng của một đứa trẻ, tiết lộ một số bí ẩn về thiên
đường. Giọng văn đầy cuốn hút và câu chuyện thật đáng kinh ngạc,
khiến ta háo hức muốn nghe thêm.”
- Jo Anne Lyon
Tổng trưởng giáo hạt, Nhà thờ Wesleyan
“Chúa Trời thật sáng tạo và đầy xác tín! Quyển sách này sẽ thể
hiện điều này rõ hơn theo những góc độ mới. Tôi đã biết Colton từ
lúc cậu mới ra đời. Khi mới chập chững biết đi, cậu đã có cảm xúc
mãnh liệt về tâm linh. Khi mới 3 tuổi, cậu ngồi trên gối tôi, nhìn vào
mắt tôi và hỏi tôi có muốn lên thiên đường sau khi chết không. Rồi
cậu bảo tôi rằng “Bác phải có Chúa Giêsu ở trong tim.” Tôi xem
quyển sách này như một góc nhìn mới đối với thực tế về Chúa Trời,
Người thường có vẻ như ẩn khuất nhưng xuất hiện bất ngờ theo
cách của Người.”
- Phil Harris
Tổng giáo hạt, Khu Colorado-Nebraska thuộc Nhà thờ Wesleyan
“Thật là một ân sủng khi biết tranh vẽ của Akiane đã tác động
đến cuộc sống của một ai khác. Bức họa Hoàng tử Hòa Bình của cô
bé về Đấng Ki-tô luôn là một trong những tác phẩm được yêu thích
nhất. Là bậc cha mẹ của một đứa bé đã trải nghiệm những điều phi
thường và không thể giải thích theo những tiêu chí của trần gian, tôi
chúc tụng gia đình này với niềm hân hoan của họ và trong việc họ kể
lại câu chuyện đặc biệt của mình.”
- Forelli Kramarik
Đồng tác giả cuốn Akiane: cuộc đời, trái tim, thơ ca
LỜI MỞ ĐẦU
K
HI KỂ CÂU CHUYỆN VỀ COLTON, chúng tôi đã có cơ hội làm
việc với những con người không những chuyên nghiệp và đầy
nhiệt huyết mà còn là những con người chân thật và đầy yêu
thương. Dĩ nhiên, chúng tôi rất ấn tượng với kiến thức chuyên
môn của họ, nhưng điều mà cả Sonja và tôi cảm thấy trân
trọng hơn nhiều chính là tấm lòng và tính cách của họ.
Phil McCallum, Joel Kneedler, Lynn Vincent, và Debbie Wickwire
không chỉ gác cả cuộc sống để thực hiện quyển sách này, họ còn vun
đắp cho cuộc sống gia đình chúng tôi thêm phong phú. Nếu không có
những nỗ lực lớn lao và tinh thần nhạy bén của họ, quyển sách Thiên
đường có thật đã không thể được hoàn thành một cách mỹ mãn như
vậy.
Chúng tôi cảm tạ Đức Chúa Trời mỗi ngày vì đã mang những con
người tài năng đến giúp chúng tôi kể câu chuyện của Colton. Mỗi
người trong số họ chính là một phước lành đối với chúng tôi.
Đối với tôi và Sonja, việc có được những người bạn như họ là một
đặc ân quý giá.
L
Ễ QUỐC KHÁNH GỢI LẠI KỶ NIỆM về những cuộc diễu hành
yêu nước, mùi thịt nướng thơm phức, bắp ngọt, và bầu trời
đêm bừng sáng ánh pháo hoa. Nhưng đối với gia đình tôi, kỳ lễ
Quốc Khánh năm 2003 có ý nghĩa to lớn vì những nguyên do
khác.
Vợ tôi, Sonja, và tôi lên kế hoạch đưa các con đi thăm gia đình
anh trai cô ấy, Steve, ở vùng Sioux Falls, South Dakota. Đó sẽ là lần
đầu chúng tôi gặp cậu cháu trai Bennett vừa chào đời 2 tháng trước.
Thêm vào đó, các con chúng tôi, Cassi và Colton, chưa từng biết đến
các thác nước trước đây. (Đúng thật là ở Sioux Falls có khu thác nước
Sioux). Nhưng ý nghĩa lớn nhất của chuyến đi này nằm ở chỗ đây là
lần đầu tiên chúng tôi rời khỏi quê nhà Imperial, bang Nebraska sau
khi chuyến đi Greeley, bang Colorado hồi tháng 3 biến thành cơn ác
mộng kinh khủng nhất trong đời vợ chồng tôi.
Nói một cách dễ hiểu hơn, trong chuyến đi chơi xa lần trước, một
đứa con của vợ chồng tôi suýt mất mạng. Nghe có vẻ thái quá, nhưng
lần này chúng tôi lo sợ đến mức gần như không muốn đi. Là một mục
sư, tôi không tin vào những điều mê tín. Tuy nhiên, một chút gì đó
huyễn hoặc, bất ổn trong lòng khiến tôi cảm thấy cả nhà chỉ an toàn
khi quanh quẩn đâu đó gần nhà. Thế nhưng cuối cùng, lý trí – và sự
thôi thúc được gặp bé Bennette, mà theo lời Steve là đứa bé dễ
thương nhất trần đời – đã chiến thắng. Thế là cả nhà chúng tôi gói
ghém đồ đạc cho chuyến đi cuối tuần trên chiếc Ford Expedition màu
xanh và sẵn sàng lên đường về phía Bắc.
Cả hai vợ chồng tôi đều nhất trí rằng cách đi hay nhất là lái xe chủ
yếu vào ban đêm. Bằng cách đó, cho dù cậu nhỏ Colton 4 tuổi với tính
cách hiếu động bị buộc phải ngồi yên một chỗ trong xe, ít ra nó cũng
sẽ ngủ trong gần suốt chuyến đi. Vậy là hơn 8 giờ tối một chút, tôi lái
chiếc Expedition ra khỏi nhà, hướng qua Nhà thờ Ngã tư Wesleyan,
giáo xứ chúng tôi, và chạy ra Đường cao tốc 61.
Vùng đồng bằng trải dài tít tắp dưới trời đêm trong vắt, nửa vầng
trăng trắng ngà treo vắt vẻo trên nền trời đêm mượt như nhung.
Imperial là một thị trấn nông nghiệp nhỏ nép gọn ở vùng biên giới
phía Tây Nebraska. Với dân số vỏn vẹn 2.000 người và không có trụ
đèn giao thông nào, đây là kiểu thị trấn có nhiều nhà thờ hơn ngân
hàng, nơi các nông dân từ những cánh đồng chạy thẳng vào quán café
của gia đình để dùng bữa trưa, chân đi ủng Wolverine, đầu đội mũ
lưỡi trai John Deere, với một chiếc kềm - dụng cụ sửa hàng rào đeo
trên hông. Vậy là cô bé 6 tuổi Cassie và em trai là Colton rất hứng
khởi trên đường đến thành phố lớn Sioux Falls thăm đứa em họ mới
sinh.
Lũ trẻ đùa giỡn huyên thuyên suốt 90 dặm đường đến thành phố
North Platte, Colton chơi trò chiến đấu với mô hình các siêu anh hùng
và cứu được thế giới vài lần trong suốt đoạn đường. Khoảng gần 10
giờ đêm, chúng tôi ghé vào thị trấn với dân số khoảng 24.000 người,
nổi tiếng là quê hương của ông bầu sô Viễn Tây nổi tiếng, Buffalo Bill
Cody. North Platte sẽ là điểm dừng có người cuối cùng - hoặc ít ra
cũng là trạm dừng cuối cùng - của chúng tôi trong đêm đó vì chúng tôi
sẽ đi về hướng Ðông Bắc, băng qua những dải ruộng bắp dài tít tắp,
hoang vắng, không có gì ngoài nai, gà lôi, lâu lâu mới điểm xuyết vài
ngôi nhà vườn lẻ loi. Chúng tôi đã tính trước sẽ dừng ở đó để đổ đầy
xăng cũng như nạp đầy dạ dày của cả nhà.
Sau khi đổ đầy xăng tại một trạm ở Sinclair, chúng tôi đi theo
đường Jeffers, và tôi nhận ra mình đang băng qua một ngã tư mà nếu
quẹo trái, chúng tôi sẽ đến Trung tâm Y tế Địa phương Great Plains.
Tại nơi đó, chúng tôi đã trải qua 15 ngày kinh hoàng hồi tháng 3, mà
phần lớn thời gian, chúng tôi đã quì để cầu xin Chúa cứu sống Colton.
Chúa đã đáp lời, còn vợ chồng tôi về sau thường đùa rằng sự việc này
đã lấy đi mất cả mấy năm trong đời chúng tôi.
Đôi khi cười lại là cách duy nhất vượt qua những lúc gian khó, và
khi băng qua giao lộ, tôi quay sang nói đùa với Colton một chút.
“Colton này, nếu quẹo ở đây, mình có thể quay lại bệnh viện,” tôi
nói. “Con có muốn quay lại bệnh viện không?”
Cậu trai nhỏ đang tuổi mẫu giáo của chúng tôi khúc khích cười.
“Không, ba ơi, con không đi đâu. Ba đưa chị Cassie đi đi... chị Cassie
có thể đi bệnh viện!”
Cô chị ngồi kế bên cười to. “Ứ. Con cũng không muốn đến đó
đâu!”
Trong ghế bên cạnh, Sonja quay lại nhìn đứa con trai bé nhỏ đang
ngồi ngay sau lưng tôi. Tôi hình dung ra mái tóc húi cua vàng óng và
đôi mắt xanh da trời như đang ánh lên trong bóng tối. “Con còn nhớ
bệnh viện đó không, Colton?” Sonja hỏi.
“Còn chứ, mẹ, con còn nhớ,” bé trả lời. “Ở đó, có các thiên thần
hát cho con nghe.”
Bên trong chiếc Expedition, thời gian bất chợt như ngưng đọng.
Sonja và tôi nhìn nhau, như nói với nhau trong thinh lặng: Có phải
con mình vừa nói những điều đó thật không?
Sonja nghiêng người, thì thầm vào tai tôi, “Con có bao giờ nói với
anh về các thiên thần chưa?”
Tôi lắc đầu. “Nó có nói với em không?”
Cô ấy cũng lắc đầu.
Tôi nhìn thấy một tiệm Arby's, chạy vào bãi đậu xe, và tắt máy.
Ánh sáng trắng từ ngọn đèn đường hắt vào trong xe. Ngồi quay lưng
lại, tôi quay xuống nhìn Colton. Vào lúc đó, tôi bỗng giật mình nhận
ra sự bé bỏng, thơ ngây của đứa con trai. Cậu bé thật sự là một cậu
trai nhỏ vẫn hay nói chuyện với một vẻ trong sáng đáng yêu (và đôi
lúc e thẹn) theo kiểu thấy-sao-nói-vậy. Nếu bạn có con cái, bạn sẽ hiểu
ý tôi: Cái độ tuổi mà một đứa trẻ chỉ tay vào một cô đang mang thai
và hỏi (rất to), “Ba ơi, sao cô đó mập quá vậy ba?” Colton đang trong
cái lứa tuổi bập bẹ nhìn đời, khi cậu bé chưa được học những qui tắc
cư xử tinh tế hay những thủ đoạn mưu mô.
Tất cả những suy nghĩ đó lóe lên trong đầu tôi khi tôi đang tìm
cách đáp lại lời nói của đứa con trai 4 tuổi rằng các thiên thần đã hát
cho cậu bé nghe. Cuối cùng, tôi cũng lên tiếng: “Colton ơi, con nói là
các thiên thần đã hát cho con nghe khi con nằm bệnh viện phải
không?”
Bé gật đầu thành thật.
“Các thiên thần hát gì?”
Colton đưa mắt nhìn lên, rồi nhìn sang phải, tỏ vẻ như đang nhớ
lại. “A, các thiên thần hát bài 'Chúa yêu thương tôi' và 'Joshua đánh
trận ở Jericho'” cu cậu nói với vẻ thành thật. “Con xin được nghe bài
'Chúng tôi sẽ làm cho bạn nhảy múa', nhưng các thiên thần không hát
bài đó.”
Khi Cassie cười khẽ, tôi nhận ra rằng Colton trả lời rất thành thật
và nhanh chóng, không hề ấp úng chút nào.
Sonja và tôi lại đưa mắt nhìn nhau. Chuyện gì đang xảy ra? Có
phải bé đã mơ khi ở trong bệnh viện?
Và tôi lại thầm hỏi: Mình nên nói gì nữa bây giờ?
Và một thắc mắc nữa hiện lên trong đầu tôi: “Colton ơi, những
thiên thần đó trông như thế nào?”
Cậu bé trả lời, như cười thầm khi nhớ về một kỷ niệm. “A, một
thiên thần trông giống ông nội Dennis, nhưng không phải, vì ông nội
có đeo kính.”
Và rồi cu cậu trở nên nghiêm túc. “Ba ơi, Chúa Giêsu cho các
thiên thần xuống hát cho con nghe vì con quá sợ. Các thiên thần giúp
con thấy dễ chịu hơn.”
Chúa Giêsu ư?
Tôi lại liếc nhìn Sonja và thấy cô ấy há hốc miệng. Tôi quay lại hỏi
Colton. “Ý con là Chúa Giêsu cũng có mặt phải không?”
Con trai bé bỏng của tôi gật đầu như thể đang tường thuật lại một
điều hiển nhiên hệt như khi nó nhìn thấy một chú bọ dừa ở sân nhà.
“Dạ, Chúa Giêsu cũng có ở đó.”
“À, Chúa Giêsu đứng ở đâu?”
Colton nhìn thẳng vào mắt tôi. “Con ngồi trong lòng của Chúa.”
Không gian bỗng như ngưng đọng lại, như thể có ai đó vừa nhấn
nút dừng cuộc nói chuyện. Ngạc nhiên đến lặng người, Sonja và tôi
nhìn nhau và trao nhau một thông điệp nữa trong yên lặng: Được rồi,
chúng ta thật sự cần phải nói về chuyện này.
Cả hai chúng tôi ra khỏi xe và đi vào tiệm Arby's, rồi ít phút sau lại
trở ra với túi thức ăn trên tay. Trên đường trở ra, tôi và Sonja thầm
trò chuyện.
“Em có tin con thực sự đã nhìn thấy các thiên thần không?”
“Lại còn Chúa Giêsu nữa?”
“Em không biết.”
“Nằm mơ chứ gì?”
“Anh không biết – con có vẻ rất chắc chắn.”
Quay trở vào xe, Sonja phát cho các con sandwich bò nướng và
bánh khoai tây, và tôi lại có một câu hỏi nữa.
“Colton ơi, con ở đâu khi nhìn thấy Chúa Giêsu?”
Cậu bé nhìn tôi với cái vẻ như thể muốn nói: Đã nói về chuyện
này rồi mà?
“Ở trong bệnh viện. Ba biết mà, lúc đó bác sĩ O'Holleran đang
chữa cho con.”
“Này con, bác sĩ chữa cho con cũng vài ba lần, con nhớ không?”
Tôi nói. Colton phải làm phẫu thuật cắt ruột thừa rồi súc ruột ở bệnh
viện, và sau đó là xóa sẹo lồi, nhưng là tại phòng khám của bác sĩ
O'Holleran. “Con có chắc là ở bệnh viện không?”
Colton gật đầu. “Vâng, ở bệnh viện ạ. Khi con đang ở với Chúa
Giêsu, ba đang cầu nguyện, và mẹ đang nói chuyện điện thoại.”
Cái gì?
Điều đó có nghĩa đúng là cậu đang nói về những việc xảy ra trong
bệnh viện. Nhưng bằng cái cách quỉ quái nào mà thằng bé biết được
chúng tôi ở đâu trong lúc ấy?
“Nhưng con đang ở trong phòng mổ, Colton,” tôi nói. “Làm sao
con biết ba mẹ đang làm gì?”
“Vì con có thể thấy ba mẹ lúc đó,” Colton trả lời rất đỗi hồn
nhiên. “Con bay ra khỏi thân thể mình và lúc đó con nhìn xuống, con
thấy bác sĩ đang mổ cho con. Và con thấy ba mẹ. Ba đang cầu nguyện
một mình trong căn phòng nhỏ; mẹ thì đang ở một phòng khác, cầu
nguyện và nói chuyện điện thoại.”
Lời Colton nói làm tôi rúng động toàn thân. Sonja mở to mắt,
nhưng không nói gì cả, chỉ nhìn thẳng vào tôi và lơ đãng cắn vào
miếng sandwich.
Tôi không thể kham nổi thêm một thông tin nào nữa. Tôi nổ máy
xe, lái chiếc Expedition quay trở lại đường cái, và thẳng hướng đến
South Dakota. Khi tôi ra đến xa lộ I-80, hai bên đường đồng cỏ trải
dài tít tắp, loáng thoáng đâu đó mấy ao nuôi vịt lấp lóe dưới ánh
trăng. Lúc đó, đêm đã rất khuya, và tất cả vợ con tôi nhanh chóng
chìm vào giấc ngủ say như dự tính.
Khi chỉ còn tiếng bánh xe chạm mặt đường rì rầm dưới chân, tôi
suy nghĩ và kinh ngạc về những điều mình vừa nghe thấy. Con trai bé
bỏng của chúng tôi vừa nói ra những điều khó tin – và thằng bé vừa
chứng minh bằng những thông tin đáng tin, những điều mà không
cách nào nó có thể biết được. Chúng tôi chưa hề kể cho Colton nghe
chúng tôi đã làm gì khi nó đang được phẫu thuật, khi đang được gây
mê, gần như bất tỉnh.
Tôi cứ tự hỏi đi hỏi lại, Làm sao thằng bé biết được? Nhưng ngay
khi chúng tôi băng qua ranh giới bang South Dakota, tôi có một câu
hỏi khác: Liệu chuyện này có thật không?
CHƯƠNG 1
KHU VƯỜN CÔN TRÙNG BÒ
SÁT
HUYẾN ĐI CHƠI ĐẦY ÁC MỘNG của gia đình tôi lẽ ra là một
chuyến ăn mừng. Vào đầu tháng 3 năm 2003, tôi đã lên kế
hoạch đi Greeley, Colorado, tham dự một cuộc họp hội đồng
giáo khu Wesleyan. Bắt đầu từ tháng 8 trước, cả nhà chúng tôi
đã trải qua nhiều biến cố: 7 tháng gặp chấn thương và bệnh tật
liên tiếp: một người gãy chân, 2 cuộc phẫu thuật, và một dấu
hiệu cảnh báo ung thư cùng một lúc đã khiến cho tình hình tài chính
của chúng tôi kiệt quệ đến nỗi tôi thấy hoảng loạn khi nhận được các
hóa đơn. Đồng lương mục sư ít ỏi không bị ảnh hưởng, nhưng nguồn
tài chính của chúng tôi là việc kinh doanh cửa kéo ga-ra. Các biến cố
về sức khỏe của gia đình tôi đã gây tổn thất nặng nề.
C
Mặc dù vậy, đến tháng 2, chúng tôi có vẻ đã vượt qua được tất cả
những khó khăn đó. Vì dẫu sao cũng phải đi, chúng tôi quyết định
biến chuyến đi họp hội đồng thành một dịp cho gia đình – một dịp
vui chơi, khôi phục lại tinh thần và tâm trí, và tiếp tục phấn đấu với
niềm hy vọng mới.
Sonja nghe nói về một nơi vui chơi khá lý thú cho bọn trẻ khi vừa
qua khỏi Denver, gọi là Vườn Bướm. Được mệnh danh là “Vườn
động vật không xương sống,” Vườn Bướm mở cửa năm 1995, nằm
trong một dự án giáo dục với mục đích giáo dục mọi người về các kỳ
quan của thế giới côn trùng cũng như loài gặm nhấm dưới biển, các
chủng loài sống trong các hồ kín. Ngày nay, bọn trẻ khi đến vườn
động vật này sẽ được chào đón ngay từ ngoài cổng bởi một bức tượng
bằng kim loại rực rỡ, cao chót vót hình một con bọ ngựa trong tư thế
cầu nguyện. Nhưng hồi năm 2003, chú côn trùng to lớn này chưa
xuất hiện, thế nên tòa nhà thấp xây bằng gạch, chỉ cách khu phố thị
Denver chừng 15 phút lái xe, trông không có vẻ gì thu hút đối với trẻ
em khi nhìn từ bên ngoài. Nhưng bên trong đó có cả một thế giới kì
diệu đang chờ đón, đặc biệt là đối với trẻ cỡ tuổi Colton và Cassie.
Điểm dừng đầu tiên của cả nhà là Khu “Bò mà xem”, một căn
phòng đặt đầy những lồng kính nuôi các loài côn trùng và chân khớp
bò qua bò lại trông thật đáng sợ. Một khu trưng bày mang tên Tháp
nhện Tarantula đã hút chặt sự chú ý của Cassie và Colton như một
thỏi nam châm. Cụm các nhà kính này, đúng như trong quảng cáo, là
một cái tháp cao gồm những lồng kính chứa các loài nhện chân lớn,
đầy lông lá khiến bạn vừa mê vừa sợ.
Cassie và Colton lần lượt trèo lên bậc tam cấp để nhìn xem các cư
dân ở các tầng trên của Tháp Nhện Tarantula. Trong một bể kính,
một con nhện Tarantula ngồi trong góc, bộ xương ngoài của nó được
bao phủ bởi một lớp lông xám tái “đáng yêu” theo cách mô tả trong áp
phích quảng cáo triển lãm. Một lồng kính khác chứa một con nhện
lông hai màu đỏ đen xuất xứ từ Ấn Độ. Một cư dân trông dễ sợ hơn
chính là con “tarantula xương xẩu.” Nó được đặt tên đó vì những cái
chân đen trông như được phân ra từng khúc bởi các đường màu
trắng khiến nó trông như một bức hình chụp X-quang đảo ngược. Sau
đó chúng tôi mới biết loại nhện lông xương xẩu đặc biệt này hơi nổi
loạn một chút: Có một lần, không biết bằng cách nào, nó vượt ngục,
bò qua khu vực kế bên, và chén anh bạn hàng xóm như bữa trưa.
Khi Colton nhảy lên ghế để xem con tarantula đỏ trông ra sao,
cậu nhóc đưa mắt nhìn tôi, cười toe toét, khiến tôi ấm lòng. Tôi cảm
thấy các cơ cổ bắt đầu thả lỏng và ở đâu đó trong người tôi một phần
áp lực được giải tỏa, và cảm xúc tôi tựa hồ như buông một tiếng thở
dài nhẹ nhõm. Lần đầu tiên sau nhiều tháng, tôi cảm thấy mình có thể
tận hưởng hạnh phúc với gia đình.
“Ôi, nhìn con nhện đó kìa!” Cassie reo lên, chỉ vào một cái lồng
kính. Gần 6 tuổi và đầy tinh nghịch, con gái tôi thật lanh lợi như thừa
hưởng từ mẹ. Cassie chỉ vào bảng chú giải có ghi: “Loài ăn chim
Goliath... con cái có thể dài hơn 27cm.”
Con nhện trong chiếc bể kính này dài khoảng 13cm, nhưng cả
người nó to bằng cổ tay của Colton. Nó nhìn chăm chăm qua vách
kính, mắt mở to. Tôi nhìn qua và thấy Sonja nhăn nhăn mũi.
Tôi nghĩ có một anh nhân viên vườn thú tình nguyện cũng nhìn
thấy vẻ mặt của cô ấy, vì thế anh ta mau chóng đến thuyết minh về
con nhện ăn chim này. “Con Goliath xuất xứ từ Nam Mỹ,” anh nói
bằng một giọng nhẹ nhàng, thân thiện như có ý là Chúng không đáng
sợ như quý vị nghĩ đâu. “Tarantula gốc Bắc và Nam Mỹ rất ngoan.
Thậm chí, quý vị còn có thể cầm một con ngay đằng kia.” Anh chỉ tay
vào một nhân viên khác đang cầm một con tarantula nhỏ hơn trong
lòng bàn tay cho một nhóm trẻ xem gần hơn.
Cassie băng nhanh qua căn phòng để xem có gì ở chỗ đông đúc
đó, Sonja, Colton và tôi đi theo sau. Trong một góc phòng được trang
trí như một cái lều tre, người trông vườn thú đang giới thiệu ngôi sao
của khu “Bò mà xem”, Nhện hồng Rosie. Là một con tarantula với
lông màu hồng từ Nam Mỹ, Rosie là giống nhện lông lá, thân to bằng
trái mận với chân dài 6 inch, to như cây bút chì. Nhưng điều tuyệt
nhất về Rosie theo bọn trẻ chính là nếu bạn đủ can đảm cầm nó, chỉ
cần một chút thôi, nhân viên vườn thú sẽ thưởng cho bạn một hình
dán.
Bây giờ, nếu có con nhỏ, bạn biết đây có những lúc tụi nhỏ thích
hình dán hơn một nắm tiền. Và hình dán này cũng đặc biệt: nền
trắng, với hình con tarantula và dòng chữ: “Tôi đã cầm nhện Rosie!”
Đây không phải là hình dán bình thường; mà chính là tấm huân
chương cho lòng can đảm!
Cassie cúi người thấp xuống gần tay người nhân viên. Colton mở
to cặp mắt tròn xoe màu xanh biển. “Con có thể lấy cái hình dán đó
không ba?”
“Con phải cầm Rosie thì mới được hình dán, cậu nhóc ạ.”
Ở cái tuổi của cậu, Colton có một cách nói chuyện đặc biệt, vừa
nghiêm túc, vừa thổn thức, trầm trồ một cách hồn nhiên. Cậu là một
cậu nhóc thông minh, vui tính với ánh mắt nhìn cuộc đời đầy tươi
mới, rạch ròi trắng đen. Cậu thấy một món đồ chơi hoặc là thú vị
(như LEGO) hoặc không (như búp bê Barbie). Cậu thích ăn một món
ăn (như bò bít tết) hoặc là ghét nó (như đậu xanh). Có người tốt và
người xấu, và món đồ chơi yêu thích nhất của cậu là các búp bê hình
các nhân vật anh hùng hành động. Siêu anh hùng có ý nghĩa to lớn
đối với Colton. Cậu luôn đem theo các hình nhân Người Nhện, Người
Dơi, và anh hùng du hành vũ trũ Buzz Lightyear theo bên mình đi
mọi nơi. Như thế, cho dù là lúc cậu phải yên vị trong ghế sau của
chiếc xe hơi mọi địa hình, trong phòng chờ, hay ở nhà thờ, cậu cũng
có thể sáng tạo ra những cảnh tượng các anh hùng cứu thế giới. Các
cảnh này thường có sự xuất hiện của những thanh gươm, vũ khí yêu
thích của Colton để tiêu diệt cái ác. Ở nhà, cậu có thể đóng vai siêu
anh hùng. Tôi thường trở về nhà và thấy Colton với vũ khí “trang bị
tận răng”, với một thanh gươm đồ chơi giắt ngang hông và mỗi tay
cầm thêm một thanh nữa: “Con là Zorro đây, ba ơi! Ba chơi với con
không?”
Lúc này, Colton dõi mắt nhìn chăm chú vào con nhện trong tay
người nhân viên, và tôi thấy như thể cậu đang ước ao có được một
thanh gươm ngay lúc này, ít nhất cũng giúp cậu giữ vững tinh thần.
Tôi cố hình dung xem con nhện trông phải to như thế nào đối với một
cậu bé chưa cao đến 1,2m. Con trai tôi đúng là một cậu bé gan góc và
hiếu động vốn đã từng đến gần và tiếp xúc với nhiều loài kiến và bọ,
và các loài động vật nhiều chân và bò sát khác. Nhưng không có loài
nhiều chân đáng sợ nào to bằng cả cái đầu và lông dài bằng tóc của
cậu nhóc.
Cassie đứng thẳng người dậy và cười với Sonja. “Con sẽ cầm nó,
mẹ ơi. Con được phép cầm Rosie không mẹ?”
“Được, nhưng con phải đợi đến lượt mình đã,” Sonja trả lời.
Cassie xếp hàng sau vài trẻ khác. Colton không hề rời mắt khỏi
nhện Rosie trong khi đầu tiên là một bé trai, rồi một bé gái đến cầm
con nhện khổng lồ trong tay và người nhân viên tặng cho chúng các
tấm hình dán chúng ao ước. Ngay sau đó chính là thời điểm quan
trọng của Cassie. Colton ôm lấy chân tôi, đủ gần để nhìn thấy chị nó,
nhưng cũng như muốn chạy trốn cùng một lúc, khi cậu nhóc cứ đẩy
đẩy đầu gối tôi. Cassie đưa bàn tay ra và cả nhà cùng chăm chăm nhìn
nhện Rosie, có vẻ quá quen với những con người bé nhỏ, hiếu kỳ,
đang nhấc từng chân cái chân lông lá và chạy nhanh qua chiếc cầu nối
giữa bàn tay người nhân viên lên bàn tay Cassie và rồi quay trở lại với
người nhân viên.
“Thành công rồi!” Người nhân viên nói trong khi tôi và Sonja vỗ
tay hoan hô Cassie. “Giỏi lắm!” Rồi người nhân viên đứng lên, gỡ một
miếng hình dán màu trắng và vàng ra khỏi dây hình dán dài, đưa cho
Cassie.
Dĩ nhiên, việc này khiến cho Colton cảm thấy tệ hơn, cậu bé
không chỉ thấy mình thua kém cô chị gái mà giờ đây còn là đứa bé họ
Burpo duy nhất không có được cái hình dán nào. Cậu chăm chú nhìn
phần thưởng của Cassie đầy ao ước, rồi lại nhìn nhện Rosie, và tôi có
thể nhận ra cậu đang cố gắng đấu tranh với nỗi sợ hãi. Cuối cùng, cậu
bĩu môi, thôi không nhìn Rosie nữa, mà quay ra nhìn tôi. “Con không
muốn cầm nó đâu.”
“Vậy cũng được,” Tôi nói.
“Nhưng con có thể lấy hình dán được không?”
“Không con à, cách duy nhất để có hình dán là phải cầm nhện
Rosie trên tay. Cassie làm được rồi. Con cũng có thể làm được nếu
con muốn. Con muốn thử không? Chỉ một chút thôi?”
Colton nhìn lại chú nhện, rồi nhìn chị cậu, và tôi có thể thấy
những suy nghĩ quay mòng mòng đằng sau ánh mắt ấy: Cassie làm
được rồi đó. Chị ấy không hề bị cắn.
Rồi cậu lắc đầu một cách chắc chắn: Không. “Nhưng con vẫn
muốn có hình dán!” Cậu nhất quyết. Lúc đó, Colton còn 2 tháng nữa
mới tròn 4 tuổi – và cậu luôn giữ vững lập trường.
“Chỉ khi cầm được Rosie thì con mới có hình dán,” Sonja nói.
“Con chắc chắn không muốn cầm phải không?”
Colton trả lời bằng cách nắm lấy tay Sonja và cố lôi mẹ ra xa khỏi
người nhân viên. “Không, con muốn đi xem sao biển cơ.”
“Con có chắc không?” Sonja hỏi. Gật đầu lia lịa, Colton bước
nhanh qua cánh cửa Khu Vườn Côn Trùng và Bò Sát.
ƯỚC SANG PHÒNG KẾ BÊN, chúng tôi thấy hàng dãy các bể
cá thủy tinh và “hồ san hô” trong nhà. Chúng tôi rảo quanh khu
trưng bày, thưởng lãm những con sao biển, các động vật
nhuyễn thể, và hải quì trông giống như những bông hoa khoe
sắc dưới mặt nước. Cassie và Colton ồ lên thích thú khi hai đứa
nhúng tay vào các hồ san hô nhân tạo và chạm vào các sinh vật
mới lạ chúng chưa từng nhìn thấy.
B
Sau đó, chúng tôi bước vào một khu vực giếng trời rộng lớn, chen
chúc những lá rừng, những cây leo buông xuống trước mặt, những
cành cây vươn lên trên cao. Tôi nhìn những cây cọ dầu và những loài
hoa độc đáo trông như thể xuất xứ từ mấy quyển sách truyện của
Colton. Và xung quanh chúng tôi là hàng trăm cánh bướm như những
đám mây lúc thì nhẹ nhàng lướt qua, lúc lại như xoáy lượn.
Trong khi bọn trẻ hứng thú khám phá xung quanh, tôi thả dòng
suy tưởng trở lại mùa hè năm ngoái, khi Sonja và tôi cùng chơi trong
đội bóng mềm như mọi năm. Chúng tôi thường vào được nhóm 5 đội
giỏi nhất, mặc dù nằm trong đội “lão tướng” – nghĩa là: những người
tuổi băm – đấu với các đội bóng của sinh viên. Giờ đây, tôi cảm thấy
oái oăm là thử thách 7 tháng qua của gia đình tôi bắt đầu từ chấn
thương trong trận đấu cuối cùng của giải đấu cuối cùng, mùa giải
2002. Tôi chơi ở vị trí giữa sân, và Sonja chạy ở đường biên. Lúc đó,
Sonja vừa lấy bằng thạc sĩ ngành thư viện và đối với tôi lúc đó, cô ấy
còn xinh đẹp hơn cả lần đầu tôi nhìn thấy cô ấy lúc còn là sinh viên
năm nhất đang đi bộ băng qua sân trường Đại học Bartleswille
Wesleyan.
Mùa hè sắp kết thúc, nhưng cái nóng oi bức của ngày hè gắt gỏng
vẫn không hề dịu, khao khát chờ mưa xuống. Từ Imperial chúng tôi
đã đi khoảng 20 dặm đến làng Wauneta tham gia một giải đấu loại
kép. Gần nửa đêm, chúng tôi đang thi đấu hết mình dưới ánh sáng
màu trắng xanh của bóng đèn sân vận động.
Tôi không nhớ rõ lúc đó tỉ số là bao nhiêu, nhưng tôi nhớ lúc đó
đang là những phút cuối của trận đấu, và chiến thắng đang ở trong
tầm tay. Tôi đã ghi được một cú đúp và đang ở điểm đến thứ 2. Người
đánh gậy của chúng tôi bước lên và phát bóng ra đến bãi cỏ giữa sân.
Tôi nhận thấy cơ hội. Là hậu vệ, tôi phóng một mạch đến điểm thứ
ba.
Tôi cảm thấy trái bóng bay về phía sân trong.
Huấn luyện viên ở điểm thứ ba ra hiệu dữ dội: “Chuồi lên đi!
Chuồi lên đi!”
Adrenaline như dâng tràn trong huyết quản, tôi lao người xuống
mặt đất và cảm thấy lớp đất đỏ kêu sột soạt bên dưới hông trái mình.
Hậu vệ ở điểm thứ ba của đội bạn vươn tay ra đón bóng và...
Rắc!
Chân tôi gãy kêu một tiếng to đến nỗi tôi tưởng như trái bóng bay
vút từ ngoài biên và nện vào chân. Ống quyển và mắt cá chân tôi nóng
bừng như lửa nổ. Tôi ngã ra sau, co rúm người lại, co đầu gối lên gần
bụng. Cơn đau điếng người, tôi thấy xung quanh bụi đất nhạt nhòa
rồi vây quanh tôi là những gương mặt đầy lo lắng khi hai đồng đội tôi,
và cả hai nhân viên cấp cứu, chạy đến trợ giúp.
Tôi lờ mờ thấy Sonja chạy đến bên tôi. Qua nét mặt của cô ấy, tôi
cảm nhận được chân tôi bị gập lại một cách bất bình thường. Cô ấy
lùi lại để nhân viên cấp cứu tác nghiệp. Hình chụp X-quang ở bệnh
viện cho thấy tôi bị 2 chấn thương nghiêm trọng. Xương ống chân
của tôi, theo cách bác sĩ gọi, đã bị “gãy xoắn ốc”, nghĩa là hai đầu của
đoạn gãy trông giống như hình xoắn ốc trên mũi khoan. Mắt cá chân
của tôi cũng gãy làm đôi. Đó có thể chính là tiếng gãy tôi nghe thấy.
Sau này, tôi biết được tiếng kêu rắc đó to đến nỗi người ngồi ở những
hàng đầu trên khán đài cũng có thể nghe thấy.
Âm thanh đó vang lại trong đầu tôi khi Sonja và tôi nhìn Cassie và
Colton chạy vụt lên phía trước chúng tôi trong khu Nhà Lồng Bươm
Bướm. Bọn trẻ dừng lại trên một cây cầu nhỏ, và nhìn xuống một ao
cá, vừa chỉ trỏ, vừa trò chuyện. Từng đàn bướm dập dìu bay xung
quanh chúng đôi, và tôi liếc nhìn tờ giới thiệu mua ở quầy đón khách
để xem tên chúng là gì. Có loài bướm xanh Nam Mỹ với đôi cánh màu
xanh biển đậm, loài bướm cánh giấy màu trắng và đen bay chầm
chậm và nhẹ nhàng như những mảnh báo vụn rơi lơ lửng trong
không trung, và loài bướm vàng phương nam, một giống bướm miền
nhiệt đới với đôi cánh vàng như trái xoài tươi.
Lúc này, tôi chợt thấy thật hạnh phúc khi cuối cùng cũng có thể
đi được mà không khập khiễng. Ngoài cơn đau như cắt của cái chân
gãy, tác động nhãn tiền của tai nạn lần này chính là tình hình tài
chính của gia đình tôi. Việc leo lên xuống thang trở nên rất khó khăn
khi phải kéo lê cái chân bó bột nặng 4 kí và không gập đầu gối được.
Tài khoản ngân hàng của chúng tôi nhanh chóng cạn kiệt. Số tiền ít ỏi
chúng tôi để dành được từ mức lương của một mục sư bốc hơi nhanh
chóng sau vài tuần. Trong lúc đó, thu nhập lại bị giảm đi một nửa.
Nỗi đau, mặc dù ...
 





