Bác Hồ với việc đọc và tự học

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

SÁCH ĐIỆN TỬ BÁC HỒ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BIỂN BÁO GIAO THÔNG CƠ BẢN DÀNH CHO HỌC SINH

    SÁCH NÓI

    SÁCH LỊCH SỬ

    VIDEO HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1

    CHÂM NGÔN HAY

    Đọc sách là góp phần nâng cao hiểu biết, phát triển tư duy, và hoàn thiện nhân cách

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Tuyển tập Nam Cao

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
    Ngày gửi: 16h:21' 23-02-2024
    Dung lượng: 2.3 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    THÔNG TIN EBOOK
    Tên sách: TUYỂN TẬP NAM CAO
    Tác giả: NAM CAO
    Nhà xuất bản: VĂN HỌC
    Năm xuất bản: 2002
    Đánh máy và tạo ebook: hiepsiga_TVE
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    TIẾU SỬ
    Tên thật là Trần Hữu Trí. Sinh ngày 29-10-1917 tại làng Đại Hoàng, phủ Lý
    Nhân, tỉnh Hà Nam – nay là xã Nhân Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
    Ninh. Gia đình làm ruộng và có một hiệu bán đồ gỗ ở Nam Định, sau bị phá
    sản.
    Thời kì Mặt trận Dân chủ, học xong bậc Cao đẳng Tiểu học, Nam Cao về
    làng, rồi theo một ông cậu họ vào Sài Gòn để kiếm việc làm ăn. Làm phóng
    viên báo Kịch bóng, viết quảng cáo, thư ký hiệu buôn, dạy học tư, chích
    thuốc ở bệnh viện….Lúc rỗi, thâm nhập đời sống thợ thuyền, đọc sách, học
    thêm và mơ ước một chuyến đi xa. Ốm nặng, trở về làng một thời gian, rồi ra
    Hà Nội dạy học tư, viết văn dưới bút danh Nam Cao (ghép hai chữ đầu tên
    huyện và tổng quê: Nam Sang, Cao Đà), cùng một số bút danh khác như
    Nguyệt, Thúy Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê… Sự kiếm sống khá vất vả, vì vào
    nghề văn khá chật vật, và dạy học tư thu nhập bấp bênh. Vợ con và bố mẹ
    sống ở quê – làng Đại Hoàng, nơi nhà văn thường xuyên lui về để nghỉ ngơi,
    và khai thác chất liệu để viết.
    Hoạt động trong nhóm Văn hóa Cứu quốc bí mật ở Hà Nội từ 1943. Cách
    mạng tháng Tám về làng, tham gia cướp chính quyền ở xã, rồi làm báo thông
    tin, văn hóa tỉnh. Chuyển ra Hà Nội, công tác ở Hội văn hóa Cứu quốc và
    tham gia tòa soạn tạp chí Tiên Phong, cơ quan ngôn luận của Hội.
    Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, trở về quê, hoạt động ở xã, rồi lên tỉnh tham
    gia công tác tuyên truyền, địch vận, công giáo vận…Giữa 1947, được điều
    lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc Việt Bắc cùng Tô Hoài, Trần Đình Thọ.
    Thời gian này, được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương.
    Ở Việt Bắc, Nam Cao làm báo, viết văn, soạn sách giáo khoa, viết sách địa
    lý phổ thông. Sau chiến dịch Biên giới năm 1950, về công tác ở Hội Văn
    nghệ. Cuối năm 1951, sau khi cùng Nguyễn Huy Tưởng vào Khu Bốn trở ra,
    Nam Cao đi theo đoàn cán bộ Thuế nông nghiệp vào công tác ở vùng địch
    hậu Khu Ba. Bị địch phục kích và bắn chết ở quãng Miễu Giáp – Hoàng Đan
    (tỉnh Ninh Bình cũ) ngày 31-11-1951.
    - Tác phẩm Chí Phèo (tên cũ: Đôi lứa xứng đôi); NXB Đời mới: 1941.
    - Nửa đêm (tập truyện): NXB Cộng lực: 1943.
    - Truyện người hàng xóm (truyện dài): in trên Trung Bắc chủ nhật, từ tháng

    4 đến tháng 9 – 1944
    - Cười (tập truyện); NXB Minh Đức: 1946
    - Đôi mắt: đăng báo năm 1948; in thành tập cùng một số truyện kí khác viết
    trong khoảng 1947-1948; NXB Văn nghệ: 1954.
    - Chuyện biên giới (tập kí); NXB Văn nghệ: 1951.
    - Đóng góp (kịch); NXB Văn nghệ: 1951
    - Sống mòn (tiểu thuyết) viết 1944; NXB Văn nghệ: 1956
    Tái bản:
    - Chí Phèo (tập truyện); NXB Văn nghệ; 1957.
    - Truyện ngắn Nam Cao (tập truyện); NXB Văn hóa; 1960
    - Một đám cưới (tập truyện); NXB Văn học; 1963
    - Nam Cao – Tác phẩm (2 tập); NXB Văn học; 1976-1977.
    Truyện thiếu nhi (trước 1945):
    - Nụ cười. Hoa Mai số 20.
    - Người thợ rèn. Hoa Mai số 20.
    - Con mèo mắt ngọc. Hoa Mai; Tết 1942.
    - Ba người bạn. Hoa Xuân số 28; 1942.
    - Những kẻ khốn nạn. Hoa Mai số 17-18; 1942.
    - Phiêu lưu. Hoa Mai; 1943.
    - Bảy bông lúa lép. Hoa Mai; 1943.
    - v.v….
    Truyện dài, viết trước năm 1945, mất bản thảo:

    - Cái bát
    - Một đời người.
    - Cái miếu.
    - Ngày lụt.

    NAM CAO VẪN Ở GIỮA CHÚNG TA
    Trong lời giới thiệu “Đôi lứa xứng đôi” (1941), tập truyện ngắn đầu tay của
    Nam Cao, Lê Văn Trương đã có con mắt xanh, sớm nhận ra tài năng của cây
    bút trẻ độc đáo này: “Giữa lúc người ta đang đắm mình trong những chuyện
    tình thơ mộng và hùa nhau phụng sự cái thị hiếu tầm thường của độc giả,
    ông Nam Cao đã mạnh dạn đi theo một lối riêng, nghĩa là ông không thèm
    đếm xỉa đến cái sở thích của độc giả. Những cạnh của tài ông, ông đã đem
    đến cho văn chương một lối văn mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn
    nhẫn của con người biết tin ở tài mình, ở thiên chức của mình.”. “Trên văn
    đàn Việt Nam thời kì 1930-1945, Nam Cao là người đến muộn. Trước ông,
    Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng đã xây
    dựng trên nền của chủ nghĩa hiện thực sừng sững những tòa nhà đẹp. Nam
    Cao vẫn tiếp nối con đường của những người đi trước. Trong văn chương đã
    có một chân dung chị Dậu, anh Pha…những người nông dân nghèo khổ, chất
    phác, bị chà đạp và cũng giàu tinh thần phản kháng. Nam Cao trong một
    hoàn cảnh mới và ở một cấp độ mới đã nhận ra hiện tượng biến chất phổ
    biến ở nông thôn và làng quê bắt đầu xuất hiện loại người dị dạng, dị hình và
    ông đã đóng góp một Chí Phèo”. Nguyễn Minh Châu cho Chí Phèo là một
    khám phá mới: “Cái dị dạng người trong tính cách Chí Phèo là một khám
    phá của Nam Cao”. Chí Phèo không phải là một tính cách đơn độc mà thực
    sự là một kiểu người văn và nhân vật mang nặng trên vai những vấn đề xã
    hội! Vấn đề Chí Phèo không thuần túy là vấn đề nông dân, mà suy cho cùng
    đó là vấn đề con người. Cái bi kịch của Chí Phèo là tấn bi kịch của một con
    người mất dần nhân tính, khao khát trở lại làm người và không có quyền làm
    người. Trên những trang viết về người trí thức nghèo, Nam Cao đã cống hiến
    những mẫu người đáng trọng, đáng thương và nhiều khi cũng đáng giận. Họ
    là nhà giáo, viên chức, nhà văn, họ có ý thức xây dựng cuộc sống, giàu hoài
    bão, nhưng bị sức ép của hoàn cảnh, một hoàn cảnh hết sức tồi tệ tầm
    thường, đẩy dần con người đến chỗ mất ý thức tự trọng, mất nhân cách.
    Những nhân vật này đã rơi vào “bi kịch vỡ mộng” như có nhà nghiên cứu đã
    từng nói. Họ đã thua cuộc trên con đường tiến thân để xây dựng một sự
    nghiệp, thực hiện một hoài bão. Nhưng họ đã không thua cuộc trên trận địa
    bảo vệ đạo đức và nhân cách. Mặc dù phải trải qua nhiều cảnh ngộ éo le đầy
    nghịch lý và bị miếng cơm manh áo hành hạ trong cuộc sống hàng ngày,
    cuối cùng họ vẫn là người tốt, không biến chất, tha hóa. Mặc dù viết về
    những vấn đề khác nhau, người nông dân trong xã hội cũ, người trí thức
    nghèo, rồi dân nghèo ở thành thị…Nhưng thực chất là Nam Cao viết về con
    người. Cuộc đời chân thực gần gũi hiện ra hằng ngày đang từng ngày kiếm
    sống, bị lăng nhục và chịu đựng vô vàn những đắng cay. Những trang viết

    của Nam Cao như thét lên tiếng kêu cứu: hãy bảo vệ nhân phẩm của con
    người. Thân phận và cuộc đời Chí Phèo đã kết thúc, nhưng hai tiếng “lương
    thiện” và ước vọng muốn được làm người lương thiện vẫn còn là dư âm xót
    xa. Những người trí thức để cuối cùng vẫn giữ được con người của mình sau
    trước như một. Đứng trên bình diện con người, thế giới nhân vật của Nam
    Cao trở nên phong phú lạ thường. Không chỉ là người nông dân, người trí
    thức mà là những kiểu người, những thân phận con người trong trăm ngàn
    cảnh ngộ. Điều kì diệu là Nam Cao đã khai thác sâu sắc, miêu tả nhiều cảnh
    ngộ rất khác nhau, những cảnh ngộ riêng thực sự đã nhào nặn và tạo nên
    những mẫu người. Có người trong suốt cuộc đời luôn giữ được hai chữ
    lương thiện một cách trọn vẹn, trong sáng như lão Hạc, có người phải vất vả
    chống lại sức ép của hoàn cảnh để bảo vệ được nhân phẩm cần thiết, như các
    nhân vật trí thức nghèo, có nhiều người bị tha hóa, biến chất. Trong thế giới
    các nhân vật của Nam Cao có cả những mẫu người dị dạng, dị hình như
    Lang Rận, Thị Nở, Trương Rự…Họ bị mất dần nhân tính và càng ngày càng
    xa lạ với mọi người. Trước đây, nhận xét về những nhân vật này, không khỏi
    có ý kiến cho rằng Nam Cao đã miêu tả họ như một biếm họa, những con
    người xấu xí được vẽ ra với nhiều nét có tính chất tự nhiên chủ nghĩa. Thực
    chất đó là một dụng ý nghệ thuật. Những nhân vật dị dạng, xấu xí là sản
    phẩm của xã hội cũ. Hoàn cảnh đã đẩy họ vào chốn tăm tối, vào cõi u mê,
    kéo dài cuộc sống nửa vật nửa người. Bản thân cuộc sống và sự tồn tại của
    họ là một lời tố cáo.
    Đóng góp quan trọng của Nam Cao khi miêu tả con người là những trang
    phân tích tâm lý sắc sảo. Thế giới bên trong của các nhân vật được phơi bầy
    không thương tiếc, nhất là những nhân vật trí thức nghèo. Tác giả miêu tả
    nhân vật từ nhiều góc độ, bình diện, rồi nhân vật lại tự bộc lộ, tự phân tích.
    Nhiều suy nghĩ và tình cảm cao đẹp như đua chen với các tâm trạng phức
    tạp, thậm chí cả những ý nghĩ tầm thường. Các nhân vật của Nam Cao luôn
    có ý thức về một lý tưởng sống, song Nam Cao không lý tưởng hóa các nhân
    vật. Con người trong tác phẩm của Nam Cao không bị đẩy lên một kích cỡ
    khác thường, không bị lên gân mà là con người như nó vốn có, con người
    trong cuộc sống quen thuộc hàng ngày. Cũng vì thế, những tâm trạng nhân
    vật được miêu tả càng trở nên gần gũi. Tâm lý nhân vật cũng không trừu
    tượng, xa vời mà gắn liền với cuộc sống nghề nghiệp, đời sống gia đình, tình
    yêu, chuyện cơm áo, quan hệ bè bạn. Nam Cao đã miêu tả nhiều dòng suy
    nghĩ của nhân vật vận động theo những mạch biện chứng. Ý thức phê phán
    và tự phê phán của tác giả là cơ sở để các nhân vật mang màu sắc tự biểu
    hiện được khẳng định vững chắc. Có thể nói nghệ thuật miêu tả tâm lý đã đạt
    độ chín của tài năng trong truyện và tiểu thuyết của Nam Cao. Trước ông và
    sau ông, thành công ấy không nhiều trong văn xuôi thời kì hiện đại.

    Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ khi tập truyện Đôi lứa xứng đôi của Nam
    Cao được xuất bản. Thời gian không che lấp hoặc làm hao mòn giá trị của
    tác phẩm Nam Cao. Đúng hơn càng ngày người đọc càng phải nghĩ tiếp về
    Nam Cao, tác phẩm của Nam Cao cũng không phụ lòng tìm kiếm. Những
    nguồn mạch suy nghĩ và những phát hiện mới luôn được mở ra với hiện tại.
    Nam Cao không hề bị cũ đi mà luôn mới mẻ. Tính hiện đại là phẩm chất của
    tác phẩm Nam Cao. Sự hòa hợp giữa những chất liệu hiện thực được miêu tả
    sắc sảo với những cảm nghĩ và cách đánh giá tỉnh táo, khách quan, chân tình
    của người viết đã làm cho trang viết gần gũi với mọi người ở những thời kỳ
    khác nhau. Nam Cao đã đụng chạm và khơi sâu vào những vấn đề đặt ra
    không chỉ trong một thời điểm mà dường như là cho mọi thời. Vấn đề của
    tác phẩm Nam Cao là của hôm qua nay tiếp nhận Nam Cao với không khí và
    chỗ đứng của hiện tại. Điều quan trọng cần quan tâm là không có những
    ngăn cách gì đáng kể giữa Nam Cao và cuộc sống hôm nay. Ông vẫn ở giữa
    chúng ta và như thấu hiểu một phần cuộc đời hiện đại.
    Từ sau cách mạng tháng Tám, Nam Cao lại có những đóng góp mới. Nam
    Cao đã tiếp nhận tinh thần Đề cương Văn hóa Việt Nam từ năm 1943 và
    tham gia vào văn hóa cứu quốc. Nam Cao đã có mặt và tham gia khởi nghĩa
    cướp chính quyền ở địa phương. Ông hiểu rõ những đau khổ và thân phận
    con người trong xã hội cũ, nên cách mạng là điều ông chờ đợi và nhanh
    chóng hòa nhập. Nam Cao với hành trình: “Đường vô Nam” trong phong
    trào Nam Tiến, Nam Cao là phóng viên báo Cứu quốc và hoạt động sâu
    trong vùng rừng núi Việt Bắc, Nam Cao trong chiến dịch Biên giới, cuối
    cùng là cái chết của nhà văn, chiến sĩ trong chuyến đi công tác vào vùng địch
    hậu. Ông đã sống với không khí của thời đại cách mạng và tham gia hết
    mình trong phong trào. Đọc những trang nhật ký Ở rừng và tìm hiểu tâm sự
    của Độ, hình bóng gần gũi của Nam Cao trong Đôi mắt, chúng ta càng yêu
    quí và trân trọng những gì Nam Cao đã làm, đã viết trong chặng đường mới
    của cách mạng. Nam Cao đã mất đi giữa lúc tài năng ở độ chín, ngòi bút tài
    hoa và đầy sức lực.
    “Nam Cao đã chết trên cuốn tiểu thuyết lớn của đời mình. Người ấy, tài ấy
    đương căng đầy sức lực. Nếu còn sống, chắc chắn những mong muốn của
    anh sẽ thành sự thật rực rỡ trên một tầm xa, rất xa..” (Tô Hoài – Tựa Nam
    Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc, NXB Văn hóa 1961).
    Đời văn Nam Cao không dài. Trên mười năm sáng tác ở cả hai thời kỳ trước
    và sau Cách mạng, Nam Cao đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Thời đại trôi
    qua, tác phẩm của Nam Cao như ngày càng bộc lộ thêm những phẩm chất
    mới, những giá trị mới. Chúng ta càng thêm yêu quý ông, một tâm hồn trung

    thực và cao đẹp trong cuộc đời cũng như trên trang sách, một nhà văn, chiến
    sĩ với ý nghĩa đích thực và trọn vẹn của danh hiệu này.
    HÀ MINH ĐỨC.

    NGHÈO
    - Bu ơi con đói!...
    Lần này có lẽ là lần thứ mười, thằng cu bé chạy về đòi ăn, chị đĩ Chuột đang
    quấy một nồi gì trong bếp, cáu tiết quay ra mắng át nó đi:
    - Đã bảo hết cơm rồi, tí nữa chè chín thì ăn chè mà!....
    Thấy mẹ gắt, thằng cu không dám đòi ăn nữa, nhưng mặt nhăn nhó bịu xịu
    như muốn khóc. Chị đĩ Chuột thương hại, dịu dàng bảo:
    - Con chạy ra vườn xem chị Gái làm cỏ, lúc nào chè chín bu gọi về cho mà
    ăn…chóng ngoan rồi bu thương.
    Nhưng nó không nhúc nhích, mà nó còn nhúc nhích làm sao được: một nắm
    cơm nhỏ ăn từ sáng đã bị cái dạ dày chăm chỉ của con nhà nghèo tiêu hết đến
    phèo một cái rồi, còn chi. Nó ngồi phịch xuống đất, gục đầu vào ngưỡng
    cửa, ngáp….
    - Sắp chín chưa, bu?
    Quay ra vẫn còn thấy con nằm phục đấy, mắt lờ đờ như sắp lả, chị Chuột
    chép miệng:
    - Thôi đây! Chín chả chín thì đừng, bắc mẹ nó ra cho chúng mày ăn không
    có chúng mày làm tội cũng chết. Chốc lại nheo nhéo, chốc lại nheo nhéo….
    Chị vừa lẩm bẩm, vừa dập lửa, rồi bắc cái nồi ở trên bếp xuống, lấy một cái
    vỏ trai múc vào mấy cái bát sành sứt mẻ tứ tung, đặt ngay trên mặt đất.
    Thằng cu bé vội vàng lê xích lại gần, hai mắt lóng láng đổ dồn cả vào mấy
    bát “chè” màu nâu đục, khói bốc lên nghi ngút. Mồm nó nuốt nước bọt ừng
    ực, mũi nó như nở hẳn ra để hít lấy hương vị của khói chè ngon ngọt. Chị đĩ
    Chuột phải đưa tay cản nó lại, sợ nó sà vào mà bị bỏng. Chị bảo nó:
    - Còn nóng lắm, chưa ăn được. Con ra vườn gọi chị về cho chị ăn với không
    thì phải tội chết, nó làm quần quật từ sáng đến giờ mà chưa được tí gì vào
    bụng.
    Không đợi gọi đến hai tiếng, cái Gái hớn hở chạy về, lôi thôi lếch thếch
    trong mấy manh dẻ rách tả tơi. Vừa đến bếp, nó đã reo lên:

    - Sướng quá! Lại được ăn chè kia chứ, có ngọt không bu? Bu lấy đâu được
    mà nấu chè thế?
    Chị Chuột mắng yêu con:
    - Úi chà! Tíu tít như con mẹ dại ấy! Tha hồ mà ăn đến chán chê, chỉ sợ
    không sao nuốt được thôi, con ạ.
    Rồi chị bảo thằng cu bé:
    - Bé lại đây, bu cho ăn.
    Thằng cu ngồi xổm bên mẹ, hất mặt lên, há hốc mồm như con chim non
    đang đợi mẹ mớm mồi. Một miếng vừa vào mồm, nó đã vội nuốt thỏm đi,
    khen “ngon quá”. Nhưng chưa kịp ăn miếng nữa, nó đã ọe một cái, mũi đỏ
    lên, nước mắt ứa ra giàn giụa.
    - Sao thế?
    Nó chỉ hụ hị nhìn mẹ mà không nói, cũng không chịu há mồm ăn nữa. Cái
    Gái nhìn mẹ, nhìn em, xêu một miếng chè nữa ăn thử lại:
    - Nhạt quá, bu ạ.
    Chị Chuột mắng con:
    - Làm gì có nhiều mật mà ngọt. Có mà ăn cho no bụng là phúc rồi.
    Thằng cu chừng đói quá không chịu được, lại há mồm ra. Mẹ nó đút cho nó
    một xêu nhỏ nữa. Nó nhắm mắt, duỗi cổ, cố nuốt cho trôi. Nhưng cũng như
    lần trước, nó lại ọe ra, và khóc òa lên. Chị đĩ Chuột lấy tay áo lau nước mắt
    không cầm nổi đã trào ra hai má hõm xanh bủng như người ngã nước. Cái
    Gái lấy ngón tay “di” một cục chè rồi bỗng nói to lên:
    - À! Con biết rồi! Không phải chè, cám mà! Cám nấu mà bu bảo chè! Nhưng
    mẹ nó lại đưa mắt lườm nó, lấy ngón tay chỉ ra phía nhà ngoài nói khẽ,
    nhưng hơi gắt:
    - Khe khẽ cái mồm một tí! Réo mãi lên, thằng bố mày nó nghe thấy thì nó
    chết. Nó đã ốm nằm đấy, thuốc không có, mà còn bực mình thì nó chết.
    Rồi hai mẹ con lại lẳng lặng ăn, cố nuốt những bát cám đặc khè cho đỡ đói.

    Thằng cu nhất định không ăn, ngồi khóc tỉ ti đòi cơm. Chị đĩ Chuột đành dỗ
    nó:
    - Thôi nín ngay, bu ăn xong bu xin thầy một miếng cho mà ăn.
    Chị bế con rón rén bước vào chỗ chồng nằm. Thằng bé vẫn sụt sịt. Anh đĩ
    Chuột giở mình, hơi nghiêng mặt quay ra. Một làn ánh sáng mờ lướt qua làm
    cái mặt hốc hác và màu da đã xanh lại xanh thêm. Mái tóc dài quá xòa xuống
    tai và cổ, hai con mắt ngơ ngác và lờ đờ, những chiếc răng dài và thưa ở cái
    mồm hé ra để cho dễ thở khiến anh có cái vẻ đáng sợ của con ma đói. Thấy
    vợ con, anh nhếch miệng cố gượng một cái cười méo xệch và vừa thở phều
    phào vừa hỏi bằng một thứ tiếng yếu ớt như từ thế giới bên kia đưa lại:
    - Nó làm sao thế?
    Chị đĩ Chuột xốc con lên một cái:
    - Nó vòi đấy chứ có làm sao? Cơm gạo đỏ không chịu ăn, đòi ăn cơm trắng
    của thầy cơ.
    - Thì lấy cho nó ăn, tôi ăn làm sao hết?
    Chị đĩ Chuột lấy liễn cơm chực moi cho con một ít, nhưng anh bảo:
    - Mang cả ra cho nó ăn, tôi không ăn nữa đâu. Còn bao nhiêu vét cho cái gái
    với bu em ăn hết đi, để nó thiu ra đấy.
    Chị đĩ Chuột cười, bảo chồng:
    - Thằng cu nó dở người, chứ mẹ con tôi ăn cơm đỏ đã no rồi, còn ăn vào đâu
    được nữa?
    Anh biết vợ nói dối, chực nói, nhưng lại thôi, buồn rầu buông một tiếng thở
    dài. Vợ lo ngại hỏi:
    - Bây giờ người thế nào, để tôi kể với ông lang, lấy thuốc?
    - Tiền đâu mà thuốc thang mãi?
    - Tôi vừa bán con chó mực với hai buồng chuối non được bốn hào.
    Chồng nhìn vợ, ngẫm nghĩ một chút rồi bảo:

    - Đừng lấy thuốc nữa, tôi sắp khỏe rồi, chỉ ăn cho nó khỏe lên chắc bệnh
    phải hết. Bu em đong cho tôi cả bốn hào gạo đỏ, đừng đong gạo trắng ăn
    nhạt lắm.
    Vợ gật đầu:
    - Cũng được, nhưng đã thật khỏi chưa? Tôi trông thầy em còn mệt lắm.
    - Ốm luôn sáu tháng trời mà không mệt sao được? Cứ đi đi……
    - Đi ngay bây giờ à?
    - Ừ, đi xuống nhà bà phó Cửu ấy, xa một tí nhưng được rẻ.
    Vợ gật đầu bảo thằng cu:
    - Con ngồi đây với thầy cho bu đi đong gạo nhé?
    Nó không chịu, sợ sệt nhìn cha. Chị mắng:
    - Con nhà vô phúc, lại sợ bố!.... Khốn nạn, tại đi về không có tiền mua bánh
    cho nó nên nó giận đấy mà. Phải tội chết, con ạ.
    Nhưng anh đĩ Chuột bảo:
    - Cho cả nó đi, kẻo nó khóc. Bảo cái Gái về tôi bảo.
    Người cha khốn nạn nhìn đứa con chòng chọc, thở dài. Một giọt lệ từ từ lăn
    xuống chiếu.
    - Thầy bảo gì con ạ?
    - Lúc nãy mẹ con mày ăn cám phải không?
    Gái gượng cười cãi:
    - Ăn chè đấy chứ.
    Bố nó chép miệng:
    - Khốn nạn! Chè đâu mà ăn, cơm còn không có nữa là chè! Rõ mày thì khổ
    từ trong bụng mẹ…

    Con Gái cúi đầu không nói. Anh đĩ Chuột thở dài:
    - Con đi lấy cho thầy cái ghế buộc giậu, với sợi thừng ở gác bếp để thầy mắc
    lại cái võng, thế này cao quá.
    Con Gái lấy ghế và thừng vào. Anh đĩ bảo:
    - Để đấy cho thầy rồi ra vườn làm cỏ đi.
    Nó ra vườn, anh gượng ngồi dậy, xuống khỏi giường, mon men ra đóng chặt
    cửa buồng lại. Anh lấy cái thừng làm một cái tròng chắc chắn, dùng hết sức
    tàn còn lại, trèo lên ghế, hai chân khẳng khiu run lẩy bẩy. Anh buộc cẩn thận
    một đầu dây lên xà nhà, buộc xong, mệt quá, anh đu vào cái thừng, gục đầu
    xuống thở. Anh thấy lòng chua xót, nước mắt trào ra hai má lõm. Rồi anh
    quả quyết, anh đứng thẳng người lên, chui đầu vào tròng, cái thừng cứng cáp
    cọ vào cổ làm anh rùng mình, khóc nấc lên một tiếng. Cả cái thân hình mảnh
    dẻ bắt đầu chuyển động như một tầu lá rung trước gió. Bỗng anh ngừng bặt,
    ngây người ra nghe ngóng: có tiếng ai vừa gọi ngoài ngõ, tiếp đến cái Gái
    thưa và chạy ra. Tiếng người kia the thé:
    - Bu mày đâu?
    Tiếng cái Gái rụt rè đáp lại:
    - Bẩm bà, bu con đi vắng.
    - Đi vắng! Đi vắng mãi! Mày về bảo con mẹ mày nội ngày mai không trả
    tiền tao thì tao đào mả lên đấy. Cái giống chỉ biết ăn không.
    Anh đĩ Chuột rít hai hàm răng lại. Hai chân giận giữ đạp phắt cái ghế đổ
    văng xuống đất. Cái tròng rút mạnh lại. Cái bộ xương bọc trong da giãy giụa
    như một con gà bị bẫy, sau cùng, nó chỉ còn giật từng cái chậm dưới sợi dây
    thừng lủng lẳng.
    Ở ngoài ngõ, mẹ con chị Chuột vừa kêu khóc vừa van lạy. Bà Huyện nhất
    định bắt mẻ gạo mới đong để trừ sáu hào nợ chị Chuột vay từ hai tháng trước
    cho chồng uống thuốc….
    Thúy Rư
    Tiểu thuyết thứ bảy

    Số 158 Ngày 5-6-1937

    ĐUI MÙ
    Vào bàn ăn, thấy chỉ có mỗi mình bạn với tôi, tôi không sao giấu nổi sự ngạc
    nhiên. Hùng như cũng đoán ra điều ấy, mỉm cười hỏi tôi:
    - Chắc anh lấy làm lạ vì không có Nga cùng ngồi ăn với chúng ta như năm
    trước?
    - Quả có thế. Ý hẳn chị đi chơi đâu?
    Hùng lắc đầu cười gượng:
    - Tôi bỏ Nga từ năm tháng trước kia rồi!
    Tôi sửng sốt như bị điện giật, mắt mở to, miệng há hốc. Vẫn với nụ cười
    chua chát, Hùng bảo tôi:
    - Anh không tin? Anh không tin là phải, vì tôi yêu Nga lắm, yêu hơn tất cả
    những tình nhân say đắm khác trên đời. Hồi ấy giá có ai bảo tôi rằng một
    ngày kia có thể bỏ Nga, thì tôi đã không ngần ngại gì mà cho người ấy là
    loạn óc? Ấy thế mà cái việc bất ngờ ấy đã xảy ra…xảy ra một cách đau đớn
    lắm…Nhưng anh cầm đũa đi đã chứ. Ta vừa ăn vừa nói chuyện…
    Thường thường năm nào cũng vậy, mấy tháng nắng chúng tôi vẫn dọn ra “Ô
    Cấp” ở. Một ông bác tôi có một cái nhà ở ngoài đó bao giờ cũng sẵn lòng
    cho chúng tôi mượn không lấy tiền. Nhưng năm nay tôi đang soạn dở một
    cuốn tiểu thuyết để kịp cho đăng vào tờ tạp chí của anh Quang mới được
    phép ra, nên cần phải ở nán lại Sài - Gòn vài tuần nữa. Dù thế, tôi cố ép Nga
    đi ra “Cấp” trước, vì ở Châu thành bấy giờ nóng nực, khó chịu lắm, và nhất
    là vì tôi sợ bận rộn không săn sóc tới Nga luôn luôn được để Nga buồn. Mà
    chẳng nói tới anh cũng biết, tôi muốn Nga sung sướng luôn luôn, tôi không
    thể thấy nàng buồn nản, dù chỉ trong vài phút. Bởi vậy cho nên dù Nga năn
    nỉ đòi ở lại, đợi tôi và nói chỉ có thể sung sướng khi thấy tôi luôn luôn bên
    cạnh, tôi cũng nhất quyết nài Nga thu xếp ra đi. Tôi phải nói với Nga rằng tôi
    muốn Nga ra Cấp sửa sang chỗ ở trước, và hứa với nàng rằng sẽ ráng làm
    xong công việc cho mau chóng để ra với nàng ngay, nàng mới chịu nghe
    theo. Nhưng chúng tôi vẫn cứ còn dùng dằng mà không nỡ dứt. Nàng thì lúc
    chực ra đi, lúc lại đòi ở lại, có lúc hai con mắt van vỉ nhìn tôi như cầu xin,
    oán trách khiến tôi cảm động đến đáy lòng, và không bao giờ hiểu một cách
    sâu xa cái tình yêu tha thiết của nàng đối với tôi bằng lúc ấy. Nhưng rồi nàng
    cũng chịu ra xe. Còn tôi, sau khi đã cố gạt hết những nỗi buồn ly biệt, bèn

    lập tức quay vào công việc để làm khuây, và nhất là để mau hết, để có thể ra
    Cấp với người yêu được. Ngay chiều hôm ấy, tôi thu xếp sang Thị - Nghè:
    tôi cần ở cái xóm làm nơi trú ngụ cho một phần đông dân lao động ấy ít lâu
    để thu cóp tài liệu cần đến trong cuốn tiểu thuyết tôi đang viết, với cái giá
    tiền năm đồng một tháng. Vợ một bác thợ may nấu cơm tháng cho năm, sáu
    người lao động, cho tôi mỗi ngày hai bữa cơm thanh đạm và một cái bàn đã
    mọt kê ở sát cửa sau, cạnh bức tường làm bằng ván mỏng ghép lại với nhau.
    Cái bàn ấy mỗi ngày hai lần dùng làm bàn ăn cho cả nhà. Ăn xong, tôi lấy
    giẻ lau sạch đi, giải một tờ nhật trình lên làm bàn viết. Tối đến thì cái bàn
    viết ấy lại trở nên một cái giường cho tôi ngủ. Ấy thế mà tôi lại còn vào hạng
    “đàng hoàng” kia đấy! Mấy người khác, sau khi đã vất vả suốt ngày trong
    xưởng thợ hay ngoài đường nắng, tối đến chỉ rải một manh chiếu xuống
    thềm, rồi lăn ra nằm với nhau như heo vậy. Cái cảnh khổ cực luôn luôn bày
    ra trước mắt tôi làm tôi thấy nỗi nhớ nhung, đau khổ trong lòng tôi là nhỏ
    nhặt, và tôi đã gần khuây nỗi nhớ thì một sự gặp gỡ lại làm hình ảnh Nga trở
    về ám ảnh tôi. Một buổi trưa nắng chang chang, tôi đang ngồi nhìn mấy
    người đàn bà xắn quần lên quá đầu gối đem thùng ra giếng kéo nước, bỗng
    có tiếng hỏi mượn cái bình pha trà. Tôi quay lại và bỗng ngạc nhiên hết sức.
    Người con gái đứng sau lưng tôi giống Nga như đúc: cũng đôi mắt trong trẻo
    ngây thơ, cũng cái miệng nhỏ xinh xinh với làn môi hơi mỏng và nếu không
    có nước da hơi sạm nắng, bàn tay hơi lớn và thô, với dáng người nặng nề vì
    quen khó nhọc thì tôi đã tưởng đó chính là Nga, mặc bộ đồ mộc mạc ấy trở
    lại để làm tôi sửng sốt. Sự giống nhau ấy làm tôi có cảm tình với chị ta mà
    sau hỏi ra tôi mới biết là vợ một người lính ở ngay nhà bên cạnh. Tôi càng
    có cảm tình với chị ta khi tôi biết chị thật là cái hạnh phúc vô song của người
    chồng sung sướng nọ. Đã bao lần tôi nhìn qua khe những tấm ván ghép làm
    tường, sống cái cảnh êm đềm, vui vẻ của đôi vợ chồng trẻ quyến luyến nhau
    và phải mỉm cười mơ màng nhớ lại những phút say sưa của tôi với Nga trong
    những lúc nhìn nhau bằng con mắt đầy âu yếm. Nhưng tôi cảm động nhất
    khi một buổi sáng vô tình dự vào cuộc tạm biệt của đôi uyên ương ấy. Tôi
    nhận lại hết những dáng điệu quyến luyến, dùng dằng buồn rầu không nỡ dứt
    của Nga và tôi hôm nọ. Tôi rỏ nước mắt khi nghe thấy câu thiết tha đầy vẻ
    thành thật của người vợ trẻ:
    - Thôi mình đi đi…em lại đành ngồi mong từng phút cho ngày chóng hết!
    Và tôi bỗng rầu rầu tưởng đến nỗi nhớ mong của Nga mỏi mắt đợi người yêu
    ngoài Cấp. Tôi lại vội vàng lấy bút mực cắm đầu viết cho mau xong cuốn
    truyện. Mới viết được chừng một trang thì tiếng cười rúc rích ở nhà bên cạnh
    làm tôi ngừng viết. Tôi mỉm cười, nghĩ bụng: “Chắc anh chồng ra đi một
    quãng, suy nghĩ thế nào lại còn muốn về hôn vợ thêm cái nữa!”. Rồi tôi cúi

    đầu nhìn trộm qua khe ván xem điều dự đoán của mình có đúng không.
    Nhưng người tôi bỗng run lên một cái. Cấy viết rơi xuống đất. Tôi giụi mắt
    lại ba cái và bàng hoàng không tin ở mắt mình. Người thiếu phụ có con mắt
    ngây thơ trong trẻo kia đang nũng nịu trên giường, cánh tay trần đu lấy cổ
    một chàng trai trẻ mà tôi nhận ra không phải là anh lính. Mặt nàng đỏ bừng
    bừng, đầu hơi ngả về đằng sau, khoe cái cổ tròn trĩnh và cái ngực nở đang
    hồi hộp, hai làn môi đỏ ướt hé mở như chờ một cái hôn. Tôi bỗng thấy trái
    tim như ngừng đập, người run rẩy, cổ khô, đầu choáng váng như chính Nga
    đang quằn quại trên giường với người khác vậy. Nhưng tôi còn tức tối hơn
    nữa khi chiều hôm ấy lúc chồng về con dâm phụ lại vẫn giữ được vẻ trong
    trẻo, ngây thơ, vồn vã xoắn xít chồng như không có chuyện gì xảy ra….
    - Gớm! Sao mình về trễ thế. Em đợi mình từng phút.
    Ba hôm sau tôi đi Cấp, dù cuốn tiểu thuyết chưa xong một nửa. Nếu tôi có ở
    lại thì chắc cũng không viết được thêm một trang nào nữa. Tôi lấy cớ rằng
    tài liệu đã thu cóp đủ để an ủi lòng: “đủ tài liệu rồi thì ở đâu viết mà chả
    được”, tôi nghĩ thế rồi đáp xe đi ngay, không do dự. Tôi tới Cấp vào lúc bốn
    giờ sáng. Tuy đang ngái ngủ, Nga cũng tiếp tôi vồn vã vô cùng. Nhưng trái
    với mọi lần, hôm nay tôi thấy sự mừng rỡ xoắn xít của nàng hơi khó chịu.
    Có lẽ nàng cho vẻ mặt lãnh đạm của tôi lúc bấy giờ là do đi đường mệt nhọc
    nên không để ý. Còn tôi thấy bộ đồ ngủ quá hở của nàng và đưa mắt nhìn lên
    giường mền xốc xếch thì tự nhiên thấy lòng nôn nao một cách lạ thường.
    Nhưng một giấc ngủ êm đềm đến tận mười giờ đã làm tôi bình tĩnh lại. Nhìn
    Nga nhảy nhót khắp nhà như một con chim, đôi mắt ngây thơ trong trẻo như
    không bao giờ có điều hối hận, cái miệng xinh xinh líu lo những câu chuyện
    không đầu không cuối như con nít, tôi thấy lòng vui vẻ lại. Nàng nũng nịu
    hỏi tôi:
    - Nhà thi sĩ của em có muốn làm thơ không?
    Tôi mỉm cười.
    - Nếu muốn thì Nga dẫn đến Thiên Thai cho mà ngâm vịnh!
    Cái thiên thai của Nga là một đám cát mấp mô đầy những tảng đá nhẵn nhụi
    ở dưới chân núi, liền mặt biển. Cây cối um tùm che kín khiến nó tách biệt ra
    như một thế giới khác. Ở ngoài sóng biển xô nhau dào dạt chảy vào và bắn
    tung lên thành những đám bụi trắng xóa. Tôi không để ý đến vẻ nên thơ của
    cảnh, mà chỉ băn khoăn nghĩ đến sự kín đáo của một nơi có thể che đậy bao
    nhiêu cuộc ái ân lãng mạn. Thấy Nga nũng nịu đu lấy cổ tôi, tôi thấy trong

    tim rung lên một cái như bị một mũi dao chạm phải. Rồi luôn luôn tôi sống
    những ngày khổ sở, băn khoăn trong sự nghi ngờ. Và sau cùng, tôi muốn
    biết:
    Và tôi đã biết! Phải anh ạ, tôi đã biết!.... Trí sáng suốt, sự tò mò lòng tự ái tôi
    đều được thỏa….nhưng trái tim tôi thì tan nát mất rồi!... Tôi đã nói dối Nga
    rằng tôi phải về Sài – Gòn có việc cần. Nhưng đi được một quãng, tôi bắt
    dừng xe lộn lại, và lần ra chỗ “thiên thai” nấp vào trong bụi rậm. Sự nghi
    ngờ của tôi không đến nỗi vô lý. Quả nhiên chiều hôm ấy tôi được thấy Nga
    nũng nịu đu lấy cổ một chàng trai trẻ, như đã đu lấy cổ tôi cũng ở tảng đá cũ.
    - Thế rồi anh ly dị?
    Hùng không đáp. Anh ngồi cúi mặt, mắt đăm đăm nhìn xuống bàn, lộ một vẻ
    đau đớn lắm. Một lúc anh khẽ nói, giọng chán nản của một anh chàng bị
    đánh cắp ái tình:
    - Tôi hối hận. Thà rằng tôi cứ ở chúi xó thôn quê ấy để thầm ca tụng lòng
    chung thủy của Nga, thà rằng tôi cứ đui mù như anh lính nọ lại được hoàn
    toàn sung sướng hơn là tìm đến sự thực để rồi thất vọng vì sự thực.
    Thúy Rư
    Tiểu thuyết thứ bẩy
    Số 160 Ngày 19-6-1937

    CÁI CHẾT CỦA CON MỰC
    Người ta định giết Mực đã lâu rồi. Mực là con già hơn trong hai con chó của
    nhà. Nhưng cũng là con nhiều nết xấu. Nó tục ăn: đó là thường. Nó nhiều
    vắt: cái ấy đủ khổ cho nó. Nó cắn càn ấy là cái khổ của bọn ăn mày. Nhưng
    nó lại sủa như một con gà gáy: cái này thì không thể nào tha thứ được. Thoạt
    tiên người ta định ngày chết cho nó vào dịp Thanh Minh. May cho nó hôm
    ấy bà chủ nhà bị ốm. Rồi thì là Tết tháng năm. Bỗng nhiên đứa con út của bà
    ươn mình: bà phải kiêng để lấy sữa lành cho con bú. Sau cùng người ta nhất
    định thịt nó vào rằm tháng bảy ai ốm mặc. Nhưng lần nầy Mực vẫn còn thoát
    nạn là vì nhờ có Du. Người con cả xa xôi ấy vừa viết thư báo chẳng bao lâu
    sẽ về. Bà mẹ mừng như tìm được một vật quý bị rơi và bà nhất định lùi ngày
    xử con Mực lại.
    Bây giờ thì Du về rồi. Chiều hôm qua con người phóng đãng ấy đã khệ nệ
    xách cái vali rất nặng bước vào sân, miệng mỉm cười và mặt đỏ. Cái nhà
    tranh, mấy cây cau hình như vừa đứng thẳng hơn lên để chào chàng. Rồi đến
    lũ em ầm ỹ đẩy mành chạy òa ra, và bà mẹ mừng quá cười và khóc. Nhưng
    kẻ lên tiếng trước nhất là con Mực. Con chó già nua ấy rít lên cái thứ tiếng
    gà gáy của nó và chạy lại Du. Bà mẹ thét lên và lũ em chửi những câu thô
    tục. Du bỡ ngỡ nhìn mọi người.
    - Hình như mẹ không được khoẻ, ồ các em đã lớn cả rồi: Thanh, Tú, đứa nào
    đây? à, Thảo con chuột nhắt, trông Thảo xinh quá nhỉ? à! con Mực, vẫn con
    chó ngày ấy đấy à?... trông nó già đi tệ!...
    Con chó đã nhận ra người chủ cũ. Nó đứng lặng vẫy đuôi, đầu cúi xuống, hai
    mắt nhèm ươn ướt nhìn đất như tủi phận. Du thương hại: đó là người bạn
    lặng lẽ thui thủi bên chàng những năm xưa khi đêm vắng, chàng ngồi nhìn
    trăng mà mơ mộng. Chàng muốn cúi xuống vuốt ve. Nhưng nó bẩn ghê gớm
    quá, lông rụng từng mảng, thịt trắng lộ ra có nơi sần mụn nữa. Dáng điệu thì
    già nua, có vẻ buồn và len lén như phòng bị một cách yếu ớt. Không còn
    những cái vẫy đuôi mạnh dạn những cái nhìn rất bạn bè và những cái hít
    chân vồ vập như khi một con chó đã vui và không ngờ vực. Du thấy lòng
    nằng nặng. Chàng đưa chân chạm khẽ vào con chó để tỏ tình thương. Con
    chó vẫy đuôi mạnh hơn nhưng len lén lánh ra: dáng điệu một kẻ sợ hãi cố
    cười với người nó sợ. Và tức khắc nó vặn vẹo mình và rít lên một tiếng ngắn
    và to; đứa em tưởng anh đá hụt trả thù cho anh bằng một cái đá mạnh vào
    sườn con vật. Nó lấm lét lảng dần cũng không dám chạy một cách thẳng thắn
    để đi trốn nữa. Du trách em:

    - Sao Tú ác thế?
    - Cần gì, đến mai giết thịt cho anh ăn đấy.
    Du thấy cái vui đoàn tụ giảm hẳn đi một nửa.
    Hình ảnh con chó ghẻ với cái buồn mơ hồ cứ lảng vảng trong óc chàng mãi
    mãi. Sáng hôm sau lúc ăn cơm chàng thoáng thấy nó đi qua, đầu cúi mắt
    nhìn nghiêng như những người giả trá. Chàng muốn gọi nó vào kẹp nó vào
    giữa hai bàn chân và vừa ăn vừa vẩy cho nó miếng cơm chung một bát.
    Nhưng mà không thể được: dịu dàng quá là yếu tâm hồn, ...
     
    Gửi ý kiến