Giới thiệu sách Ngừoi gieo hy vọng lớp 8A1
CHÂM NGÔN HAY
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Ván bài lật ngửa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 10h:14' 19-03-2024
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thị Thu Hường
Ngày gửi: 10h:14' 19-03-2024
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Ván Bài Lật Ngửa
Nguyễn Trương Thiên Lý
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
P1 - Chương 1
P1 - Chương 2
P1- Chương 3
P1 - Chương 4
P1- Chương 5
P1 - Chương 6
P1- Chương 7
P1 - Chương 8
P1 - Chương 9
P1 - Chương 10
P1- Chương 11
P1 - Chương 12
P1- Chương 13
P1 - Chương 14
P1 - Chương 15
P1- Chương 16
P1 - Chương 17
P1- Chương 18
P1 - Chương 19
P1 - Chương 20
P1 - Chương 21
Phần 2 - Chương 1
P2 - Chương 2
P2 - Chương 3
P2 - Chương 4
P2 - Chương 5
P 2- Chương 6
P 2- Chương 7
P 2- Chương 8
P2 - Chương 9
P2 - Chương 10
P2 - Chương 11
P2 - Chương 12
P2 - Chương 13
P2 - Chương 14
P2 - Chương 15
P2 - Chương 16
P2 - Chương 17
P2 - Chương 18
Phần 3 - Chương 1
P3 - Chương 2
P3 - Chương 3
P3 - Chương 4
P3 - Chương 5
P3 - Chương 6
P3 - Chương 7
P3- Chương 8
P3 - Chương 9
P3 - Chương 10
P3 - Chương 11
P3 - Chương 12
P3 - Chương 13
P3 - Chương 14
P3 - Chương 15
P3 - Chương 16
P3 - Chương 17
Phần 4 - Chương 1
P4 - Chương 2
P4 - Chương 3
P4 - Chương 4
P4 - Chương 5
P4 - Chương 6
P4 - Chương 7
P4 - Chương 8
P4 - Chương 9
P4 - Chương 10
P4 - Chương 11
P4 - Chương 12
P4 - Chương 13
Phần 5 - Chương 1
P5 - Chương 2
P5 - Chương 3
P5 - Chương 4
P5 - Chương 5
P5 - Chương 6
P 5- Chương 7
P5 - Chương 8
P5 - Chương 9
P5 - Chương 10
P5 - Chương 11
P5 - Chương 12
P5 - Chương 13
Phần 6 - Chương 1
P6 - Chương 2
P6 - Chương 3
P6 - Chương 4
P6 - Chương 5
P6 - Chương 6
P6 - Chương 7
P6 - Chương 8
P6 - Chương 9
P6 - Chương 10
P6 - Chương 11
P6 - Chương 12
Phần 7 - Chương 1
P7 - Chương 2
P7 - Chương 3
P7 - Chương 4
P7 - Chương 5
P7 - Chương 6
P7 - Chương 7
P7 - Chương 8
P7 - Chương 9
Phần 8 - Chương 1
P8 - Chương 2
P8 - Chương 3
P8 - Chương 4
P8 - Chương 5
P8 - Chương 6
P8 - Chương 7
P8 - Chương 8
P8 - Chương 9
P8 - Chương 10
P8 - Chương 11
P8 - Chương 12
P8 - Chương 13
Phần 9 - Chương 1
P9 - Chương 2
P9 - Chương 3
P9 - Chương 4
P9 - Chương 5
P9 - Chương 6
P9 - Chương 7
P9 - Chương 8
P9 - Chương 9
P9 - Chương 10
P9 - Chương 11
P9 - Chương 12
P9 - Chương 13
P9 - Chương 14
P9 - Chương 15
P9 - Chương 16
P9 - Chương 17
P9 - Chương 18
P9 - Chương 19
P9 - Chương 20
P9 - Chương Kết
Nguyễn Trương Thiên Lý
Ván Bài Lật Ngửa
P1 - Chương 1
CON NUÔI CỦA GIÁM MỤC
Khẩu mắc-xim (1) trên miarađo (2) vẫn tiếp tục nhả đạn. Từ cao, giọng ục ục
của nó càng hách dịch, lấn át tiếng nổ rộ thật căng của hàng trăm súng
trường, tiểu và trung liên khác. Giữa đêm tối, đạn của nó vạch một đường đỏ
ối, xắt khu trung tâm khỏi vòng ngoài đồn đã bị quân ta tràn ngập. Cũng từ
miarađo, thỉnh thoảng một quả lựu đạn O.F nụ xòe sáng rực lao xuống vùng
bóng đen và tiếp liền tiếng nổ “oành” thách thức.
Luân xem đồng hồ tay: 1 giờ 25. Trận đánh đã kéo dài hơn tiếng đồng hồ rồi.
Tiểu đoàn chủ lực của anh – tiểu đoàn 420 – nhận nhiệm vụ hạ đồn Biện Tạ
trong chiến dịch giải phóng tuyến kinh Phụng Hiệp. Đồn Biện Tạ phụ trách
hệ phòng thủ nam huyện lỵ, là căn cứ cấp đại đội mạnh nhất. Khu đồn chia
làm ba cụm lô cốt, giữa có một đồn xây đá. Một trung đội Âu Phi thủ nơi
xung yếu nhất, ba trung đội BVN (3) thủ ba cụm lô cốt. Chỉ 5 phút sau khi
bộc phá mở rào, tiểu đoàn 420 đã làm chủ ba cụm lô cốt. Nhưng tiểu đoàn
không thể tiếp cận bọn Âu Phi chỉ vì cái miarađo quái ác kia.
Những cáng thương binh ì ọp lội trên ruộng – mùa khô bắt đầu hơn tháng
nay, song đám ruộng quanh đồn Biện Tạ lọt vào chỗ trũng, vẫn còn sình
nhão. Mỗi lần cáng thương binh qua mặt anh, Luân xốn xang như nằm trên ổ
kiển lửa.
Tiếng súng quanh đây, có vẻ đã ngưng. Nghĩa là các đơn vị địa phương đã
thu xếp gọn hàng chục đồn và lô cốt lẻ. Trong khi đó, “anh Hai 420” chưa
“tính sổ” xong đồn Biện Tạ.
Luân liếc chừng Vũ Thượng. Ánh sáng của hỏa khí từng chặp lóe lên gương
mặt người chính trị viên – hàm anh nổi vồng. Nhưng tại sở chỉ huy trận đánh
hôm nay còn có một nhân vật cao hơn: Lưu Khánh. Ông mang cấp chức Liên
trung đoàn phó, đặc phái viên của Bộ tư lệnh phân liên khu.
Lưu Khánh ngồi bẹp phía sau một công sự đất, mùi bùn nực mũi. Quanh
ông, máy ragônô quay nặng nề, ma-níp của hiệu thính viên gõ liên hồi. Cằm
vuông, râu cạo nhẵn nhưng vẫn để lại một vệt xanh chạy từ mang tai. Lưu
Khánh nghiêm nghị giống như truyền thuyết về ông ta: cười một phần mười
mép, hà tiện lời đến mức ngôn ngữ của ông chỉ quanh quẩn có: ừ, không,
thôi được, hử, coi chừng…
- Anh Sáu ơi!
Rốt cuộc rồi Luân phải cất tiếng:
- Cái gì? - Lưu Khánh không rời cái miarađo, hỏi cộc lốc.
- Cho tôi vô… - Luân cũng dè xẻn lời nói.
- Chi?
- Buộc khẩu 13,2 im…
- Được không?
- Được!
Lưu Khánh gọi:
- Sa đâu?
Từ bờ mẫu, một chú bé chừng 14, 15 tuổi trả lời:
- Em đây!
- Chú theo anh Bảy… đến bờ rào, gặp anh Út, tiểu đoàn phó…
- Dạ.
- Không được vô trong rào.
- Dạ.
- Chú nhớ!
- Dạ.
- Đi đi!
Quyến, cán bộ truyền tin, có dáng một học trò, nhân lúc nghỉ tay, châm chọc
Sa:
- Rồi anh Sáu coi, thằng Sa thông đồng với anh Bảy…
- Nó vô trại, kỷ luật! – Lưu Khánh lạnh lùng.
- Anh Quyến phá em đó. – Sa xịu mặt.
- Để coi… - Vũ Thượng dậm dọa thêm.
*
… Luân và Sa trườn sát mặt ruộng. Chốc chốc một viên cối cỡ 60 ly mồ côi,
một viên mọt-ta bay xè xè, ghé hoặc trước hoặc bên hông họ, miểng văng
rào rào.
Sa trườn vài thước lại nhìn Luân.
- Anh Bảy…
- Cái gì?
- Tới rào thôi, nghen…
- Ừ...
Sa về tiểu đoàn chưa được bao lâu. Đang học trường trung học Tiền Phong,
cậu giãy nảy, nhất định đòi đi lính. Ban giám đốc trường chịu thua cái nước
lì của Sa, gửi cậu đến tiểu đoàn. Ngay từ ngày đầu, Sa được gọi lên Ban chỉ
huy. Tiểu đoàn trưởng ngắm nghía cậu một lúc, quyết định giữ cậu làm liên
lạc riêng cho ông ta. Sa thối chí. Cậu xin đi lính đâu phải mong núp bóng
ông tiểu đoàn trưởng? Rời văn phòng tiểu đoàn về chỗ nghỉ, Sa lầm bầm
mãi. Điệu này phải làm đơn gửi lên khu mới xong. Sa hỏi han, biết tiểu đoàn
trưởng tên Bảy Luân, thuộc loại “xung phong trước lính”. Giữa lúc Sa rầu rĩ
thì có lệnh gọi: Sửa soạn đi “công tác” với anh Bảy.
- Ối, thì cũng “cơm nước, trà lá” vậy thôi…
Sa từng biết vai trò của các “tiểu đồng” theo “phò” các chỉ huy. Bởi vậy, cậu
uể oải xuống nhà bếp xin đường, trà…
- Không có! – trưởng quản trị tiểu đoàn xua tay đuổi Sa.
- Thằng nhỏ này ghiền trà tới giấc rồi! – Anh ta còn ném theo Sa một câu
nhận xét độc địa.
- Tôi mà ghiền! Tôi xin cho tiểu đoàn trưởng đó.
Sa quay lại nghinh anh quản trị.
- Tiểu đoàn trưởng đâu biết uống trà, đừng có xạo!
Quản trị trưởng ong óng. Sa không tin lời anh ta.
Tưởng tiểu đoàn trưởng đi công tác rần rần, rộ rộ, ai dè tổng cộng có ba
“chư”: tiểu đoàn trưởng, Quyến và Sa. Quyến là trung đội phó truyền tin,
song hễ có người thay ngồi ở maníp thì anh ta xung phong chèo xuồng.
Xuồng rời Biển Bạch, xuôi Sông Đốc. Lợi dụng gió thuận, họ cắm trước mũi
xuồng hai tàu dừa nước thay buồm. Xuồng lao vun vút. Sụp tối, họ ghé Xóm
Sở.
- Chú Quyến vo gạo, chú Sa nhúm lửa…
Luân phân công cho hai người. Anh xách cần câu ra ruộng.
Họ không vào nhà dân mà nấu nướng ngay ở bờ sông. Luân mang về cả chục
con cá lóc. Bữa cơm rất tươm tât.
Sa bắt đầu thích tiểu đoàn trưởng. Cậu đã tin lời quản trị trưởng: Tiểu đoàn
trưởng không trà lá gì ráo.
Đêm đó, họ theo Rạch Rập, nép sát thị trấn Cà Mau, vòng qua kinh xáng Đội
Cường.
Hai hôm sau, trận Đầu Gừa nổ ra. Luân trực tiếp nắm một đại đội và đại đội
đã chiếm cái bót nằm giữa Cà Mau – Tắc Vân chỉ tốn không quá mười phút.
Trong trận, Sa thiếu điều xỉu vì phải bám sát tiểu đoàn trưởng giữa lưới đạn
đan chéo, có viên quạt rát da mặt.
Từ hôm đó, Sa dự đến năm sáu trận. Bây giờ có ai hỏi “làm liên lạc khoái
không” thì cậu cười nhe chiếc răng lòi xỉ:
- Nhất trần đời!
*
… Gần tới rào, bỗng Luân nằm lại. Sa sợ quính:
- “Bị” rồi hả anh Bảy?
Luân không trả lời, một loáng sau anh trườn ngang Sa. Té ra anh cởi hết
quần áo, chỉ giữ khẩu “Côn” nơi bụng. Tác người nhỏ thó, da hơi ngăm,
Luân tiệp với màu trời.
Khẩu mắc-xim “ục ục” tiếp từng ba viên một.
- Thằng Tây nào bắn khá quá! – Luân nhận xét.
Tiểu đoàn phó – một người cao lêu nghêu, anh đi khom mà y người ta sổng
lưng – tóm tắt tình huống trận đánh: diệt và bắt sống ba trung đội ngụy,
nhưng chưa biết phải “xử” cái đồn giữa ra sao.
- Được!
Luân nói thật gọn. Rồi anh vọt qua rào đang ngún khói. Sa muốn níu anh lại
song không kịp. Thật tình, Sa chẳng ưa gì phải nằm với Luân tận ngoài rào.
Luân đã ngồi vào cửa lô cốt – bên trong, vài chục lính ngụy tay đặt lên ót, im
re, nhìn Luân với nỗi kinh ngạc – hình như có tên cố nén cười nữa. Luân
chẳng để ý đến bọn lính, anh ngắm nghía cái miarađô nổi bật trên nền trời
trong vắt đầy sao.
- Cho tôi một khẩu VB (4)… - Luân bảo.
Người ta chuyển đến anh khẩu súng mút, mấy quả trômblông. Anh gắn quả
trômblông vào quặng ở đầu súng, giương súng ngắm miarađo, lấy cự ly.
Sa vừa theo dõi tiểu đoàn trưởng, vừa liếc đám tù binh, có vẻ như muốn nói:
các người thấy tiểu đoàn trưởng của tôi không?
- Tất cả nép kín phía trong tường!
Ra lệnh dứt, Luân bấm cò. Quả trômblông phóng lên không trung, giống cái
đuôi sao chổi. Nó rơi ngay nóc miarađo, một tiếng nổ không lớn lắm và liền
sau đó, khẩu mắc-xim câm họng.
Luân bắn thẳng quả trômblông thứ hai vào cửa đồn. Số phận đồn Biện Tạ
được kết thúc.
Một số tù binh ngụy, dù lệnh buộc phải đặt tay lên ót vẫn chồm ra ngoài nhìn
cái miarađo chìm trong ánh lửa, miệng không ngớt hít hà thán phục tài bắn
của viên chỉ huy Việt Minh mà mắt thì vẫn cười cười.
Khi quân ta hò reo xông vào đồn, Luân mới hiểu tại sao họ cười: anh trần
truồng, chiếc quần quấn cổ.
---
(1) Một loại đại liên
(2) một loại tháp canh lô cốt
(3) Bataillon Việt Nam - Tiểu đoàn Việt Nam (thuộc Liên hiệp Pháp)
(4) Một loại súng phóng lựu
Nguyễn Trương Thiên Lý
Ván Bài Lật Ngửa
P1 - Chương 2
Luân và Vũ Thượng ngồi mãi trước tấm bản đồ trải trên đệm. Sau lưng họ,
cán bộ tham mưu, chính trị, các đại đội trưởng, tất cả đều chờ đợi ý kiến của
ban chỉ huy. Chẳng là Bộ tư lệnh quyết định mở chiến dịch lớn, phối hợp với
chiến trường chính Điện Biên Phủ. Tiểu đoàn 420 được phân công thanh
toán các đồn nằm giữa Phụng Hiệp và Cái Răng. Cục diện Đông Xuân năm
nay thuận lợi hơn bất kỳ năm nào trước đây. Toàn bộ lực lượng tinh nhuệ
của Pháp co cụm về quanh các thành phố lớn, một số phải dự cuộc hành
quân Atlăng (1), một số phải tiếp ứng cho Bắc Bộ, giữ miền Tây Nam Bộ
chủ yếu là các tiểu đoàn ngụy mới thành lập. Ta có khả năng dẫy hàng mảng
đồn bót, giải phóng hằng khu vực rộng.
Đã quá giờ ăn – tu huýt thổi hai lần rồi – mà chưa ai chịu rời bản đồ.
- Trong tuyến này, tổng cộng 16 đồn và lô cốt. Nếu ta đánh bứt đồn Nhà Thờ
thì cả tuyến sẽ rã. Cho nên, tôi đề nghị trinh sát liền đồn Nhà Thờ, có thể
cường tập, có thể chặn chúng khi chúng ra khỏi đồn, có thể kỳ tập… Hóa
trang kín dưới ghe chở cá, bất thần xung phong… - Luân gợi ý các phương
án.
- Nếu kỳ tập, chính anh giành đi theo ghe, phải không?
Vũ Thượng cười. Mọi người cười theo. Sa và Quyến ngồi ở nhà bếp cũng
ngó nhau cười. Vũ Thượng đoán trúng quá.
- Thì… - Luân ấp úng. Sự bẽn lẽn của anh càng khiến mọi người cười to
hơn.
- Báo cáo, có điện khẩn.
Đồng chí cơ yếu hấp tấp bước qua sân, đứng nghiêm. Vũ Thượng nhận điện,
đọc vội rồi trao cho Luân.
- Bộ Tư lện gọi anh – Vũ Thượng bảo.
- Không phải Bộ tư lệnh. Anh Dương Quốc Chính điện, song bảo “đến chỗ
anh Sáu Ú”… tức là đến Trung ương cục…
- Chắc các anh muốn căn dặn điều gì đó… - Vũ Thượng xem lại điện.
- Cha! … - Luân tắc lưỡi – Đang triển khai mà…
- Đi một ngày một đêm là tới Bờ Đập. Làm việc xong, quay về, trinh sát
cũng chưa báo cáo kịp với anh đâu… Cứ yên trí mà đi – Vũ Thượng xếp bản
đồ nói.
- Vậy các đồng chí tham mưu chính trị ở nhà trao đổi thêm kế hoạch. Các đại
đội cho lính nghỉ ngơi lấy sức, trinh sát nắm tình hình khu vực được phân
công. Ở Cần Thơ, Sóc Trăng tụi nó còn mấy tiểu đoàn BVN vừa huấn luyện
xong, một trung đoàn Âu Phi quân số thiếu… Cho nên, các đồng chí phải
tính đến nhiều tính huống. đánh ven lộ, chú ý pháo. Cụm pháo 105 Phụng
Hiệp gần đây thêm ba khẩu 155. Các đồn đều nhận thêm cối… Đó là khí tài
của chiến tranh Triều Tiên, Mỹ viện trợ cho Pháp.
Khi các cán bộ rời sở chỉ huy, Luân than thở với Vũ Thượng:
- Tôi ngại ông Lưu Khánh rút 420 về bảo vệ Trung ương cục quá!
Vũ Thượng lắc đầu:
- Không có lý … Đang tập trung lực lượng ra phía trước mà!
- Tôi mang theo tất cả bản đồ. Biết đâu các anh lại quyết định đưa 420 lên
Long Tuyền, Nhơn Ái, hoặc xa hơn, đưa hẳn lên Long Châu Hậu (2).
Luân phấn khởi trở lại. vài phút sau anh đã ngồi xuống chiếc tam bản cà rèm.
Sa và Quyến ướm thử quai chèo. Chiếc tam bản rời bến, phóng đi…
---
(1) Pháp mở chiến dịch Atlan ở Tuy Hòa
(2) Một tỉnh cũ thời kháng chiến chống Pháp, gần phần hữu ngạn sông Hậu
của Long Xuyên và Châu Đốc
Nguyễn Trương Thiên Lý
Ván Bài Lật Ngửa
P1- Chương 3
Luân bắt tay anh Tư thật chặt. Đã hơn 8 năm Luân mới gặp lại anh Tư. So
với hồi đó, anh Tư mập hơn đôi chút, song da vẫn ủng, mắt thâm quầng và
nhất là vẫn ho khúc khắc.
Hai người hỏi thăm nhau vài câu rồi Luân xin phép được làm việc. Nhìn số
cán bộ ngồi chật nhà bên, Luân biết sáng nay, anh Tư còn tiếp có lẽ cả chục
khách nữa là ít. Trải tấm bản đồ vùng Phụng Hiệp lên bàn, Luân cầm bút chì,
chỉ vào hướng 420 sẽ tấn công.
- Thưa anh, đây là đường xe Phụng Hiệp – Cần Thơ…
- Nhưng hôm nay tôi gặp anh để bàn chuyện khác! – Anh Tư ngăn Luân.
Luân sững sờ. Anh Tư tươi cười:
- Chuyện khác quan trọng hơn chuyện giải phóng tuyến Phụng Hiệp… Anh
đọc điện này sẽ rõ.
Bức điện thượng khẩn và tuyệt mật của Trung ương Đảng.
“Quyết tâm của Trung ương diệt chủ lực địch ở Điện Biên Phủ. Các chiến
trường cần khẩn trương phối hợp. Sau thắng lợi lớn này, tình hình chính trị
có thể có đột biến”.
*
Luân gặp anh Tư lần đầu – và mãi hôm nay mới gặp lại – đúng vào lúc Nam
Bộ kháng chiến mở màn.
Dựa vào quân Anh – chiêu bài của chúng là thay mặt cho Đồng minh giải
giới quân đội Nhật ở Nam Đông Dương – Pháp cùng một lúc chiếm trụ sở
Ủy ban nhân dân Nam Bộ, Tòa đốc lý, Sở công an. Nhật ngầm tiếp tay Pháp,
vũ trang cho chúng. Tình hình nói chung là bất lợi đối với ta – vừa giành
chính quyền xong, chưa kịp tổ chức lực lượng, thiếu vũ khí.
Dưới ánh đèn dầu mờ mờ trong một căn nhà lọt giữa xóm lao động bên kia
Cầu Bông, anh Tư truyền đạt các chỉ thị khẩn cấp của Thành ủy. Luân chưa
hiểu anh Tư là ai. Dong dỏng cao, da trắng bệt, mắt trõm, thỉnh thoảng ôm
ngực nén cơn ho cơ hồ xé phổi, lại luôn cười đôn hậu, nói không văn vẻ - hơi
lộn xộn nữa – nhưng dễ hiểu, anh đã gieo ấn tượng mạnh trong Luân qua
phong thái ung dung giữa bốn hướng súng nổ rộ.
Luân là một trong những người hăng hái nhất hôm đó. Anh không để ý lắm
các phân tích tình hình của anh Tư.
- Theo tôi, cái cần nhất hiện giờ là súng. Xin cho súng. Có súng, chúng tôi tự
biết liền cách đánh!
Luân đặt vấn đề bốp chát như vậy.
Anh Tư nhìn Luân, vẫn tươi cười:
- Anh bạn! Nếu chúng ta có đủ súng thì hà tất phải ngồi đây bàn với nhau cả
buổi trời. “Cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ bẩy quả đất cho mà xem”. Hình như
câu nói đó của Acsimet (1). “Cho tôi súng, tôi sẽ rượt bọn Gra-xi(2) chạy vắt
giò lên cổ cho mà xem”. Đến lượt anh bạn, Acsimet thời nay!
Đối với Luân, cuộc nói chuyện không lấy gì làm thú vị. Tuy vậy, sau đó, anh
được phái ra Hà Nội và trở về Nam với một chuyến xe lửa đầy súng đạn. Rồi
anh quay ra Hà Nội. Lần sau, chuyến xe lửa đầy vũ khí phải dừng lại Quảng
Ngãi – đường phía trong đã bị Pháp chiếm. Thế là Luân chuyển vũ khí bằng
thuyền. Anh công tác ở Phòng liên lạc miền Nam năm 1947.
*
Là một kỹ sư vừa tốt nghiệp, Luân mang tật cao ngạo của số đông trí thức
lúc bấy giờ. Suốt thời gian học đại học, Luân ít giao du. Với anh, kiến thức
và chỉ kiến thức là cái đang thu thập. Bởi vậy, mặc dù quanh anh không khí
chính trị sôi sục, Luân vẫn cắm đầu học. Nhật đã đổ bộ vào Đông Dương,
chiến tranh thế giới và Thái Bình Dương càng lúc càng gay gắt, Luân chỉ
nghe mà không hề tỏ thái độ. Ngoài sách chuyên môn – anh theo ngành canh
nông – anh giải trí bằng truyện trinh thám, món giải trí đến với anh từ lúc
anh còn ở bậc trung học trường Chasseloup Laubat. Về thể thao, anh chơi
quần vợt – chơi khá giỏi.
Sinh trưởng trong một gia đình hội tụ gần như đủ tất cả các điều kiện để
được gọi là “thượng lưu” – trí thức, Pháp tịch, đạo Thiên chúa – Luân,
Robert Nguyễn Thành Luân, lại thích lối sống khắc khổ. Có thể anh là con
áp út – về con trai anh là út – phải ở với bà nội và học tiểu học tại tỉnh lẻ,
cho nên Luân gần gũi hơn so với các anh chị, nếp sinh hoat nông thôn.
Luân là người duy nhất trong gia đình không đỗ đạt bên Pháp. Sự lựa chọn
ngành của anh hoàn toàn là một cử chỉ hiếu đễ: bà nội anh thích trồng trọt.
Còn nói về nguyện vọng riêng, chính anh mơ ước trở thành một nhà trinh
thám tư – một ngành thực tế không có chỗ dùng ở Viêt Nam.
Cần nói thêm cho thật chính xác: anh không sang Pháp vì khi anh đậu tú tài,
đường sang Pháp bị chiến tranh làm gián đoạn.
Nhận xong bằng kỹ sư – lễ phát bằng uể oải như guồng máy chạy cầm chừng
của nhà nước Pháp ở Đông Dương. Luân về Nam. Chính trên chuyến xe lửa
chỉ thì thụt ban đêm và kéo khá dài ngày đó, Luân bắt đầu thay đổi cách suy
nghĩ.
Tình cờ một bạn học nằm chung “cút-sết”(3) với anh, anh bạn học này tên là
Quý, quê Nam Định, sinh viên ngành y, sống chung với anh nhiều năm ở
Đông Dương học xá. Bỗng một dạo, Quý bỏ học. Tin đồn đại trong bạn học:
Quý lên chiến khu, theo ông Võ Nguyên Giáp. Khi Luân ra Hà Nội, ông Võ
Nguyên Giáp không còn dạy trường Thăng Long, ngôi trường nổi tiếng ở
phố Ngõ Trạm, xong tên ông Giáp thì nghe bạn học rỉ tai, đầy thán phục.
Xe vào đến ga Đò Lèn, Quý mới có mặt trong toa. Gặp Luân, Quý hơi lúng
túng. Nghĩa là Quý mua vé đi từ Hà Nội mà không lên xe tại ga Hàng Cỏ. Có
lẽ tính toán khá lâu, sau cùng Quý nói thẳng với Luân.
Đúng như tin đồn đãi, Quý lên Tuyên Quang, dự lớp quân chính, cùng nhiều
học sinh sinh viên khác. Bây giờ. Quý vào Nam, liên lạc với Việt Minh trong
đó. Quý kể nhiều chuyện chiến khu, Luân thích nghe đến nỗi, khi xe đỗ lại
tránh máy bay ban ngày – thường giữa vùng rừng núi quạnh quẽ - anh cũng
không rời Quý một bước.
Tới Sài Gòn, Luân trình diện tại Sở canh nông. Giám đốc sở vẫn là người
Pháp. Lão Tây thất thế rầu rầu nhìn Luân. Ngồi dưới ảnh Quốc trưởng Pétain
mà có vẻ lão vểnh tai ngóng tiếng nói của De Gaulle. Còn phó giám đốc đã
là một người Việt. Ông ta đỗ bằng kỹ sư nông học bên Pháp – từ thuở kỹ sư
nông học còn gọi là Bác vật canh nông – làm phó giám đốc vì đại sứ Nhật
muốn như vậy. Thực ra, ông ta chưa hề biết đồng ruộng Việt Nam ra sao.
Gặp Luân, ông ta không nói gì về trồng trọt mà thao thao hằng mấy giờ liền
về thuyết “Đại Đông Á”, về đề quốc hùng cường Đại Nippon dẫn đạo các
dân tộc da vàng. Phó giám đốc ân cần mời mọc Luân viết báo Tân Á (4).
Cuộc tháo chạy khỏi Phi Luật Tân, Miến Điện, Nam Dương của quân
Nhật… được ông giải thích như là hoàn toàn “mưu mẹo”, y hệt ông ta là
hãng Domei (5). Ông ta hé cho Luân biết chẳng bao lâu nữa, Trần Trọng
Kim sẽ lập chính phủ - chính phủ Việt Nam độc lập – và ông ta sẽ giữ một
ghế bộ trưởng…
Luân chỉ đến sở một lần đó. Anh đi hẳn với Quý. Hai người lội tới lội lui
vùng rừng Trị An. Quý đã liên lạc được với Kỳ bộ Việt Minh. Luân giúp
Quý tìm vũ khí. Rất khó, song họ cũng mua được vài khẩu súng lửa.
Người anh thứ năm của Luân là luật gia Jean Nguyễn Thành Luân. Vợ của
Jean cũng là một tiến sĩ Luật, thuộc giọng họ lớn ở Bạc Liêu: dòng họ Trần.
Cả hai liên hệ với nhóm trí thức yêu nước và thiên tả lúc bấy giờ: Phạm
Ngọc Thạch, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Văn Thủ…
Jean nhiều lần khuyên Robert tiếp xúc với các trí thức đó – họ làm việc dưới
sự lãnh đạo của các đảng viên Cộng sản đệ tam. Robert từ chối. Jean lo ngại
vì trong trí thức Sài Gòn còn các nhóm khác mà khuynh hướng khá phức
tạp: nhóm Tạ Thu Thâu, nhóm Hồ Vĩnh Ký, nhóm Nguyễn Văn Thinh,
nhóm Hồ Văn Ngà – kẻ thì của đệ tứ Trôtkit, kẻ thì của phòng nhì Pháp, kẻ
thì thân Nhật. Jean chỉ hết lo ngại khi bắt gặp Robert đọc “Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản”, với vô số gạch dưới bằng bút chì đỏ.
*
Rồi Luân cũng hiểu được anh Tư là ai. Có lẽ trừ gốc đạo Thiên chúa, anh Tư
giống Luân về nhiều mặt, thậm chí còn trội hơn nữa. Dân Tây – anh Tư tên
là François, vứt bỏ cái một quốc tịch Pháp lẫn vị trí cai trị đầu sỏ, đi dạy học
kiếm cơm như những thầy giáo “Annamit” chỉ có bằng sơ học, viết báo
chống lại chính quyền Pháp, vào tù ra khám. Là ủy viên ủy ban quân sự khởi
nghĩa Nam kỳ năm 1940, anh Tư bị truy nã, bị bắt, bị tra tấn và bị kết án tử
hình. Nếu không phải là công dân Pháp và nếu không có chiến tranh – đường
liên lạc từ Đông Dương về Pháp nghẽn, bản án của tòa đại hình Sài Gòn
không được Giám quốc(6) Pháp thông qua, đây là luật lệ dành cho các bản
án đối với công dân Pháp – thì anh Tư bị điệu ra trường bắn từ lâu rồi.
Luân tìm thấy nhiều điều ly kỳ trong việc anh Tư vượt ngục: một ngày tháng
3 năm 1945, buổi sáng, còi báo động. Trong “xen-luyn”(7) tử hình, anh Tư
chỉ biết cuộc oanh tạc của Anh – Mỹ khi chỗ nằm anh bỗng rung rinh dữ dội
cùng với một tiếng nổ điếc tai. Anh không trông thấy gì cả. Khói trùm kín
khu khám lớn, cửa “xen-luyn” của anh đổ kềnh. Lập tức, anh Tư trút bỏ quần
áo tù,mặc độc chiếc quần xà lỏn, vụt nhảy khỏi khám. Anh lao đến đúng nơi
bom rơi sạt bức tường cao vọi và chỉ một cái lách mình, anh đã ở ngoài
đường Lagrandiere. Hai hôm sau, thân thể còn da bọc xương, phổi nhức
nhối, anh Tư chủ trì cuộc họp cán bộ với cương vị bí thư Thành ủy vừa được
chỉ định.
Và hôm nay, men con rạch Bờ Đập êm ả, Luân lắng nghe anh Tư không để
sót một chi tiết. Luân định nhắc lại để xin lỗi chuyện hơn 8 năm trước. Song
anh thôi. Chưa chắc một người như anh Tư còn có thể nhớ những thứ ấy.
Luân biết rằng anh Tư đang là Ủy viên Trung ương Đảng, Thường vụ Trung
ương Cục. Luân còn biết thêm: vài ngày nữa anh Tư sẽ nhận nhiệm vụ Bí
thư Đặc ủy khu Sài Gòn – Gia Định, một chiến trường sôi động trong buổi
tiếp giáp chiến tranh và hòa bình…
---
(1) Archimède, nhà thông thái thời cổ đại (287 - 212 trước công nguyên)
(2) Gracey, tư lệnh quân đội Anh.
(3) Couchette: toa có giường ngủ.
(4) Tờ báo thân Nhật.
(5) Hãng thông tấn chính thức của Nhật.
(6) tương tự như chức Tổng thống ngày nay.
(7) Cellule: khám nhỏ nhốt trọng phạm.
Nguyễn Trương Thiên Lý
Ván Bài Lật Ngửa
P1 - Chương 4
- Anh còn giữ mấy bức thư của Ngô Đình Thục không?
Câu chuyện bỗng nhiên trầm trầm. Luân tiếp nhận quyết định của Đảng với
một thái độ rõ ràng là miễn cưỡng. Các trận đánh sắp tới quanh Cần Thơ
hoặc phía bắc lộ Cái Sắn vẫn ám ảnh anh. Từ lúc rời cơ quan mật vụ Nam
Bộ, trực tiếp cầm quân ở cấp tiểu đoàn, Luân dự hàng trăm trận đánh, song
không phải lúc nào anh cũng thắng. Các đơn vị của Pháp từng cho anh nếm
mùi đau khổ, khi ở Vĩnh Trà Bến (1), khi ở Long Châu Hà, khi ở Rạch Giá.
Cho nên, Luân đã dành tất cả thời gian học tập nghiên cứu, điều tra các loại
thực địa khác nhau, các đối tượng địch khác nhau, quyết tâm trở thành một
cán bộ quân sự chuyên nghiệp. Từ 1951, tiểu đoàn 420 – với sự bổ sung
chính trị viên Vũ Thượng, một cán bộ xuất thân từ thợ máy hải quân Pháp –
đã trưởng thành hẳn. Chiến công của tiểu đoàn trở nên niềm hãnh diện của
toàn Phân liên khu. Bên cạnh các tiểu đoàn 307, 308, 311… lẫy lừng, người
ta bắt đầu kể thêm 420. Trước Đông Xuân 1953-1954, tiểu đoàn 420 làm
nhiệm vụ cơ động trên một địa bàn rộng lớn. Luân được đề bạt trung đoàn
phó. Tình hình dường như sửa soạn cho tiểu đoàn tung hoành. Bài hát của
nhạc sĩ Quách Vũ có câu “ta thắng như chẻ tre, ta thắng như nước tràn” mấy
năm trước bị phê bình là “lạc quan tếu” nay có vẻ không xa sự thật là bao
nhiêu. Giữa tình thế “trăm năm có một” như vậy, cấp trên lại bàn với anh
cung cách hoạt động lâu dài trong lòng địch!
- Còn giữ… nhưng tôi không mang theo đây. Mang theo làm gì cái thứ…
Luân trả lời anh Tư, giọng vừa buồn vừa bực.
- Ý! – anh Tư cười đôn hậu – Cái thứ đó quí lắm đa. Anh còn nhớ mỗi thư
nói cái gì không?
Luân chỉ nhớ mang máng.
- Anh cứ tiếp tục công việc đang làm. Tất nhiên, anh phải để ít ra là một nửa
thì giờ cho công việc sắp tới. Văn phòng chuẩn bị sẵn cho anh khá nhiều tài
liệu, gồm báo cáo, báo chí, sách… Sở công an, phòng quân báo Bộ tư lệnh
sẽ cung cấp cho anh các mặt tình hình. Điều anh cần giữ kỹ như nguyên tắc
là không tiết lộ với bất kỳ ai nhiệm vụ mới của anh.
Anh Tư dặn dò thêm Luân trước khi Luân vùi đầu vào đống tài liệu trong
gian nhà bên cạnh nơi làm việc của anh Tư.
Không rõ ai đó vô tình hay cố ý đặt lên bàn tờ Nhân dân miền Nam số mới
nhất. Luân đọc ngấu nghiến bài ký tên Trung Thành mà Luân biết là bút
danh của anh Sáu Thọ, ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Trung ương
Cục: “…Quân địch đang bị động, đối phó với ta ở đồng bằng Bắc Bộ, Điện
Biên Phủ và Trung Lào, chúng phải rút gần hết lực lượng ứng chiến tinh
nhuệ ở chiến trường Nam Bộ ra các nơi đó, nên ở chiến trường Nam Bộ
quân địch đang hoạt động yếu hơn trước và có rất nhiều sơ hở, tinh thần binh
lính ngụy lại càng hoang mang dao động trước những chiến thắng của ta…”
*
Cái cớ mà giám mục địa phận Vĩnh Long Ngô Đình Thục viết bức thư đầu
tiên cho Robert Nguyễn Thành Luân khá bình thường. Năm đó, năm 1952,
kỹ sư điện René Nguyễn Thành Luân qua đời ở Paris – cả Jean và Robert
đều không làm sao dự lễ tiễn đưa cha đến nơi yên nghỉ cuối cùng được.
Ngay cái tin ông René Nguyễn Thành Luân mất, hai anh em đều không hay,
trước khi Robert nhận được thư của giám mục.
Giám mục địa phận gửi thư chia buồn với người con của một tín đồ - và bản
thân người con cũng là một tín đồ - không phải là việc gì cần bàn cãi. Hơn
nữa, không ai không biết ông René Nguyễn Thành Luân có mối giao hảo cá
nhân rất thân mật với người chủ chăn giáo phận – một trong những giám
mục người Việt Nam ít ỏi lúc bấy giờ.
Năm Luân vào ban tú tài cũng là năm Ngô Đình Thục được phong giám
mục. Ông René đưa con đến chào vị giám mục địa phận – niềm tự hào của
người sùng đạo như ông. Và, giám mục đã ban phép cho Luân. Từ đó cho
đến khi rời thành phố vào chiến khu, Luân vẫn thường gặp giám mục – nhất
là dịp nghỉ hè.
“Cha đau buồn vô hạn khi được tin chẳng lành của người bạn thân, cụ kỹ sư
René Nguyễn Thành Luân, vừa từ trần, an táng tại nghĩa trang Père-laChaise. Cha đã cầu nguyện cho cụ và mong con cũng cầu nguyện cho người
cha thân yêu của mình về nước Chúa…”
Bức thư vắn tắt như vậy thôi.
Bức thư thứ hai, nhiều ý hơn, đến vào tháng 7 năm 1953.
“Cha mừng con được an khang trong Chúa. Cha mong mỏi một ngày gần
nhất được gặp con, vừa để thăm lại đứa con của giáo phận ra đi đã 8 năm,
vừa han hỏi đứa con của người bạn mà cha lúc nào cũng quý mến. Con có
thể cho một cái hẹn không? Cha đảm bảo tất cả an toàn và cha tin là con
không hề có một chút nghi ngờ”.
Liên trung đoàn trưởng 120 – cũng là một tín đồ đạo Thiên chúa – nói lại với
Luân, ông ta cũng nhận một bức thư tương tự, dĩ nhiên hình thức là chuyện
nhớ mong… vì Liên trung đoàn trưởng thuộc một gia đình đạo không phải
toàn tòng. Thư của giám mục gửi cho con chiên kháng chiến tương ứng với
diễn biến ở chiến trường: năm 1953, thực dân Pháp đang hấp hối.
Hai tháng sau, tháng 9 năm 1953, Luân nhận được bức thư thứ ba:
“Cuộc chém giết ngoài ý Chúa đã kéo khá dài. Như các đấng bề trên và Đức
Thánh Cha hằng lo lắng, cha đêm ngày cầu mong sao máu ngừng đổ. Con là
một chỉ huy, cha mong con đóng góp vào một cuộc bãi binh mà mỗi bên đều
giữ được danh dự. Cha nóng lòng được gặp con đặng cha con ta bàn thảo
xem con có thể làm được điều gì trong phận sự mà con gánh vác ngoài đời,
chu toàn đặng trách nhiệm của một dân Chúa. Ông Savany, con biết danh
tiếng của ông, sẵn sàng tạo mọi phương tiện cho con gặp cha”.
Savany là trung tá, phụ trách phòng nhì Pháp ở đồng bằng sông Cửu Long.
Và bức thư mới nhất trước trận tiểu đoàn 420 hạ đồn Biện Tạ.
“Thời cuộc xoay chuyển thiệt là mau lẹ. Theo những gì mà cha nắm được,
trong một ngày không xa, ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước chấp chính. Cha
hy vọng con hiểu rõ tầm quan trọng đặc biệt của sự thay đổi nầy. Là một
người tín ngưỡng Chúa, lại theo chủ nghĩa quốc gia, có mối giao thiệp thân
tình với gia đình họ Ngô Đình, con cần suy tính thật kỹ và nên dứt khoát
trước khi quá muộn. Sắp tới, không phải người Pháp mà là người Mỹ sát
cánh với chúng ta. Con nên nhớ, nước Mỹ là nước đã ném bom nguyên tử
xuống nước Nhật. Đức hồng y Spellman thường thư từ với cha. Đó là một
đấng bề trên hiểu biết và rộng lượng…”
Thư của giám mục gởi cho Luân vào lúc Mỹ gần như gánh trọn toàn bộ ngân
sách chiến tranh Đông Dương – ngày 30-7-1953 quốc hội Hoa Kỳ chấp
thuận viện trợ quân sự cho Đông Dương tài khóa 1953-1854 là 400 triệu Mỹ
kim; ngày 2-9-1953 chính phủ Hoa Kỳ lại quyết định bổ sung thêm 385 triệu
đô la nữa. Sự viện trợ dồn dập như thế nhằm yểm trợ cho “kế hoạch
Navarre” mà một trong những điều then chốt là “giao cho phía Việt Nam
những phần trách nhiệm nặng nề hơn”. Bức thư cũng liên quan tới lời tuyên
bố úp mở của thủ tướng Pháp Laniel ngày 12-11-1953: “Chính phủ Pháp
nghĩ rằng vấn đề Đông Dương không nhất thiết phải có giải pháp quân sự.
Pháp không đòi hỏi đối phương phải đầu hàng không điều kiện. Pháp mong
muốn có cuộc điều đình”.
*
Cuộc hành quân Castor mở màn, với sáu tiểu đoàn Âu Phi nhảy dù chiến
đóng Điện Biên Phủ. Đây là một canh bạc Pháp dốc túi, không chỉ để giảm
đến mức có thể giảm sự thua thiệt trước các dân tộc Đông Dương mà còn
hòn...
Nguyễn Trương Thiên Lý
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
P1 - Chương 1
P1 - Chương 2
P1- Chương 3
P1 - Chương 4
P1- Chương 5
P1 - Chương 6
P1- Chương 7
P1 - Chương 8
P1 - Chương 9
P1 - Chương 10
P1- Chương 11
P1 - Chương 12
P1- Chương 13
P1 - Chương 14
P1 - Chương 15
P1- Chương 16
P1 - Chương 17
P1- Chương 18
P1 - Chương 19
P1 - Chương 20
P1 - Chương 21
Phần 2 - Chương 1
P2 - Chương 2
P2 - Chương 3
P2 - Chương 4
P2 - Chương 5
P 2- Chương 6
P 2- Chương 7
P 2- Chương 8
P2 - Chương 9
P2 - Chương 10
P2 - Chương 11
P2 - Chương 12
P2 - Chương 13
P2 - Chương 14
P2 - Chương 15
P2 - Chương 16
P2 - Chương 17
P2 - Chương 18
Phần 3 - Chương 1
P3 - Chương 2
P3 - Chương 3
P3 - Chương 4
P3 - Chương 5
P3 - Chương 6
P3 - Chương 7
P3- Chương 8
P3 - Chương 9
P3 - Chương 10
P3 - Chương 11
P3 - Chương 12
P3 - Chương 13
P3 - Chương 14
P3 - Chương 15
P3 - Chương 16
P3 - Chương 17
Phần 4 - Chương 1
P4 - Chương 2
P4 - Chương 3
P4 - Chương 4
P4 - Chương 5
P4 - Chương 6
P4 - Chương 7
P4 - Chương 8
P4 - Chương 9
P4 - Chương 10
P4 - Chương 11
P4 - Chương 12
P4 - Chương 13
Phần 5 - Chương 1
P5 - Chương 2
P5 - Chương 3
P5 - Chương 4
P5 - Chương 5
P5 - Chương 6
P 5- Chương 7
P5 - Chương 8
P5 - Chương 9
P5 - Chương 10
P5 - Chương 11
P5 - Chương 12
P5 - Chương 13
Phần 6 - Chương 1
P6 - Chương 2
P6 - Chương 3
P6 - Chương 4
P6 - Chương 5
P6 - Chương 6
P6 - Chương 7
P6 - Chương 8
P6 - Chương 9
P6 - Chương 10
P6 - Chương 11
P6 - Chương 12
Phần 7 - Chương 1
P7 - Chương 2
P7 - Chương 3
P7 - Chương 4
P7 - Chương 5
P7 - Chương 6
P7 - Chương 7
P7 - Chương 8
P7 - Chương 9
Phần 8 - Chương 1
P8 - Chương 2
P8 - Chương 3
P8 - Chương 4
P8 - Chương 5
P8 - Chương 6
P8 - Chương 7
P8 - Chương 8
P8 - Chương 9
P8 - Chương 10
P8 - Chương 11
P8 - Chương 12
P8 - Chương 13
Phần 9 - Chương 1
P9 - Chương 2
P9 - Chương 3
P9 - Chương 4
P9 - Chương 5
P9 - Chương 6
P9 - Chương 7
P9 - Chương 8
P9 - Chương 9
P9 - Chương 10
P9 - Chương 11
P9 - Chương 12
P9 - Chương 13
P9 - Chương 14
P9 - Chương 15
P9 - Chương 16
P9 - Chương 17
P9 - Chương 18
P9 - Chương 19
P9 - Chương 20
P9 - Chương Kết
Nguyễn Trương Thiên Lý
Ván Bài Lật Ngửa
P1 - Chương 1
CON NUÔI CỦA GIÁM MỤC
Khẩu mắc-xim (1) trên miarađo (2) vẫn tiếp tục nhả đạn. Từ cao, giọng ục ục
của nó càng hách dịch, lấn át tiếng nổ rộ thật căng của hàng trăm súng
trường, tiểu và trung liên khác. Giữa đêm tối, đạn của nó vạch một đường đỏ
ối, xắt khu trung tâm khỏi vòng ngoài đồn đã bị quân ta tràn ngập. Cũng từ
miarađo, thỉnh thoảng một quả lựu đạn O.F nụ xòe sáng rực lao xuống vùng
bóng đen và tiếp liền tiếng nổ “oành” thách thức.
Luân xem đồng hồ tay: 1 giờ 25. Trận đánh đã kéo dài hơn tiếng đồng hồ rồi.
Tiểu đoàn chủ lực của anh – tiểu đoàn 420 – nhận nhiệm vụ hạ đồn Biện Tạ
trong chiến dịch giải phóng tuyến kinh Phụng Hiệp. Đồn Biện Tạ phụ trách
hệ phòng thủ nam huyện lỵ, là căn cứ cấp đại đội mạnh nhất. Khu đồn chia
làm ba cụm lô cốt, giữa có một đồn xây đá. Một trung đội Âu Phi thủ nơi
xung yếu nhất, ba trung đội BVN (3) thủ ba cụm lô cốt. Chỉ 5 phút sau khi
bộc phá mở rào, tiểu đoàn 420 đã làm chủ ba cụm lô cốt. Nhưng tiểu đoàn
không thể tiếp cận bọn Âu Phi chỉ vì cái miarađo quái ác kia.
Những cáng thương binh ì ọp lội trên ruộng – mùa khô bắt đầu hơn tháng
nay, song đám ruộng quanh đồn Biện Tạ lọt vào chỗ trũng, vẫn còn sình
nhão. Mỗi lần cáng thương binh qua mặt anh, Luân xốn xang như nằm trên ổ
kiển lửa.
Tiếng súng quanh đây, có vẻ đã ngưng. Nghĩa là các đơn vị địa phương đã
thu xếp gọn hàng chục đồn và lô cốt lẻ. Trong khi đó, “anh Hai 420” chưa
“tính sổ” xong đồn Biện Tạ.
Luân liếc chừng Vũ Thượng. Ánh sáng của hỏa khí từng chặp lóe lên gương
mặt người chính trị viên – hàm anh nổi vồng. Nhưng tại sở chỉ huy trận đánh
hôm nay còn có một nhân vật cao hơn: Lưu Khánh. Ông mang cấp chức Liên
trung đoàn phó, đặc phái viên của Bộ tư lệnh phân liên khu.
Lưu Khánh ngồi bẹp phía sau một công sự đất, mùi bùn nực mũi. Quanh
ông, máy ragônô quay nặng nề, ma-níp của hiệu thính viên gõ liên hồi. Cằm
vuông, râu cạo nhẵn nhưng vẫn để lại một vệt xanh chạy từ mang tai. Lưu
Khánh nghiêm nghị giống như truyền thuyết về ông ta: cười một phần mười
mép, hà tiện lời đến mức ngôn ngữ của ông chỉ quanh quẩn có: ừ, không,
thôi được, hử, coi chừng…
- Anh Sáu ơi!
Rốt cuộc rồi Luân phải cất tiếng:
- Cái gì? - Lưu Khánh không rời cái miarađo, hỏi cộc lốc.
- Cho tôi vô… - Luân cũng dè xẻn lời nói.
- Chi?
- Buộc khẩu 13,2 im…
- Được không?
- Được!
Lưu Khánh gọi:
- Sa đâu?
Từ bờ mẫu, một chú bé chừng 14, 15 tuổi trả lời:
- Em đây!
- Chú theo anh Bảy… đến bờ rào, gặp anh Út, tiểu đoàn phó…
- Dạ.
- Không được vô trong rào.
- Dạ.
- Chú nhớ!
- Dạ.
- Đi đi!
Quyến, cán bộ truyền tin, có dáng một học trò, nhân lúc nghỉ tay, châm chọc
Sa:
- Rồi anh Sáu coi, thằng Sa thông đồng với anh Bảy…
- Nó vô trại, kỷ luật! – Lưu Khánh lạnh lùng.
- Anh Quyến phá em đó. – Sa xịu mặt.
- Để coi… - Vũ Thượng dậm dọa thêm.
*
… Luân và Sa trườn sát mặt ruộng. Chốc chốc một viên cối cỡ 60 ly mồ côi,
một viên mọt-ta bay xè xè, ghé hoặc trước hoặc bên hông họ, miểng văng
rào rào.
Sa trườn vài thước lại nhìn Luân.
- Anh Bảy…
- Cái gì?
- Tới rào thôi, nghen…
- Ừ...
Sa về tiểu đoàn chưa được bao lâu. Đang học trường trung học Tiền Phong,
cậu giãy nảy, nhất định đòi đi lính. Ban giám đốc trường chịu thua cái nước
lì của Sa, gửi cậu đến tiểu đoàn. Ngay từ ngày đầu, Sa được gọi lên Ban chỉ
huy. Tiểu đoàn trưởng ngắm nghía cậu một lúc, quyết định giữ cậu làm liên
lạc riêng cho ông ta. Sa thối chí. Cậu xin đi lính đâu phải mong núp bóng
ông tiểu đoàn trưởng? Rời văn phòng tiểu đoàn về chỗ nghỉ, Sa lầm bầm
mãi. Điệu này phải làm đơn gửi lên khu mới xong. Sa hỏi han, biết tiểu đoàn
trưởng tên Bảy Luân, thuộc loại “xung phong trước lính”. Giữa lúc Sa rầu rĩ
thì có lệnh gọi: Sửa soạn đi “công tác” với anh Bảy.
- Ối, thì cũng “cơm nước, trà lá” vậy thôi…
Sa từng biết vai trò của các “tiểu đồng” theo “phò” các chỉ huy. Bởi vậy, cậu
uể oải xuống nhà bếp xin đường, trà…
- Không có! – trưởng quản trị tiểu đoàn xua tay đuổi Sa.
- Thằng nhỏ này ghiền trà tới giấc rồi! – Anh ta còn ném theo Sa một câu
nhận xét độc địa.
- Tôi mà ghiền! Tôi xin cho tiểu đoàn trưởng đó.
Sa quay lại nghinh anh quản trị.
- Tiểu đoàn trưởng đâu biết uống trà, đừng có xạo!
Quản trị trưởng ong óng. Sa không tin lời anh ta.
Tưởng tiểu đoàn trưởng đi công tác rần rần, rộ rộ, ai dè tổng cộng có ba
“chư”: tiểu đoàn trưởng, Quyến và Sa. Quyến là trung đội phó truyền tin,
song hễ có người thay ngồi ở maníp thì anh ta xung phong chèo xuồng.
Xuồng rời Biển Bạch, xuôi Sông Đốc. Lợi dụng gió thuận, họ cắm trước mũi
xuồng hai tàu dừa nước thay buồm. Xuồng lao vun vút. Sụp tối, họ ghé Xóm
Sở.
- Chú Quyến vo gạo, chú Sa nhúm lửa…
Luân phân công cho hai người. Anh xách cần câu ra ruộng.
Họ không vào nhà dân mà nấu nướng ngay ở bờ sông. Luân mang về cả chục
con cá lóc. Bữa cơm rất tươm tât.
Sa bắt đầu thích tiểu đoàn trưởng. Cậu đã tin lời quản trị trưởng: Tiểu đoàn
trưởng không trà lá gì ráo.
Đêm đó, họ theo Rạch Rập, nép sát thị trấn Cà Mau, vòng qua kinh xáng Đội
Cường.
Hai hôm sau, trận Đầu Gừa nổ ra. Luân trực tiếp nắm một đại đội và đại đội
đã chiếm cái bót nằm giữa Cà Mau – Tắc Vân chỉ tốn không quá mười phút.
Trong trận, Sa thiếu điều xỉu vì phải bám sát tiểu đoàn trưởng giữa lưới đạn
đan chéo, có viên quạt rát da mặt.
Từ hôm đó, Sa dự đến năm sáu trận. Bây giờ có ai hỏi “làm liên lạc khoái
không” thì cậu cười nhe chiếc răng lòi xỉ:
- Nhất trần đời!
*
… Gần tới rào, bỗng Luân nằm lại. Sa sợ quính:
- “Bị” rồi hả anh Bảy?
Luân không trả lời, một loáng sau anh trườn ngang Sa. Té ra anh cởi hết
quần áo, chỉ giữ khẩu “Côn” nơi bụng. Tác người nhỏ thó, da hơi ngăm,
Luân tiệp với màu trời.
Khẩu mắc-xim “ục ục” tiếp từng ba viên một.
- Thằng Tây nào bắn khá quá! – Luân nhận xét.
Tiểu đoàn phó – một người cao lêu nghêu, anh đi khom mà y người ta sổng
lưng – tóm tắt tình huống trận đánh: diệt và bắt sống ba trung đội ngụy,
nhưng chưa biết phải “xử” cái đồn giữa ra sao.
- Được!
Luân nói thật gọn. Rồi anh vọt qua rào đang ngún khói. Sa muốn níu anh lại
song không kịp. Thật tình, Sa chẳng ưa gì phải nằm với Luân tận ngoài rào.
Luân đã ngồi vào cửa lô cốt – bên trong, vài chục lính ngụy tay đặt lên ót, im
re, nhìn Luân với nỗi kinh ngạc – hình như có tên cố nén cười nữa. Luân
chẳng để ý đến bọn lính, anh ngắm nghía cái miarađô nổi bật trên nền trời
trong vắt đầy sao.
- Cho tôi một khẩu VB (4)… - Luân bảo.
Người ta chuyển đến anh khẩu súng mút, mấy quả trômblông. Anh gắn quả
trômblông vào quặng ở đầu súng, giương súng ngắm miarađo, lấy cự ly.
Sa vừa theo dõi tiểu đoàn trưởng, vừa liếc đám tù binh, có vẻ như muốn nói:
các người thấy tiểu đoàn trưởng của tôi không?
- Tất cả nép kín phía trong tường!
Ra lệnh dứt, Luân bấm cò. Quả trômblông phóng lên không trung, giống cái
đuôi sao chổi. Nó rơi ngay nóc miarađo, một tiếng nổ không lớn lắm và liền
sau đó, khẩu mắc-xim câm họng.
Luân bắn thẳng quả trômblông thứ hai vào cửa đồn. Số phận đồn Biện Tạ
được kết thúc.
Một số tù binh ngụy, dù lệnh buộc phải đặt tay lên ót vẫn chồm ra ngoài nhìn
cái miarađo chìm trong ánh lửa, miệng không ngớt hít hà thán phục tài bắn
của viên chỉ huy Việt Minh mà mắt thì vẫn cười cười.
Khi quân ta hò reo xông vào đồn, Luân mới hiểu tại sao họ cười: anh trần
truồng, chiếc quần quấn cổ.
---
(1) Một loại đại liên
(2) một loại tháp canh lô cốt
(3) Bataillon Việt Nam - Tiểu đoàn Việt Nam (thuộc Liên hiệp Pháp)
(4) Một loại súng phóng lựu
Nguyễn Trương Thiên Lý
Ván Bài Lật Ngửa
P1 - Chương 2
Luân và Vũ Thượng ngồi mãi trước tấm bản đồ trải trên đệm. Sau lưng họ,
cán bộ tham mưu, chính trị, các đại đội trưởng, tất cả đều chờ đợi ý kiến của
ban chỉ huy. Chẳng là Bộ tư lệnh quyết định mở chiến dịch lớn, phối hợp với
chiến trường chính Điện Biên Phủ. Tiểu đoàn 420 được phân công thanh
toán các đồn nằm giữa Phụng Hiệp và Cái Răng. Cục diện Đông Xuân năm
nay thuận lợi hơn bất kỳ năm nào trước đây. Toàn bộ lực lượng tinh nhuệ
của Pháp co cụm về quanh các thành phố lớn, một số phải dự cuộc hành
quân Atlăng (1), một số phải tiếp ứng cho Bắc Bộ, giữ miền Tây Nam Bộ
chủ yếu là các tiểu đoàn ngụy mới thành lập. Ta có khả năng dẫy hàng mảng
đồn bót, giải phóng hằng khu vực rộng.
Đã quá giờ ăn – tu huýt thổi hai lần rồi – mà chưa ai chịu rời bản đồ.
- Trong tuyến này, tổng cộng 16 đồn và lô cốt. Nếu ta đánh bứt đồn Nhà Thờ
thì cả tuyến sẽ rã. Cho nên, tôi đề nghị trinh sát liền đồn Nhà Thờ, có thể
cường tập, có thể chặn chúng khi chúng ra khỏi đồn, có thể kỳ tập… Hóa
trang kín dưới ghe chở cá, bất thần xung phong… - Luân gợi ý các phương
án.
- Nếu kỳ tập, chính anh giành đi theo ghe, phải không?
Vũ Thượng cười. Mọi người cười theo. Sa và Quyến ngồi ở nhà bếp cũng
ngó nhau cười. Vũ Thượng đoán trúng quá.
- Thì… - Luân ấp úng. Sự bẽn lẽn của anh càng khiến mọi người cười to
hơn.
- Báo cáo, có điện khẩn.
Đồng chí cơ yếu hấp tấp bước qua sân, đứng nghiêm. Vũ Thượng nhận điện,
đọc vội rồi trao cho Luân.
- Bộ Tư lện gọi anh – Vũ Thượng bảo.
- Không phải Bộ tư lệnh. Anh Dương Quốc Chính điện, song bảo “đến chỗ
anh Sáu Ú”… tức là đến Trung ương cục…
- Chắc các anh muốn căn dặn điều gì đó… - Vũ Thượng xem lại điện.
- Cha! … - Luân tắc lưỡi – Đang triển khai mà…
- Đi một ngày một đêm là tới Bờ Đập. Làm việc xong, quay về, trinh sát
cũng chưa báo cáo kịp với anh đâu… Cứ yên trí mà đi – Vũ Thượng xếp bản
đồ nói.
- Vậy các đồng chí tham mưu chính trị ở nhà trao đổi thêm kế hoạch. Các đại
đội cho lính nghỉ ngơi lấy sức, trinh sát nắm tình hình khu vực được phân
công. Ở Cần Thơ, Sóc Trăng tụi nó còn mấy tiểu đoàn BVN vừa huấn luyện
xong, một trung đoàn Âu Phi quân số thiếu… Cho nên, các đồng chí phải
tính đến nhiều tính huống. đánh ven lộ, chú ý pháo. Cụm pháo 105 Phụng
Hiệp gần đây thêm ba khẩu 155. Các đồn đều nhận thêm cối… Đó là khí tài
của chiến tranh Triều Tiên, Mỹ viện trợ cho Pháp.
Khi các cán bộ rời sở chỉ huy, Luân than thở với Vũ Thượng:
- Tôi ngại ông Lưu Khánh rút 420 về bảo vệ Trung ương cục quá!
Vũ Thượng lắc đầu:
- Không có lý … Đang tập trung lực lượng ra phía trước mà!
- Tôi mang theo tất cả bản đồ. Biết đâu các anh lại quyết định đưa 420 lên
Long Tuyền, Nhơn Ái, hoặc xa hơn, đưa hẳn lên Long Châu Hậu (2).
Luân phấn khởi trở lại. vài phút sau anh đã ngồi xuống chiếc tam bản cà rèm.
Sa và Quyến ướm thử quai chèo. Chiếc tam bản rời bến, phóng đi…
---
(1) Pháp mở chiến dịch Atlan ở Tuy Hòa
(2) Một tỉnh cũ thời kháng chiến chống Pháp, gần phần hữu ngạn sông Hậu
của Long Xuyên và Châu Đốc
Nguyễn Trương Thiên Lý
Ván Bài Lật Ngửa
P1- Chương 3
Luân bắt tay anh Tư thật chặt. Đã hơn 8 năm Luân mới gặp lại anh Tư. So
với hồi đó, anh Tư mập hơn đôi chút, song da vẫn ủng, mắt thâm quầng và
nhất là vẫn ho khúc khắc.
Hai người hỏi thăm nhau vài câu rồi Luân xin phép được làm việc. Nhìn số
cán bộ ngồi chật nhà bên, Luân biết sáng nay, anh Tư còn tiếp có lẽ cả chục
khách nữa là ít. Trải tấm bản đồ vùng Phụng Hiệp lên bàn, Luân cầm bút chì,
chỉ vào hướng 420 sẽ tấn công.
- Thưa anh, đây là đường xe Phụng Hiệp – Cần Thơ…
- Nhưng hôm nay tôi gặp anh để bàn chuyện khác! – Anh Tư ngăn Luân.
Luân sững sờ. Anh Tư tươi cười:
- Chuyện khác quan trọng hơn chuyện giải phóng tuyến Phụng Hiệp… Anh
đọc điện này sẽ rõ.
Bức điện thượng khẩn và tuyệt mật của Trung ương Đảng.
“Quyết tâm của Trung ương diệt chủ lực địch ở Điện Biên Phủ. Các chiến
trường cần khẩn trương phối hợp. Sau thắng lợi lớn này, tình hình chính trị
có thể có đột biến”.
*
Luân gặp anh Tư lần đầu – và mãi hôm nay mới gặp lại – đúng vào lúc Nam
Bộ kháng chiến mở màn.
Dựa vào quân Anh – chiêu bài của chúng là thay mặt cho Đồng minh giải
giới quân đội Nhật ở Nam Đông Dương – Pháp cùng một lúc chiếm trụ sở
Ủy ban nhân dân Nam Bộ, Tòa đốc lý, Sở công an. Nhật ngầm tiếp tay Pháp,
vũ trang cho chúng. Tình hình nói chung là bất lợi đối với ta – vừa giành
chính quyền xong, chưa kịp tổ chức lực lượng, thiếu vũ khí.
Dưới ánh đèn dầu mờ mờ trong một căn nhà lọt giữa xóm lao động bên kia
Cầu Bông, anh Tư truyền đạt các chỉ thị khẩn cấp của Thành ủy. Luân chưa
hiểu anh Tư là ai. Dong dỏng cao, da trắng bệt, mắt trõm, thỉnh thoảng ôm
ngực nén cơn ho cơ hồ xé phổi, lại luôn cười đôn hậu, nói không văn vẻ - hơi
lộn xộn nữa – nhưng dễ hiểu, anh đã gieo ấn tượng mạnh trong Luân qua
phong thái ung dung giữa bốn hướng súng nổ rộ.
Luân là một trong những người hăng hái nhất hôm đó. Anh không để ý lắm
các phân tích tình hình của anh Tư.
- Theo tôi, cái cần nhất hiện giờ là súng. Xin cho súng. Có súng, chúng tôi tự
biết liền cách đánh!
Luân đặt vấn đề bốp chát như vậy.
Anh Tư nhìn Luân, vẫn tươi cười:
- Anh bạn! Nếu chúng ta có đủ súng thì hà tất phải ngồi đây bàn với nhau cả
buổi trời. “Cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ bẩy quả đất cho mà xem”. Hình như
câu nói đó của Acsimet (1). “Cho tôi súng, tôi sẽ rượt bọn Gra-xi(2) chạy vắt
giò lên cổ cho mà xem”. Đến lượt anh bạn, Acsimet thời nay!
Đối với Luân, cuộc nói chuyện không lấy gì làm thú vị. Tuy vậy, sau đó, anh
được phái ra Hà Nội và trở về Nam với một chuyến xe lửa đầy súng đạn. Rồi
anh quay ra Hà Nội. Lần sau, chuyến xe lửa đầy vũ khí phải dừng lại Quảng
Ngãi – đường phía trong đã bị Pháp chiếm. Thế là Luân chuyển vũ khí bằng
thuyền. Anh công tác ở Phòng liên lạc miền Nam năm 1947.
*
Là một kỹ sư vừa tốt nghiệp, Luân mang tật cao ngạo của số đông trí thức
lúc bấy giờ. Suốt thời gian học đại học, Luân ít giao du. Với anh, kiến thức
và chỉ kiến thức là cái đang thu thập. Bởi vậy, mặc dù quanh anh không khí
chính trị sôi sục, Luân vẫn cắm đầu học. Nhật đã đổ bộ vào Đông Dương,
chiến tranh thế giới và Thái Bình Dương càng lúc càng gay gắt, Luân chỉ
nghe mà không hề tỏ thái độ. Ngoài sách chuyên môn – anh theo ngành canh
nông – anh giải trí bằng truyện trinh thám, món giải trí đến với anh từ lúc
anh còn ở bậc trung học trường Chasseloup Laubat. Về thể thao, anh chơi
quần vợt – chơi khá giỏi.
Sinh trưởng trong một gia đình hội tụ gần như đủ tất cả các điều kiện để
được gọi là “thượng lưu” – trí thức, Pháp tịch, đạo Thiên chúa – Luân,
Robert Nguyễn Thành Luân, lại thích lối sống khắc khổ. Có thể anh là con
áp út – về con trai anh là út – phải ở với bà nội và học tiểu học tại tỉnh lẻ,
cho nên Luân gần gũi hơn so với các anh chị, nếp sinh hoat nông thôn.
Luân là người duy nhất trong gia đình không đỗ đạt bên Pháp. Sự lựa chọn
ngành của anh hoàn toàn là một cử chỉ hiếu đễ: bà nội anh thích trồng trọt.
Còn nói về nguyện vọng riêng, chính anh mơ ước trở thành một nhà trinh
thám tư – một ngành thực tế không có chỗ dùng ở Viêt Nam.
Cần nói thêm cho thật chính xác: anh không sang Pháp vì khi anh đậu tú tài,
đường sang Pháp bị chiến tranh làm gián đoạn.
Nhận xong bằng kỹ sư – lễ phát bằng uể oải như guồng máy chạy cầm chừng
của nhà nước Pháp ở Đông Dương. Luân về Nam. Chính trên chuyến xe lửa
chỉ thì thụt ban đêm và kéo khá dài ngày đó, Luân bắt đầu thay đổi cách suy
nghĩ.
Tình cờ một bạn học nằm chung “cút-sết”(3) với anh, anh bạn học này tên là
Quý, quê Nam Định, sinh viên ngành y, sống chung với anh nhiều năm ở
Đông Dương học xá. Bỗng một dạo, Quý bỏ học. Tin đồn đại trong bạn học:
Quý lên chiến khu, theo ông Võ Nguyên Giáp. Khi Luân ra Hà Nội, ông Võ
Nguyên Giáp không còn dạy trường Thăng Long, ngôi trường nổi tiếng ở
phố Ngõ Trạm, xong tên ông Giáp thì nghe bạn học rỉ tai, đầy thán phục.
Xe vào đến ga Đò Lèn, Quý mới có mặt trong toa. Gặp Luân, Quý hơi lúng
túng. Nghĩa là Quý mua vé đi từ Hà Nội mà không lên xe tại ga Hàng Cỏ. Có
lẽ tính toán khá lâu, sau cùng Quý nói thẳng với Luân.
Đúng như tin đồn đãi, Quý lên Tuyên Quang, dự lớp quân chính, cùng nhiều
học sinh sinh viên khác. Bây giờ. Quý vào Nam, liên lạc với Việt Minh trong
đó. Quý kể nhiều chuyện chiến khu, Luân thích nghe đến nỗi, khi xe đỗ lại
tránh máy bay ban ngày – thường giữa vùng rừng núi quạnh quẽ - anh cũng
không rời Quý một bước.
Tới Sài Gòn, Luân trình diện tại Sở canh nông. Giám đốc sở vẫn là người
Pháp. Lão Tây thất thế rầu rầu nhìn Luân. Ngồi dưới ảnh Quốc trưởng Pétain
mà có vẻ lão vểnh tai ngóng tiếng nói của De Gaulle. Còn phó giám đốc đã
là một người Việt. Ông ta đỗ bằng kỹ sư nông học bên Pháp – từ thuở kỹ sư
nông học còn gọi là Bác vật canh nông – làm phó giám đốc vì đại sứ Nhật
muốn như vậy. Thực ra, ông ta chưa hề biết đồng ruộng Việt Nam ra sao.
Gặp Luân, ông ta không nói gì về trồng trọt mà thao thao hằng mấy giờ liền
về thuyết “Đại Đông Á”, về đề quốc hùng cường Đại Nippon dẫn đạo các
dân tộc da vàng. Phó giám đốc ân cần mời mọc Luân viết báo Tân Á (4).
Cuộc tháo chạy khỏi Phi Luật Tân, Miến Điện, Nam Dương của quân
Nhật… được ông giải thích như là hoàn toàn “mưu mẹo”, y hệt ông ta là
hãng Domei (5). Ông ta hé cho Luân biết chẳng bao lâu nữa, Trần Trọng
Kim sẽ lập chính phủ - chính phủ Việt Nam độc lập – và ông ta sẽ giữ một
ghế bộ trưởng…
Luân chỉ đến sở một lần đó. Anh đi hẳn với Quý. Hai người lội tới lội lui
vùng rừng Trị An. Quý đã liên lạc được với Kỳ bộ Việt Minh. Luân giúp
Quý tìm vũ khí. Rất khó, song họ cũng mua được vài khẩu súng lửa.
Người anh thứ năm của Luân là luật gia Jean Nguyễn Thành Luân. Vợ của
Jean cũng là một tiến sĩ Luật, thuộc giọng họ lớn ở Bạc Liêu: dòng họ Trần.
Cả hai liên hệ với nhóm trí thức yêu nước và thiên tả lúc bấy giờ: Phạm
Ngọc Thạch, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Văn Thủ…
Jean nhiều lần khuyên Robert tiếp xúc với các trí thức đó – họ làm việc dưới
sự lãnh đạo của các đảng viên Cộng sản đệ tam. Robert từ chối. Jean lo ngại
vì trong trí thức Sài Gòn còn các nhóm khác mà khuynh hướng khá phức
tạp: nhóm Tạ Thu Thâu, nhóm Hồ Vĩnh Ký, nhóm Nguyễn Văn Thinh,
nhóm Hồ Văn Ngà – kẻ thì của đệ tứ Trôtkit, kẻ thì của phòng nhì Pháp, kẻ
thì thân Nhật. Jean chỉ hết lo ngại khi bắt gặp Robert đọc “Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản”, với vô số gạch dưới bằng bút chì đỏ.
*
Rồi Luân cũng hiểu được anh Tư là ai. Có lẽ trừ gốc đạo Thiên chúa, anh Tư
giống Luân về nhiều mặt, thậm chí còn trội hơn nữa. Dân Tây – anh Tư tên
là François, vứt bỏ cái một quốc tịch Pháp lẫn vị trí cai trị đầu sỏ, đi dạy học
kiếm cơm như những thầy giáo “Annamit” chỉ có bằng sơ học, viết báo
chống lại chính quyền Pháp, vào tù ra khám. Là ủy viên ủy ban quân sự khởi
nghĩa Nam kỳ năm 1940, anh Tư bị truy nã, bị bắt, bị tra tấn và bị kết án tử
hình. Nếu không phải là công dân Pháp và nếu không có chiến tranh – đường
liên lạc từ Đông Dương về Pháp nghẽn, bản án của tòa đại hình Sài Gòn
không được Giám quốc(6) Pháp thông qua, đây là luật lệ dành cho các bản
án đối với công dân Pháp – thì anh Tư bị điệu ra trường bắn từ lâu rồi.
Luân tìm thấy nhiều điều ly kỳ trong việc anh Tư vượt ngục: một ngày tháng
3 năm 1945, buổi sáng, còi báo động. Trong “xen-luyn”(7) tử hình, anh Tư
chỉ biết cuộc oanh tạc của Anh – Mỹ khi chỗ nằm anh bỗng rung rinh dữ dội
cùng với một tiếng nổ điếc tai. Anh không trông thấy gì cả. Khói trùm kín
khu khám lớn, cửa “xen-luyn” của anh đổ kềnh. Lập tức, anh Tư trút bỏ quần
áo tù,mặc độc chiếc quần xà lỏn, vụt nhảy khỏi khám. Anh lao đến đúng nơi
bom rơi sạt bức tường cao vọi và chỉ một cái lách mình, anh đã ở ngoài
đường Lagrandiere. Hai hôm sau, thân thể còn da bọc xương, phổi nhức
nhối, anh Tư chủ trì cuộc họp cán bộ với cương vị bí thư Thành ủy vừa được
chỉ định.
Và hôm nay, men con rạch Bờ Đập êm ả, Luân lắng nghe anh Tư không để
sót một chi tiết. Luân định nhắc lại để xin lỗi chuyện hơn 8 năm trước. Song
anh thôi. Chưa chắc một người như anh Tư còn có thể nhớ những thứ ấy.
Luân biết rằng anh Tư đang là Ủy viên Trung ương Đảng, Thường vụ Trung
ương Cục. Luân còn biết thêm: vài ngày nữa anh Tư sẽ nhận nhiệm vụ Bí
thư Đặc ủy khu Sài Gòn – Gia Định, một chiến trường sôi động trong buổi
tiếp giáp chiến tranh và hòa bình…
---
(1) Archimède, nhà thông thái thời cổ đại (287 - 212 trước công nguyên)
(2) Gracey, tư lệnh quân đội Anh.
(3) Couchette: toa có giường ngủ.
(4) Tờ báo thân Nhật.
(5) Hãng thông tấn chính thức của Nhật.
(6) tương tự như chức Tổng thống ngày nay.
(7) Cellule: khám nhỏ nhốt trọng phạm.
Nguyễn Trương Thiên Lý
Ván Bài Lật Ngửa
P1 - Chương 4
- Anh còn giữ mấy bức thư của Ngô Đình Thục không?
Câu chuyện bỗng nhiên trầm trầm. Luân tiếp nhận quyết định của Đảng với
một thái độ rõ ràng là miễn cưỡng. Các trận đánh sắp tới quanh Cần Thơ
hoặc phía bắc lộ Cái Sắn vẫn ám ảnh anh. Từ lúc rời cơ quan mật vụ Nam
Bộ, trực tiếp cầm quân ở cấp tiểu đoàn, Luân dự hàng trăm trận đánh, song
không phải lúc nào anh cũng thắng. Các đơn vị của Pháp từng cho anh nếm
mùi đau khổ, khi ở Vĩnh Trà Bến (1), khi ở Long Châu Hà, khi ở Rạch Giá.
Cho nên, Luân đã dành tất cả thời gian học tập nghiên cứu, điều tra các loại
thực địa khác nhau, các đối tượng địch khác nhau, quyết tâm trở thành một
cán bộ quân sự chuyên nghiệp. Từ 1951, tiểu đoàn 420 – với sự bổ sung
chính trị viên Vũ Thượng, một cán bộ xuất thân từ thợ máy hải quân Pháp –
đã trưởng thành hẳn. Chiến công của tiểu đoàn trở nên niềm hãnh diện của
toàn Phân liên khu. Bên cạnh các tiểu đoàn 307, 308, 311… lẫy lừng, người
ta bắt đầu kể thêm 420. Trước Đông Xuân 1953-1954, tiểu đoàn 420 làm
nhiệm vụ cơ động trên một địa bàn rộng lớn. Luân được đề bạt trung đoàn
phó. Tình hình dường như sửa soạn cho tiểu đoàn tung hoành. Bài hát của
nhạc sĩ Quách Vũ có câu “ta thắng như chẻ tre, ta thắng như nước tràn” mấy
năm trước bị phê bình là “lạc quan tếu” nay có vẻ không xa sự thật là bao
nhiêu. Giữa tình thế “trăm năm có một” như vậy, cấp trên lại bàn với anh
cung cách hoạt động lâu dài trong lòng địch!
- Còn giữ… nhưng tôi không mang theo đây. Mang theo làm gì cái thứ…
Luân trả lời anh Tư, giọng vừa buồn vừa bực.
- Ý! – anh Tư cười đôn hậu – Cái thứ đó quí lắm đa. Anh còn nhớ mỗi thư
nói cái gì không?
Luân chỉ nhớ mang máng.
- Anh cứ tiếp tục công việc đang làm. Tất nhiên, anh phải để ít ra là một nửa
thì giờ cho công việc sắp tới. Văn phòng chuẩn bị sẵn cho anh khá nhiều tài
liệu, gồm báo cáo, báo chí, sách… Sở công an, phòng quân báo Bộ tư lệnh
sẽ cung cấp cho anh các mặt tình hình. Điều anh cần giữ kỹ như nguyên tắc
là không tiết lộ với bất kỳ ai nhiệm vụ mới của anh.
Anh Tư dặn dò thêm Luân trước khi Luân vùi đầu vào đống tài liệu trong
gian nhà bên cạnh nơi làm việc của anh Tư.
Không rõ ai đó vô tình hay cố ý đặt lên bàn tờ Nhân dân miền Nam số mới
nhất. Luân đọc ngấu nghiến bài ký tên Trung Thành mà Luân biết là bút
danh của anh Sáu Thọ, ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Trung ương
Cục: “…Quân địch đang bị động, đối phó với ta ở đồng bằng Bắc Bộ, Điện
Biên Phủ và Trung Lào, chúng phải rút gần hết lực lượng ứng chiến tinh
nhuệ ở chiến trường Nam Bộ ra các nơi đó, nên ở chiến trường Nam Bộ
quân địch đang hoạt động yếu hơn trước và có rất nhiều sơ hở, tinh thần binh
lính ngụy lại càng hoang mang dao động trước những chiến thắng của ta…”
*
Cái cớ mà giám mục địa phận Vĩnh Long Ngô Đình Thục viết bức thư đầu
tiên cho Robert Nguyễn Thành Luân khá bình thường. Năm đó, năm 1952,
kỹ sư điện René Nguyễn Thành Luân qua đời ở Paris – cả Jean và Robert
đều không làm sao dự lễ tiễn đưa cha đến nơi yên nghỉ cuối cùng được.
Ngay cái tin ông René Nguyễn Thành Luân mất, hai anh em đều không hay,
trước khi Robert nhận được thư của giám mục.
Giám mục địa phận gửi thư chia buồn với người con của một tín đồ - và bản
thân người con cũng là một tín đồ - không phải là việc gì cần bàn cãi. Hơn
nữa, không ai không biết ông René Nguyễn Thành Luân có mối giao hảo cá
nhân rất thân mật với người chủ chăn giáo phận – một trong những giám
mục người Việt Nam ít ỏi lúc bấy giờ.
Năm Luân vào ban tú tài cũng là năm Ngô Đình Thục được phong giám
mục. Ông René đưa con đến chào vị giám mục địa phận – niềm tự hào của
người sùng đạo như ông. Và, giám mục đã ban phép cho Luân. Từ đó cho
đến khi rời thành phố vào chiến khu, Luân vẫn thường gặp giám mục – nhất
là dịp nghỉ hè.
“Cha đau buồn vô hạn khi được tin chẳng lành của người bạn thân, cụ kỹ sư
René Nguyễn Thành Luân, vừa từ trần, an táng tại nghĩa trang Père-laChaise. Cha đã cầu nguyện cho cụ và mong con cũng cầu nguyện cho người
cha thân yêu của mình về nước Chúa…”
Bức thư vắn tắt như vậy thôi.
Bức thư thứ hai, nhiều ý hơn, đến vào tháng 7 năm 1953.
“Cha mừng con được an khang trong Chúa. Cha mong mỏi một ngày gần
nhất được gặp con, vừa để thăm lại đứa con của giáo phận ra đi đã 8 năm,
vừa han hỏi đứa con của người bạn mà cha lúc nào cũng quý mến. Con có
thể cho một cái hẹn không? Cha đảm bảo tất cả an toàn và cha tin là con
không hề có một chút nghi ngờ”.
Liên trung đoàn trưởng 120 – cũng là một tín đồ đạo Thiên chúa – nói lại với
Luân, ông ta cũng nhận một bức thư tương tự, dĩ nhiên hình thức là chuyện
nhớ mong… vì Liên trung đoàn trưởng thuộc một gia đình đạo không phải
toàn tòng. Thư của giám mục gửi cho con chiên kháng chiến tương ứng với
diễn biến ở chiến trường: năm 1953, thực dân Pháp đang hấp hối.
Hai tháng sau, tháng 9 năm 1953, Luân nhận được bức thư thứ ba:
“Cuộc chém giết ngoài ý Chúa đã kéo khá dài. Như các đấng bề trên và Đức
Thánh Cha hằng lo lắng, cha đêm ngày cầu mong sao máu ngừng đổ. Con là
một chỉ huy, cha mong con đóng góp vào một cuộc bãi binh mà mỗi bên đều
giữ được danh dự. Cha nóng lòng được gặp con đặng cha con ta bàn thảo
xem con có thể làm được điều gì trong phận sự mà con gánh vác ngoài đời,
chu toàn đặng trách nhiệm của một dân Chúa. Ông Savany, con biết danh
tiếng của ông, sẵn sàng tạo mọi phương tiện cho con gặp cha”.
Savany là trung tá, phụ trách phòng nhì Pháp ở đồng bằng sông Cửu Long.
Và bức thư mới nhất trước trận tiểu đoàn 420 hạ đồn Biện Tạ.
“Thời cuộc xoay chuyển thiệt là mau lẹ. Theo những gì mà cha nắm được,
trong một ngày không xa, ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước chấp chính. Cha
hy vọng con hiểu rõ tầm quan trọng đặc biệt của sự thay đổi nầy. Là một
người tín ngưỡng Chúa, lại theo chủ nghĩa quốc gia, có mối giao thiệp thân
tình với gia đình họ Ngô Đình, con cần suy tính thật kỹ và nên dứt khoát
trước khi quá muộn. Sắp tới, không phải người Pháp mà là người Mỹ sát
cánh với chúng ta. Con nên nhớ, nước Mỹ là nước đã ném bom nguyên tử
xuống nước Nhật. Đức hồng y Spellman thường thư từ với cha. Đó là một
đấng bề trên hiểu biết và rộng lượng…”
Thư của giám mục gởi cho Luân vào lúc Mỹ gần như gánh trọn toàn bộ ngân
sách chiến tranh Đông Dương – ngày 30-7-1953 quốc hội Hoa Kỳ chấp
thuận viện trợ quân sự cho Đông Dương tài khóa 1953-1854 là 400 triệu Mỹ
kim; ngày 2-9-1953 chính phủ Hoa Kỳ lại quyết định bổ sung thêm 385 triệu
đô la nữa. Sự viện trợ dồn dập như thế nhằm yểm trợ cho “kế hoạch
Navarre” mà một trong những điều then chốt là “giao cho phía Việt Nam
những phần trách nhiệm nặng nề hơn”. Bức thư cũng liên quan tới lời tuyên
bố úp mở của thủ tướng Pháp Laniel ngày 12-11-1953: “Chính phủ Pháp
nghĩ rằng vấn đề Đông Dương không nhất thiết phải có giải pháp quân sự.
Pháp không đòi hỏi đối phương phải đầu hàng không điều kiện. Pháp mong
muốn có cuộc điều đình”.
*
Cuộc hành quân Castor mở màn, với sáu tiểu đoàn Âu Phi nhảy dù chiến
đóng Điện Biên Phủ. Đây là một canh bạc Pháp dốc túi, không chỉ để giảm
đến mức có thể giảm sự thua thiệt trước các dân tộc Đông Dương mà còn
hòn...
 





